Luận án Nghiên cứu ứng dụng tro bay làm chất độn gia cường cho vật liệu cao su và cao su blend

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM  
VIỆN HOÁ HỌC  
LƢƠNG NHƢ HẢI  
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRO BAY LÀM CHẤT ĐỘN  
GIA CƢỜNG CHO VẬT LIỆU CAO SU VÀ CAO SU BLEND  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC  
Hà Nội - 2015  
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM  
VIỆN HOÁ HỌC  
LƢƠNG NHƢ HẢI  
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRO BAY LÀM CHẤT ĐỘN  
GIA CƢỜNG CHO VẬT LIỆU CAO SU VÀ CAO SU BLEND  
Chuyên ngành: Hóa Hữu cơ  
Mã số: 62.44.27.01  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
1. PGS. TS. Đỗ Quang Kháng  
2. PGS. TS. Ngô Kế Thế  
Hà Nội - 2015  
2
MỞ ĐẦU  
Tro bay (fly ash - FA) là những hạt tro rất nhỏ bị cuốn theo khí từ ống  
khói của các nhà máy nhiệt điện do đốt nhiên liệu than. Loại phế thải này nếu  
không được thu gom, tận dụng sẽ không chỉ là một sự lãng phí lớn mà còn là  
một hiểm họa đối với môi trường-nhất là trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ  
của các ngành công nghiệp hiện nay. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, xử lý, tận  
dụng tro bay trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật đã và đang được các nhà  
khoa học, công nghệ trong và ngoài nước quan tâm đặc biệt.  
Tro bay có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kỹ  
thuật, các ứng dụng của tro bay được chia thành ba nhóm: ứng dụng công  
nghệ thấp, ứng dụng công nghệ trung bình và ứng dụng công nghệ cao. Các  
ứng dụng công nghệ thấp như sử dụng tro bay trong san lấp, làm đê kè, vỉa hè  
và nền đường, ổn định lớp móng, cải tạo đất,... Các ứng dụng công nghệ trung  
bình như sử dụng tro bay trong xi măng, cốt liệu nhẹ, các loại bê tông đúc  
sẵn/bê tông đầm lăn, gạch, đá ốp lát,… Các ứng dụng công nghệ cao liên  
quan đến việc sử dụng tro bay làm nguyên liệu để thu hồi kim loại, chất độn  
cho compozit nền kim loại, compozit nền polyme và làm chất độn cho một số  
ứng dụng khác.  
Tro bay có thành phần hóa học chính là SiO2 cùng với những ưu điểm  
như tỷ trọng thấp, tính chất cơ học cao, bền nhiệt, chống co ngót kích thước,...  
tro bay có thể là chất độn gia cường có hiệu quả cho các vật liệu cao su và  
chất dẻo. Tro bay có thể thay thế các chất độn gia cường truyền thống như  
canxi cacbonat, oxit silic,… hoặc phối hợp với than đen trong hợp phần cao  
su. Việc sử dụng tro bay làm chất chất độn gia cường cho cao su góp phần  
giảm giá thành sản phẩm (vì tro bay có giá rất thấp) mà vẫn đảm bảo được  
tính chất của vật liệu. Tuy nhiên để tăng khả năng tương tác của tro bay với  
cao su, người ta thường phải xử lý, biến tính bề mặt tro bay. Trong trường  
hợp này, đối với từng polyme hay cao su được gia cường cần phải lựa chọn  
hợp chất silan cho phù hợp để thực hiện quá trình biến tính bề mặt tro bay.  
3
Ở nước ta những công trình nghiên cứu nào sử dụng tro bay trong lĩnh  
vực cao su hầu như chưa được quan tâm. Trong khi đó, Việt Nam là một  
trong những nước sản xuất chế biến cao su thiên nhiên (CSTN) lớn trên thế  
giới. Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng tro bay làm chất độn gia  
cường cho vật liệu cao su và cao su blend” được chọn làm chủ đề cho luận án  
tiến sỹ của mình.  
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là “Đánh giá được khả năng gia cường  
của tro bay Phả Lại tới tính chất của vật liệu cao su thiên nhiên (CSTN) và  
blend của chúng để từ đó định hướng cho việc ứng dụng tro bay trong ngành  
công nghiệp gia công cao su”. Để thực hiện mục tiêu trên, luận án đã thực  
hiện các nội dung nghiên cứu chủ yếu sau:  
- Nghiên cứu xử lý bề mặt tro bay bằng các hợp chất silan khác nhau,  
- Nghiên cứu khả năng gia cường của tro bay (không và đã biến tính)  
cho cao su thiên nhiên,  
- Nghiên cứu khả năng gia cường của tro bay (không và đã biến tính)  
cho một số cao su blend trên cơ sở CSTN,  
- Nghiên cứu ứng dụng vật liệu cao su gia cường tro bay để chế tạo sản  
phẩm ứng dụng trong thực tế.  
4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN  
1.1. Khái niệm và phân loại tro bay  
Trong các nhà máy nhiệt điện, sau quá trình đốt cháy nhiên liệu than đá  
phần phế thải rắn tồn tại dưới hai dạng: phần xỉ thu được từ đáy lò và phần tro  
gồm các hạt rất mịn bay theo các khí ống khói được thu hồi bằng các hệ thống  
thu gom của các nhà máy nhiệt điện.  
Trước đây ở châu Âu cũng như ở Vương quốc Anh phần tro này thường  
được cho là tro của nhiên liệu đốt đã được nghiền mịn [1]. Nhưng ở Mỹ, loại  
tro này được gọi là tro bay bởi vì nó thoát ra cùng với khí ống khói và “bay”  
vào trong không khí. Và thuật ngữ tro bay (fly ash) được dùng phổ biến trên  
thế giới hiện nay để chỉ phần thải rắn thoát ra cùng các khí ống khói ở các nhà  
máy nhiệt điện.  
Ở một số nước, tùy vào mục đích sử dụng mà người ta phân loại tro bay  
theo các loại khác nhau. Theo tiêu chuẩn DBJ08-230-98 của thành phố Thượng  
Hải, Trung Quốc, tro bay được phân làm hai loại [2] là tro bay có hàm lượng  
canxi thấp và tro bay có hàm lượng canxi cao. Tro bay có chứa hàm lượng  
canxi 8% hoặc cao hơn (hoặc CaO tự do trên 1%) là loại tro bay có hàm lượng  
canxi cao. Do đó, CaO trong tro bay hoặc CaO tự do được sử dụng để phân biệt  
tro bay có hàm lượng canxi cao với tro bay hàm lượng canxi thấp. Theo cách  
phân biệt này thì tro bay có hàm lượng canxi cao có màu hơi vàng trong khi đó  
tro bay có hàm lượng canxi thấp có màu hơi xám.  
Theo cách phân loại của Canada, tro bay được chia làm ba loại [3]:  
Loại F:  
Loại CI:  
Loại C:  
Hàm lượng CaO ít hơn 8%  
Hàm lượng CaO lớn hơn 8% nhưng ít hơn 20%  
Hàm lượng CaO lớn hơn 20%  
Trên thế giới hiện nay, thường phân loại tro bay theo tiêu chuẩn ASTM  
C618. Theo cách phân loại này thì phụ thuộc vào thành phần các hợp chất mà  
tro bay được phân làm hai loại là loại C và loại F [4].  
5
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn tro bay theo ASTM C618  
Các yêu cầu theo tiêu chuẩn Đơn Lớn nhất Nhóm Nhóm  
ASTM C618  
vị  
/nhỏ nhất  
F
C
Yêu cầu hóa học  
SiO2 + Al2O3 + Fe2O3  
SO3  
%
%
%
%
nhỏ nhất  
lớn nhất  
lớn nhất  
lớn nhất  
70  
5
50  
5
Hàm lượng ẩm  
3
3
Hàm lượng mất khi nung  
Yêu cầu hóa học không bắt buộc  
Chất kiềm  
5
5
%
1,5  
1,5  
Yêu cầu vật lý  
Độ mịn (+325)  
%
lớn nhất  
nhỏ nhất  
34  
75  
34  
75  
Hoạt tính pozzolanic so với xi măng (7 %  
ngày)  
Hoạt tính pozzolanic so với xi măng  
%
nhỏ nhất  
75  
75  
(28 ngày)  
Lượng nước yêu cầu  
Độ nở trong nồi hấp  
%
%
%
%
lớn nhất  
lớn nhất  
lớn nhất  
lớn nhất  
105  
0,8  
5
105  
0,8  
5
Yêu cầu độ đồng đều về tỷ trọng  
Yêu cầu độ đồng đều về độ mịn  
5
5
Phân loại theo tiêu chuẩn ASTM:  
Tro bay là loại F nếu tổng hàm lượng (SiO2 + Al2O3 + Fe2O3) lớn hơn 70%.  
Tro bay là loại C nếu tổng hàm lượng (SiO2 + Al2O3 + Fe2O3) nhỏ hơn 70%.  
1.2. Các đặc trƣng của tro bay  
1.2.1. Thành phần hóa học trong tro bay  
Tro của các nhà máy nhiệt điện gồm chủ yếu các sản phẩm tạo thành từ  
quá trình phân hủy và biến đổi của các chất khoáng có trong than đá [5].  
Thông thường, tro ở đáy lò chiếm khoảng 25% và tro bay chiếm khoảng 75%  
tổng lượng tro thải ra. Hầu hết các loại tro bay đều là các hợp chất silicat bao  
gồm các oxit kim loại như SiO2, Al2O3, Fe2O3, TiO2, MgO, CaO,… với hàm  
lượng than chưa cháy chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng hàm lượng tro,  
ngoài ra còn có một số kim loại nặng như Cd, Ba, Pb, Cu, Zn,... Thành phần  
hóa học của tro bay phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu than đá sử dụng để đốt  
6
và điều kiện đốt cháy trong các nhà máy nhiệt điện.  
Bảng 1.2: Thành phần hóa học của tro bay theo vùng miền [6]  
Thành  
Khoảng (% khối lượng)  
phần  
Châu Âu  
Mỹ  
Trung Quốc  
35,6-57,2  
18,8-55,0  
2,3-19,3  
1,1-7,0  
0,7-4,8  
0,6-1,3  
0,8-0,9  
1,1-1,5  
0,2-0,7  
-
Ấn Độ  
Australia  
50,2-59,7 48,8-66,0  
14,0-32,4 17,0-27,8  
SiO2  
Al2O3  
Fe2O3  
CaO  
28,5-59,7 37,8-58,5  
12,5-35,6 19,1-28,6  
2,6-21,2  
0,5-28,9  
0,6-3,8  
6,8-25,5  
1,4-22,4  
0,7-4,8  
0,3-1,8  
0,9-2,6  
0,1-0,3  
1,1-1,6  
-
2,7-14,4  
0,6-2,6  
0,1-2,1  
0,5-1,2  
0,8-4,7  
0,1-0,6  
1,0-2,7  
0,5-1,4  
-
1,1-13,9  
2,9-5,3  
0,3-2,0  
0,2-1,3  
1,1-2,9  
0,2-3,9  
1,3-3,7  
-
MgO  
Na2O  
K2O  
0,1-1,9  
0,4-4,0  
P2O5  
TiO2  
MnO  
SO3  
0,1-1,7  
0,5-2,6  
0,03-0,2  
0,1–12,7  
0,8–32,8  
0,1–2,1  
0,2–11,0  
1,0–2,9  
-
0,1–0,6  
-
MKN  
0,5-5,0  
Tùy thuộc vào loại nhiên liệu mà thành phần hóa học trong tro bay thu được  
khác nhau. Các nhà khoa học Ba Lan tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học  
của tro bay với hai nguồn nguyên liệu sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện của  
nước này là than nâu và than đen [7]:  
Bảng 1.3: Thành phần hóa học tro bay ở Ba Lan  
từ các nguồn nguyên liệu khác nhau  
Thành phần (%)  
Loại tro  
bay  
SiO2 Al2O3 Fe2O3 TiO2 MgO CaO  
Than đen  
ZS-14  
54,1  
41,3  
28,5  
24,1  
5,5  
7,1  
1,1  
1,0  
1,9  
2,0  
1,8  
2,7  
ZS-17  
Than nâu  
ZS-13  
27,4  
47,3  
6,6  
3,8  
7,7  
1,0  
1,6  
8,2 34,5  
1,9 1,7  
ZS-16  
31,4  
Kết quả trên cho thấy, thành phần của các loại tro bay có được sau quá  
7
trình đốt cháy than đen (ZS-14 và ZS-17) và mẫu tro bay có được sau quá  
trình đốt cháy than nâu (ZS-16) là các nhôm silicat. Còn mẫu tro bay có được  
sau quá trình đốt cháy than nâu (ZS-13) là loại canxi silicat.  
Các thí nghiệm khảo sát thành phần hóa học trong các mẫu tro bay ở các  
nước khác cũng đã được tiến hành và thu được các kết quả tương tự. Đa số  
các mẫu tro bay ở Trung Quốc có thành phần chủ yếu là SiO2 và Al2O3, hàm  
lượng của chúng vào khoảng 650 g/kg đến 850 g/kg. Các thành phần khác bao  
gồm lượng than chưa cháy, Fe2O3, MgO và CaO. Tro bay Trung Quốc chứa  
hàm lượng than chưa cháy cao là do hệ thống lò đốt ở các nhà máy nhiệt điện  
ở Trung Quốc. Theo tiêu chuẩn phân loại ASTM C 618 thì tro bay Trung  
Quốc thuộc loại C hay tro bay có chất lượng thấp. Điều này ảnh hưởng lớn  
đến các ứng dụng của tro bay ở Trung Quốc [8].  
* Các nguyên tố vi lượng trong tro bay  
Quá trình đốt cháy than đá là một trong những nguyên nhân chính làm ô  
nhiễm không khí và phát tán các kim loại các nguyên tố vi lượng độc hại.  
Hiểu được sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng trong quá trình đốt than đá  
cũng như hàm lượng của nó có trong tro bay tạo thành là điều rất quan trọng  
trong vấn đề đánh giá tác động môi trường của các nhà máy nhiệt điện cũng  
như các ứng dụng tro bay. Hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong tro bay  
phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng của chúng có trong nguyên liệu ban đầu.  
Dựa trên kết quả nghiên cứu các mẫu tro bay thu được từ 7 nhà máy  
nhiệt điện khác nhau ở Canada [5], các nhà nghiên cứu nước này đã cho biết  
hàm lượng của các kim loại nặng như As, Cd, Hg, Mo, Ni hay Pb trong tro  
bay có liên quan với hàm lượng lưu huỳnh có trong nguyên liệu than đá ban  
đầu. Thông thường, các loại than đá có hàm lượng lưu huỳnh cao sẽ có hàm  
lượng các nguyên tố này cao. Tro bay ở Canada được thu hồi bằng phương  
pháp kết lắng tĩnh điện hoặc phương pháp lọc túi. Kết quả cho thấy hàm  
lượng các nguyên tố trên trong các loại tro bay thu được từ phương pháp lọc  
túi cao hơn so với các mẫu tro bay thu được bằng phương pháp kết lắng tĩnh  
điện trong cùng một nhà máy.  
8
1.2.2. Cấu trúc hình thái của tro bay  
Hầu hết các hạt tro bay đều có dạng hình cầu với các kích thước hạt khác  
nhau, các hạt có kích thước lớn thường ở dạng bọc và có hình dạng rất khác  
nhau [9]. Các hạt tro bay được chia ra làm hai dạng: dạng đặc và dạng rỗng.  
Thông thường, các hạt tro bay hình cầu, rắn được gọi là các hạt đặc và các hạt  
tro bay hình cầu mà bên trong rỗng có tỷ trọng thấp hơn 1,0 g/cm3 được gọi là  
các hạt rỗng. Một trong các dạng thường thấy ở tro bay thường được tạo nên  
bởi các hợp chất có dạng tinh thể như thạch anh, mulit và hematit, các hợp  
chất có dạng thủy tinh như thủy tinh oxit silic và các oxit khác.  
Hình 1.2: Biểu diễn đặc trưng dạng  
cầu của các hạt trong khoảng kích  
thước thường thấy nhiều hơn  
Hình 1.1: Sự tương phản về kích thước  
giữa các hạt tro bay hình cầu lớn và  
các hạt nhỏ  
Các hạt tro bay đặc có khối lượng riêng trong khoảng 2,0 - 2,5 g/cm3 có  
thể cải thiện các tính chất khác nhau của vật liệu nền như độ cứng và độ bền xé.  
Các hạt tro bay rỗng có thể được sử dụng trong tổng hợp vật liệu compozit siêu  
nhẹ do khối lượng riêng rất nhỏ của chúng, chỉ khoảng 0,4-0,7 g/cm3, trong khi  
các chất nền kim loại khác có khối lượng riêng trong khoảng từ 1,6-11,0 g/cm3.  
Cả hai loại hạt này thường thấy có lớp vỏ không hoàn chỉnh (bị rỗ).  
* Cấu trúc bên trong:  
Các hạt bên trong có thể được thấy bởi các quan sát đơn giản. Cấu trúc  
này bị che lấp bởi lớp vỏ thủy tinh, vì thế nó có thể được quan sát khi được xử  
lý với dung dịch HF, dung dịch này có thể hòa tan nhanh chóng phần thủy  
tinh và để lộ ra lớp vỏ bên trong.  
9
Hình 1.3 biểu diễn hai hạt tro bay cạnh nhau sau khi tiếp xúc ngắn (1/2  
giờ) với dung dịch axit hydrofloric 1%, hai cấu trúc bên trong rất khác nhau  
đã được lộ ra. Các hạt bên trái là các hạt có từ tính giàu sắt, và vật liệu có cấu  
trúc tinh thể bên có dạng hình cây được nghiên cứu bởi nhóm Biggs và  
Brunsnel. Tất cả chúng đều có hình lập phương và được hy vọng hoàn toàn  
không có các phản ứng hóa học trong bê tông.  
Hình 1.3: Cấu trúc hạt tro bay sau khi Hình 1.4: Cấu trúc tro bay tiếp xúc với  
tiếp xúc ngắn với dung dịch HF  
dung dịch HF trong thời gian dài  
Các hạt ở bên phải hình 1.3 chứa một cấu trúc đặc trưng của các hạt  
mullit có dạng thanh mỏng hay dạng hình kim, Al2O3.2SiO2 tìm thấy trong  
hầu hết các hạt không có từ tính của các hạt tro bay có hàm lượng canxi thấp  
điển hình.  
Sự vô cùng hỗn tạp của các hạt tro bay và cấu trúc được nhận thấy, bao  
gồm các hạt khác nhau trong cùng loại tro bay được thể hiện trong hình 1.4.  
Mẫu tro bay này được tiếp xúc nhẹ trong thời gian lâu hơn với quá trình xử lý  
bằng axit hydrofloric trong thời gian 1 giờ. Phần thủy tinh trong các hạt ở vùng  
giữa và trong của một số hạt khác được phân bố xung quanh phần đã bị hòa tan  
ở mức độ lớn.  
1.2.3. Phân bố kích thước hạt trong tro bay  
Kích thước hạt tro bay là một yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng  
ứng dụng của nó. Mỗi loại tro bay tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu, điều kiện  
đốt và phương pháp thu hồi mà có sự phân bố kích thước hạt trong tro bay  
10  
khác nhau. Tro bay có kích thước hạt nằm trong khoảng 10-350 m, phân  
đoạn có đường kính hạt nhỏ hơn 45 m chiếm tỷ trọng lớn.  
Bảng 1.4: Phân bố kích thước hạt các phân đoạn tro bay Israel [10]  
Nguồn nguyên liệu  
Phân đoạn  
Kích thước  
(μm)  
Nam Phi Colombia  
(mesh)  
(%)  
(%)  
< 100  
100–200  
200–325  
> 325  
> 150  
150–75  
75–45  
< 45  
1,9  
4,5  
8,2  
10,0  
9,2  
10,6  
79,2  
76,3  
Tùy thuộc vào mục đích và nhu cầu sử dụng mà có thể tách các phân  
đoạn kích thước khác nhau. Hai loại tro bay thương phẩm của Công ty Boud  
Minerals & Polymers (Anh Quốc) sử dụng làm chất gia cường cho chất dẻo  
có kích thước hạt thể hiện trên bảng 1.5.  
Bảng 1.5: Kích thước hạt tro bay thương phẩm  
Thông số  
Đơn vị Plasfill 5 Plasfill 15  
D50  
D99  
D90  
3,8  
19,5  
8,5  
11,5  
110  
52  
m  
m  
m  
g/cm3  
Tỷ trọng  
Mầu sắc  
2,15  
2,25  
Ghi sáng Ghi sáng  
1.3. Sản lƣợng tro bay và tình hình sử dụng tro bay trên thế giới  
1.3.1. Sản lượng tro bay trong và ngoài nước  
Nhu cầu tiêu thụ điện năng trên thế giới không ngừng tăng lên theo tốc  
độ phát triển của nền kinh tế xã hội. Các nguồn cung cấp điện năng mới hiện  
nay đang phát triển nhanh chóng phải kể đến như năng lượng mặt trời, năng  
lượng gió, năng lượng thủy triều,… Tuy có nhiều ưu điểm và được khuyến  
khích sử dụng nhưng các nguồn cung cấp điện năng này hiện nay mới chỉ đáp  
ứng được một lượng rất nhỏ nhu cầu điện năng toàn cầu và chỉ tập trung ở  
một vài nước phát triển. Nguồn cung cấp điện năng chủ yếu vẫn dựa trên các  
11  
nguồn truyền thống và không ngừng phát triển hàng năm. Trong đó các nhà  
máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch chiếm một tỷ trọng lớn.  
Hình 1.5: Biểu đồ sản lượng tro bay và  
phần trăm sử dụng tro bay ở Mỹ từ 1966-2012  
Mỹ là một trong các quốc gia tiêu thụ điện năng hàng đầu thế giới và  
cũng là nước có sản lượng các sản phẩm từ quá trình đốt cháy than đá trong  
các nhà máy nhiệt điện lớn của thế giới [11]. Năm 2007, Mỹ đã tạo ra hơn  
125 triệu tấn các sản phẩm từ than đá bao gồm tro bay, tro đáy lò, xỉ lò,…  
Phần trăm sử dụng tro bay ở Mỹ đã giảm trong những năm 2007 - 2010,  
nhưng sau đó tỷ lệ sử dụng tro bay lại tăng.  
Trung Quốc là nước đứng đầu về sản xuất điện năng từ than đá, do vậy  
lượng tro bay tạo ra từ việc đốt than đá cũng rất lớn. Năm 2009, công suất  
phát điện và điện năng của các nhà máy nhiệt điện đều tăng khoảng 7-8%.  
Mặc dù, lượng tiêu thụ than đã được giảm xuống bằng cách nâng cao hiệu quả  
của máy phát điện, nhưng lượng tro bay tạo ra vẫn duy trì đà tăng [12]. Năm  
2010, lượng tro bay tạo ra là 480 triệu tấn và với tốc độ tăng trưởng 20 triệu  
tấn mỗi năm, dự kiến lượng tro bay tạo ra ở Trung Quốc hiện nay đạt trên 500  
triệu tấn.  
12  
Hình 1.6: Biểu đồ lượng tro bay tạo thành, tro bay sử dụng và  
phần trăm sử dụng tro bay ở Trung Quốc từ 2001-2008  
Ở Ấn Độ, một lượng lớn tro bay tạo ra trong quá trình đốt cháy than của  
các nhà máy nhiệt điện. Lượng tro bay tạo ra hàng năm liên tục tăng từ khoảng 1  
triệu tấn vào năm 1947 lên khoảng 40 triệu tấn trong năm 1994 và năm 2012 vào  
khoảng 131 triệu tấn. Kể từ 1996-97 đến 2010-11, lượng tro bay sử dụng vào  
trong các lĩnh vực công nghiệp cũng tăng (năm 1996-1997 là 9,63% đến năm  
2010-2012 là 56%). Năm 2009-2010 ở Ấn Độ đạt được mức độ sử dụng tro bay  
cao nhất 63% [13].  
Như một điều hiển nhiên, khi lượng than đá sử dụng trong các nhà máy  
nhiệt điện càng nhiều thì các sản phẩm phụ của quá trình đốt cháy nhiên liệu  
như xỉ than hay tro bay sinh ra cũng tăng theo. Thống kê của các nhà khoa  
học Hy Lạp cho thấy lượng tro bay sinh ra gần như tỷ lệ tuyến tính với lượng  
nhiên liệu than đá được sử dụng [14].  
Theo ước tính, lượng tro bay thải ra trên toàn cầu vào khoảng trên 700  
triệu tấn. Sản lượng và phần trăm sử dụng tro bay của một số nước được trình  
bày trong bảng 1.6 [11-13,15].  
13  
Bảng 1.6: Sản lượng và phần trăm sử dụng tro bay ở một số nước  
Nước sản  
xuất  
Sản lượng tro bay hàng  
năm (triệu tấn)  
Tro bay sử dụng  
TT  
(%)  
Trung Quốc  
1
480  
67  
(2010)  
2
3
Ấn Độ (2012)  
Mỹ (2010)  
Đức  
131  
70  
40  
15  
10  
6
54  
45  
4
85  
5
Anh  
50  
6
Australia  
Canada  
Pháp  
85  
7
75  
8
3
85  
9
Đan Mạch  
Ý
2
100  
100  
100  
10  
11  
2
Hà Lan  
2
Ở Việt Nam, phần lớn các nhà máy nhiệt điện đốt than chủ yếu tập trung  
ở phía Bắc, do gần nguồn than. Tổng công suất các nhà máy nhiệt điện đang  
vận hành tính ở thời điểm 2010 là 4.250 MW [16] và dự kiến vào năm 2020  
sẽ là 7.240 MW.  
Bảng 1.7: Tro bay từ các nhà máy nhiệt điện trong giai đoạn 2010-2030  
TT  
Năm  
Công suất,  
MW  
Tiêu thụ than,  
triệu tấn/năm  
12,75  
Lượng tro bay,  
triệu tấn/năm  
3,82-4,46  
1
2
3
2010  
2015  
2020  
4.250  
6.240  
7.240  
18,72  
21,72  
5,61-6,55  
6,51-7,60  
Nguồn cung cấp than nhiên liệu trong nước cho các nhà máy điện  
thường là loại than chất lượng thấp, có độ tro lớn hơn 31÷32%, thậm chí đến  
43÷45%. Do đó, các nhà máy nhiệt điện thải ra lượng tro bay khá lớn, có thể  
chiếm tới 20-30% lượng than sử dụng. Với suất tiêu hao than trung bình  
khoảng 500 g/kWh, tổng lượng than sử dụng cho nhiệt điện và lượng tro bay  
tạo thành được trình bày trong bảng 1.7.  
14  
1.3.2. Tình hình sử dụng tro bay  
Tro bay đã được sử dụng rất thành công trong ngành công nghiệp bê  
tông trên thế giới hơn 50 năm qua. Ở Mỹ có hơn 6 triệu tấn và ở châu Âu là  
hơn 9 triệu tấn đã được sử dụng trong xi măng và bê tông [17]. Có nhiều dự  
án lớn trong thời gian gần đây sử dụng bê tông tro bay, bao gồm các đập ngăn  
nước, các nhà máy điện, các công trình ngoài biển, các đường hầm dưới biển,  
đường cao tốc, sân bay, các tòa nhà thương mại hay dân cư, cầu, các đường  
ống dẫn,...  
Đến năm 2008, tổng lượng các sản phẩm từ đốt than đá của nhà máy  
nhiệt điện ở Châu Âu là 58 triệu tấn, trong đó tro bay chiếm gần 68% tương  
đương khoảng 39 triệu tấn. Khoảng 18 triệu tấn tro bay được sử dụng trong  
công nghiệp xây dựng và san lấp hầm mỏ. Phần lớn tro bay làm phụ gia bê  
tông, kết cấu đường và làm vật liệu để sản xuất clinke xi măng. Tro bay cũng  
được sử dụng trong xi măng trộn, bê trong khối và làm chất điền lấp [18].  
Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, hàng trăm nhà máy nhiệt điện  
trên khắp lãnh thổ Trung Quốc thải ra hàng trăm triệu tấn tro bay mỗi năm  
[8]. Do vậy, chính phủ Trung Quốc rất khuyến khích phát triển các công nghệ  
liên quan đến việc sử dụng tro bay. Một vài thành phố đã sử dụng rất tốt tro  
bay trong những năm gần đây như thành phố Nam Ninh. Năm 2005, lượng tro  
bay được sử dụng ở thành phố này đã vượt qua cả lượng tro bay được tạo ra.  
Tuy nhiên, Nam Ninh chỉ là một trường hợp ngoại lệ. Tro bay ở Trung Quốc  
được sử dụng trong các lĩnh vực chủ yếu sau: Các sản phẩm bê tông (phụ gia  
cho xi măng, vữa, bê tông, gạch,...); Xây dựng đường giao thông; Xây dựng  
cảng; Cải tạo đất trồng; Xử lý ô nhiễm nước; Sử dụng để lấp các mỏ hay các  
vùng đất lớn hơn dọc theo bờ biển. Ngoài ra, tro bay còn được sử dụng cho  
một vài ứng dụng khác như tổng hợp zeolit, chất gia cường cho cao su.  
Tại Ấn Độ, Chính phủ nước này đã có nhiều quy định để nâng cao nhận  
thức về lợi ích của việc sử dụng tro bay cho các sản phẩm khác nhau [19-21].  
Tro bay là một nguyên liệu tiềm năng tuyệt vời cho sản xuất vật liệu xây dựng  
như xi măng pha trộn , gạch tro bay , gạch ốp lat và cac khối rỗng trong xây  
́ ́  
15  
̣ ̣  
dựng. Chúng được ứng dụng môt lương lơn để rai đường, xây dựng kè, và san  
̉
́
lấp hầm mo. Sản phẩm tro bay có nhiều lợi thế hơn so với các sản phẩm thông  
̉
thường. Lượng xi măng sử dụng trong sản xuất sản phẩm xây dựng có thể  
giảm bằng cách thay thế bằng tro bay và lượng tro bay thay thế có thể lên đến  
50%. Những sản phẩm chứa tro bay có độ bền cao, hiệu quả hơn và tiết kiệm  
đáng kể nguyên liệu. Việc sử dụng tro bay ở Ấn Độ đã tạo ra công ăn việc  
làm cho khoảng 3.000 lao động [22].  
1.3.3. Ứng dụng tro bay trong một số lĩnh vực công nghiệp trên thế giới  
1.3.3.1. Tro bay sử dụng trong lĩnh vực xây dựng  
* Tro bay dùng làm vật liệu điền lấp: Tro bay có thể dùng để phục hồi và  
cải tạo các vùng đất yếu bởi các hoạt động khác. Tro bay được sử dụng cho phát  
triển các công trình công cộng như công viên, bãi đậu xe, sân chơi,... Tro bay có  
độ bền đầm nén tương đương hoặc lớn hơn đất nên thường được sử dụng trong  
các lĩnh vực bồi đắp đất [23].  
Hình 1.8: Bê tông asphalt  
Hình 1.7: Đập Puylaurent ở Pháp  
sử dụng tro bay  
* Tro bay trong bê tông: Tro bay cải thiện độ bền và kết cấu của bê tông  
dẫn đến tăng tuổi thọ của đường. Thông thường, tro bay có thể thay thế từ 15  
đến 30% xi măng portland [23]. Hiện nay, tro bay được ứng dụng rộng rãi  
trong xây dựng với các mục đích khác nhau như làm phụ gia cho bê tông xi  
măng [24], làm độn cho bê tông asphalt [25]. Một số công trình xây dựng nổi  
tiếng trên thế giới đã sử dụng tro bay trong bê tông như đập Puylaurent ở Pháp,  
cây cầu Great Belt East nối Copenhagen (Đan Mạch) với những vùng đất của  
trung tâm châu Âu,... [26].  
16  
* Tro bay làm đường xá: Tro bay có thể được sử dụng để xây dựng  
đường và đê kè. Việc sử dụng này có nhiều lợi thế hơn so với các phương  
pháp thông thường như tiết kiệm đất trồng trọt, tránh tạo ra các vùng trũng,  
giảm chi phí, làm giảm nhu cầu đất để xử lý / lắng đọng tro bay.  
Hình 1.9: Gạch và tấm lợp từ tro bay [27]  
* Gạch không nung từ tro bay: Tro bay cũng là phế liệu thân thiện môi  
trường [24]. Gạch tro bay được tạo thành từ tro bay, cát và xi măng, trong đó  
tro bay là chất độn chính và cát là chất độn thứ hai. Còn xi măng làm chất kết  
dính tất cả các nguyên liệu với nhau. Ở Đức, tro bay được ứng dụng để sản  
xuất gạch xây nhà. Các khối gạch này được tạo ra từ hỗn hợp của tro xỉ, tro  
bay, đá vôi và nước được ép thành khuôn [26].  
́
p lát từ tro bay: Gạch ô  
̉
́p lat co thê được sản xuất tư  
́ ́ ̀  
* Sản phẩm gạch ô  
tro bay. Gạch ốp lát gồm hai lớp: lớp măt  
nhựa men, xi măng, bôt tro bay và đôlômit . Lớp nê  
bán khô, xi măng và bụi mỏ đá [23].  
* Làm vật liệu cốt nhꢀ: Nhiều công nghệ đã được phát triển để sản xuất  
cốt liệu nhân tạo từ tro bay. Cốt liêu từ sản phẩm tro bay có thể được sử dụng  
̣
và lớp nê  
̀
n. Lớp mặt là hỗn hợp gồm  
n là hỗn hợp gồm tro bay  
̣
̀
̣
cho một loạt các ứng dụng trong ngành công nghiệp xây dựng, bao gồm thành  
phần xây dựng, thành phần bê tông đúc sẵn, bê tông trộn sẵn cho các tòa nhà  
cao tầng,… [23].  
1.3.3.2. Tro bay dùng trong nông nghiêp  
̣
Một ứng dụng trực tiếp của tro bay là một tác nhân cải tạo đất nông  
nghiệp [28,29]. Phần lớn các loại cây trồng thích hợp với môi trường pH là 6,5-  
17  
7 cho sự phát triển. Việc bổ sung tro bay kiềm cho đất chua có thể làm tăng độ  
pH. Phần lớn các nghiên cứu đã chứng tỏ khả năng của tro bay làm tăng độ pH  
của đất có môi trường axit bằng sử dụng tro bay loại C, tức là tro bay với hàm  
lượng CaO cao (> 15%) [30].  
̉
Tro bay có thể cai tao  
̣
đất và nâng cao kha năng giữ âm, đô  
̣
phì nhiêu cho  
t. Nó cải thiện sự hấp thu nước và chất dinh dưỡng của cây trồng, giúp sự  
phát triển của rễ cây và kêt dinh đất , dâu khoáng va cacbohydrat dư trư để sử  
dụng khi cần thiết, bảo vệ thực vật các bệnh tật từ đất gây ra, và giải độc đất  
bị ô nhiễm. Năng suât cây trông cũng tăng lên, như các thí nghiệm trên lạc,  
̉
̉
đâ  
́
́
̀
̣
̀
̃
́
́
̀
hướng dương, hạt lanh và hạt có dầu khác đã minh chưng.  
́
Nhiều nghiên cứu báo cáo về hiệu quả của tro bay tới độ bền của đất như  
cải thiện độ bền cắt và độ bám dính của đất. Mặt khác, một số nghiên cứu cho  
thấy việc kết hợp giữa vôi và tro bay vào đất đã làm tăng sự ổn định cho đất  
so với ổn định đất chỉ bằng tro bay hoặc vôi riêng rẽ [31,32].  
1.3.3.3. Tro bay làm chất hấp phụ  
Trong những năm gần đây, việc sử dụng tro bay đã thu hút rất nhiều  
trong công nghiệp, việc sử dụng này sẽ giảm bớt gánh nặng về môi trường và  
nâng cao lợi ích kinh tế. Tính khả thi kỹ thuật của việc sử dụng tro bay làm  
chất hấp phụ giá rẻ cho các quá trình hấp phụ khác nhau để loại bỏ các chất ô  
nhiễm trong không khí và nước đã được xem xét.  
Có thể dùng tro bay để thay thế than hoạt tính thương mại hoặc zeolit  
cho việc hấp phụ các khí NOx, SOx, các hợp chất hữu cơ, thủy ngân trong  
không khí, các cation, anion, thuốc nhuộm và các chất hữu cơ khác trong  
nước. Wang và Wu [33] đã nghiên cứu điều tra và cho thấy rằng thành phần  
cacbon chưa cháy trong tro bay đóng một vai trò quan trọng trong khả năng  
hấp phụ. Có nhiều báo cáo nghiên cứu sử dụng tro bay làm vật liệu hấp phụ  
để loại bỏ các ion kim loại độc hại [34-36], chất gây ô nhiễm trong không khí  
[37], các hợp chất hữu cơ và vô cơ [38-44], và hấp phụ thuốc nhuộm trong  
nước thải [45-48].  
18  
1.3.3.4. Tro bay dùng công nghiệp gia công chất dẻo  
Tro bay là vật liệu phế thải của quá trình sản xuất điện năng từ các nhà  
máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu than đá. Với thành phần chủ yếu là các  
oxit kim loại như oxit silic, oxit nhôm,… kích thước hạt mịn và giá thành  
rẻ, ngoài những ứng dụng hết sức hiệu quả trong các ngành xây dựng, tro  
bay bay còn có một tiềm năng lớn trong lĩnh vực làm chất độn cho polyme.  
Trong số các nhựa nhiệt dẻo thì PE và PP được sử dụng phổ biến nhất.  
D.C.D. Nath và cộng sự đã chế tạo vật liệu compozit trên cơ sở PP gia cường  
bởi một hàm lượng lớn tro bay (60%) có kích thước hạt 5-60μm bằng phương  
đúc phun ở 210oC. Theo các tác giả, trong điều kiện khí quyển, nhóm OH hoặc  
ion trên bề mặt kim loại hoặc oxit kim loại như tro bay có vai trò quan trọng  
trong hình thành các liên kết vật lý giữa bề mặt tro bay với nền polyme [49].  
Hình 1.10: Các chi tiết đỡ dây điện trong thân ô tô chế tạo từ vật liệu  
LDPE/FA của hãng General Motor [50]  
Hình 1.11: Ứng dụng compozit tro bay làm vách ngăn, đồ nội thất  
19  
Vật liệu compozit LDPE/10% tro bay có độ bền kéo đứt, modul đàn hồi  
cao hơn LDPE và vật liệu compozit LDPE/10% CaCO3. Tro bay cải thiện tính  
chất cơ học của LDPE cao hơn so với CaCO3 vì tro bay có khả năng liên kết  
với polyme nền tốt hơn CaCO3. Vật liệu compozit LDPE/tro bay đã được các  
hãng chế tạo ô tô General Motor dùng để chế tạo một số chi tiết như kẹp định  
vị, mắc dây điện bên trong thân ô tô (hình 1.10).  
Vật liệu polyme compozit sử dụng tro bay làm chất độn và vải đay làm  
̉
̉
châ  
́
t gia cường. Sau khi xư ly, vải đay được chuyên vào châ  
́
t nê  
̀
n đê cán thành  
̉
́
tấm. Các tâ  
́
m được sâ  
́
y khô ở nhiệt độ và áp suất cụ thể. Số lượng tâ  
́
m được sử  
dụng theo độ dày yêu cầu. Vật liệu polyme/tro bay compozit sử dụng vải đay  
gia cường để thay thế vật liệu gỗ trong nhiều sản phẩm như cửa chớp, vách  
ngăn, gạch lát nền, tấm tường, trần,… [51].  
Tro bay cùng với các phụ gia khác như bột kim loại và với chất dẻo đưa  
vào cao su tái sinh để chế tạo tấm lát đường ngang xe lửa [52]. M. Hossain và  
các cộng sự nghiên cứu của trường Đại học Kansas đã công bố kết quả sử  
dụng cao su tái chế từ lốp ô tô để làm lớp asphalt trải đường có sử dụng phụ  
gia tro bay [53]. Đây là công trình rất có giá trị về khoa học môi trường, khi  
công trình này được áp dụng thì một lượng lớn lốp ô tô phế thải được sử dụng  
để thay thế nhựa đường và như vậy sẽ làm giảm giá thành xây dựng.  
Nhiều nghiên cứu đánh giá khả năng gia cường của tro bay tới tính chất  
vật liệu cao su như CSTN, SBR, BR,…[54-58] và cao su blend như  
CSTN/NBR, CSTN/SBR, CSTN/CR [59-61]. Đối với tro bay không biến tính  
khả năng gia cường cho vật liệu cao su là không đáng kể. Khi tro bay được  
biến tính bằng các các hợp chất silan, khả năng gia cường của tro bay được cải  
thiện đáng kể. Hàm lượng tro bay tối ưu dùng để gia cường cho vật liệu polyme  
nói chung và vật liệu cao su nói riêng vào khoảng 10 đến 30 pkl. Tro bay có thể  
thay thế các chất độn truyền thống như clay, canxi cacbonat hoặc sử dụng kết  
hợp với than đen. Mặt khác, tro bay có giá thành rất thấp nên tro bay làm giảm  
giá thành của sản phẩm. Nhiều sản phẩm cao su đã sử dụng tro bay làm chất  
độn gia cường hoặc làm chất độn thay thế chất thông thường đã được chế tạo.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 132 trang yennguyen 20680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu ứng dụng tro bay làm chất độn gia cường cho vật liệu cao su và cao su blend", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_ung_dung_tro_bay_lam_chat_don_gia_cuong_c.pdf