Lựa chọn thời lượng mưa thiết kế để mô phỏng kiểm tra hệ thống thoát nước mưa đô thị

BÀI BÁO KHOA HỌC  
LỰA CHỌN THỜI LƯỢNG MƯA THIẾT KẾ  
ĐỂ MÔ PHỎNG KIỂM TRA HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC MƯA ĐÔ THỊ  
Nguyễn Tuấn Anh1, Lê Văn Chín1  
Tóm tắt: Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu lựa chọn thời lượng mưa thiết kế để mô phỏng  
kiểm tra hệ thống thoát nước mưa đô thị. Nghiên cứu xem xét bẩy mô hình mưa thiết kế dạng khối  
xen kẽ của Chow với thời lượng mưa là 0,5h, 1h, 2h, 3h, 6h, 12h và 24 giờ được xác định từ tài liệu  
mưa tự ghi tại trạm Láng, Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh lưu lượng xác định từ  
mô phỏng mưa-dòng chảy trận mưa thiết kế và mô phỏng mưa-dòng chảy toàn liệt mưa quá khứ  
trên các lưu vực con khác nhau của một lưu vực thoát nước ở Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy,  
thời lượng mưa thiết kế phù hợp phụ thuộc vào diện tích của lưu vực thoát nước, lưu vực càng lớn  
thì thời lượng mưa thiết kế phù hợp càng dài. Sơ bộ có thể chọn thời lượng mưa thiết kế là 0,5h đối  
với lưu vực có diện tích nhỏ hơn 3ha, chọn thời lượng là 6h đối với lưu vực có diện tích khoảng từ  
20 đến 50 ha; chọn thời lượng 24h đối với các lưu vực có diện tích khoảng từ 200ha đến 300ha.  
Từ khóa: Thời lượng mưa thiết kế, lưu lượng thiết kế, thoát nước mưa đô thị.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ1  
thống tiêu nước mưa là các thông số mưa tạo ra  
Theo Tiêu chuẩn thiết kế hệ thống thoát nước lưu lượng đỉnh có giá trị gần nhất với giá trị  
đô thị hiện hành (TCVN 7957, 2008), khi tính lưu lượng đỉnh được xác định từ liệt quan trắc  
toán thiết kế các hệ thống thoát nước mưa đô dòng chảy hoặc từ mô phỏng toàn liệt quá trình  
thị, người thiết kế cần thực hiện 2 bước, bước mưa - dòng chảy của các trận mưa quá khứ  
thứ nhất: tính lưu lượng thiết kế theo công thức tương ứng với tần suất thiết kế. Trong thực tế  
cường độ giới hạn; bước thứ hai: Sử dụng mô thường không có số liệu quan trắc dòng chảy  
hình toán để tính toán mưa – dòng chảy và diễn đô thị trong nhiều năm vì vậy có thể sử dụng  
toán thủy lực trong hệ thống thoát nước nhằm phương pháp mô phỏng toàn liệt bằng mô hình  
kiểm tra lại kết quả sơ bộ ở bước thứ nhất. Khi toán để xác định các thông số hợp lý của trận  
mô phỏng quá trình mưa – dòng chảy trong hệ mưa thiết kế.  
thống thoát nước cần sử dụng một trận mưa  
thiết kế làm biên vào hệ thống. Tiêu chuẩn thiết  
kế này quy định thời lượng của trận mưa thiết  
kế có thể chọn từ 3h đến 6h. Tuy nhiên trong  
thực tế, nhiều tác giả đã chọn thời lượng mưa  
thiết kế là 12 giờ, 24 giờ hoặc dài hơn nữa  
(Nguyễn Song Dũng, 2005).  
Theo các tác giả Cao (1993), Despotovic  
(1996), Alfieri (2007),.. các thông số cơ bản của  
trận mưa thiết kế (tổng lượng, thời lượng, phân  
bố mưa theo thời gian) hợp lý nhất dùng để xác  
định quy mô, kích thước của các công trình dẫn  
và tháo nước (kênh, cống, trạm bơm,..) trong hệ  
Để cung cấp thêm cơ sở khoa học lựa chọn  
thời lượng mưa thiết kế, bài báo này giới thiệu  
kết quả nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thời  
lượng trận mưa thiết kế đến lưu lượng của dòng  
chảy trong một hệ thống thoát nước mưa đô thị  
ở Hà Nội, từ đó kiến nghị lựa chọn thời lượng  
mưa thiết kế hợp lý khi tính toán thiết kế hệ  
thống thoát nước mưa đô thị.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Để xác định thời lượng hợp lý nhất của trận  
mưa thiết kế, trong nghiên cứu này các tác giả  
sử dụng phương pháp so sánh kết quả tính lưu  
lượng từ phương pháp mô phỏng mưa – dòng  
chảy trận mưa thiết kế và mô phỏng toàn liệt các  
trận mưa trong quá khứ (Cao, 1993), (Despotovic,  
1 Trường Đại học Thủy lợi.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
114  
1996), (Alfieri, 2007) và (Nguyễn Tuấn Anh,  
2015). Phương pháp này bao gồm các bước sau  
đây:  
(1) Xây dựng các mô hình mưa thiết kế với  
thời lượng mưa khác nhau để lựa chọn.  
(4) Mô phỏng quá trình mưa - dòng chảy cho  
các trận mưa thiết kế đã được xác định ứng với  
tần suất thiết kế P, từ đó xác định được các lưu  
lượng đỉnh tại các vị trí tương ứng với các trận  
mưa thiết kế khác nhau gọi là QTK(P)  
.
Ở đây tài liệu mưa tự ghi tại trạm Láng, Hà  
Nội và mô hình mưa phân bố dạng khối xen kẽ  
(mô hình mưa thiết kế của Chow) được chọn để  
nghiên cứu. Theo các nghiên cứu của các tác giả  
nêu trên, mô hình mưa khối xen kẽ cho kết quả  
tính toán lưu lượng thiên về an toàn, đã được  
nhiều nước trên thế giới ứng dụng trong tính  
toán thoát nước đô thị. Ở Việt Nam, đã ứng  
dụng phương pháp này cho dự án cải tạo hệ  
thống thoát nước sông Tô Lịch, Hà Nội.  
(2) Chọn một lưu vực thoát nước điển hình  
gần trạm đo mưa để nghiên cứu tính toán.  
Lưu vực thoát nước mưa Quận Thanh Xuân,  
TP Hà Nội (phạm vi lưu vực sông Tô Lịch –  
xem hình 1) cách trạm mưa Láng 1,5 km được  
lựa chọn là lưu vực nghiên cứu. Toàn bộ lưu  
vực có diện tích tự nhiên 366 ha và không có hồ  
điều hòa. Cao trình mặt đất phổ biến ở cao độ  
+5,0 ÷ +6,0 m.  
(5) Mô phỏng quá trình mưa - dòng chảy cho  
các trận mưa trong các năm đã đo đạc mưa. Từ  
kết quả mô phỏng xác định được lưu lượng đỉnh  
(Qmax) của từng trận mưa tại các vị trí xác định  
trước.  
(6) Từ lưu lượng đỉnh của các trận mưa trong  
năm, xác định được lưu lượng đỉnh lớn nhất  
(Qmaxmax) trong năm tại các vị trí đó. Tính tần  
suất với liệt Qmaxmax của các năm mô phỏng ứng  
với tần suất thiết kế P xác định được lưu lượng  
đỉnh tại các vị trí ứng với tần suất thiết kế gọi là  
QTL(P)  
.
(7) So sánh kết quả lưu lượng đỉnh tại cùng  
một vị trí đã xác định ở trên từ mô phỏng mưa  
toàn liệt và mô phỏng mưa thiết kế qua chỉ số  
sai số tương đối ƐQ:  
QTK(P) Q  
(1)  
Q   
TL(P) .100%  
QTL(P)  
Thời lượng mưa thiết kế nào cho giá trị tuyệt  
đối sai số |ƐQ| nhỏ nhất thì đó là thời lượng mưa  
thiết kế thích hợp nhất cho vị trí đó. Nghiên cứu  
trên vài vị trí trong hệ thống có thể rút ra được  
kết luận về thời lượng mưa thiết kế thích hợp  
nhất.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
- Xây dựng các mô hình mưa thiết kế với  
thời lượng khác nhau  
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp khối  
xen kẽ của Chow (1988) để xây dựng 07 mô  
hình mưa thiết kế ứng với thời lượng mưa 0,5h,  
1h, 2h, 3h, 6h, 12h và 24h, tần suất P=10%  
(xem các hình 1÷7). Các mô hình mưa thiết kế  
khối xen kẽ với bước thời gian là 10 phút được  
xây dựng dựa trên đường quan hệ lượng mưa -  
thời lượng mưa - tần suất (DDF) tại trạm Láng,  
Hà Nội được giới thiệu trong bài báo của tác giả  
(Nguyễn Tuấn Anh, 2009).  
Hình 1. Vị trí hệ thống thoát nước  
Quận Thanh Xuân – Lưu vực sông Tô Lịch  
(3) Lựa chọn mô hình để mô phỏng quá trình  
mưa-dòng chảy trên lưu vực.  
Mô hình toán thủy văn, thủy lực SWMM  
(Storm Water Management Model) của Cơ quan  
bảo vệ môi trường Hoa Kỳ được lựa chọn để mô  
phỏng quá trình mưa-dòng chảy cho lưu vực trên.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
115  
Hình 2. Mô hình mưa thiết kế với gian mưa 0,5 giờ.  
Hình 3. Mô hình mưa thiết kế với gian mưa 1 giờ.  
Hình 4. Mô hình mưa thiết kế với gian mưa 2 giờ.  
Hình 5. Mô hình mưa thiết kế với gian mưa 3 giờ.  
Hình 6. Mô hình mưa thiết kế với gian mưa 6 giờ.  
Hình 7. Mô hình mưa thiết kế với gian mưa 12 giờ  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
116  
Hình 8. Mô hình mưa thiết kế với gian mưa  
24 giờ  
- Lập sơ đồ tính toán trong mô hình SWMM  
Lưu vực thoát nước được mô phỏng trong  
SWMM với 101 nút, 98 đoạn cống và 41 tiểu  
lưu vực với tổng diện tích 366 ha. Nước mưa  
thoát ra tại các cửa xả CX1, CX2, CX3, CX4,  
CX5 trên sông Tô Lịch và CX6 sang lưu vực  
bên cạnh (xem Hình 9).  
Hình 9. Sơ đồ hệ thống thoát nước nghiên cứu  
trong SWMM  
Tại lưu vực thoát nước này không có trạm  
quan trắc lưu lượng dòng chảy, do vậy để xác  
định các tham số mô hình, chúng tôi sử dụng  
thông tin từ khảo sát thực địa, các bảng tra  
thông số trong tài liệu (Dương Thanh Lượng,  
2010) và tham khảo kết quả nghiên cứu trên lưu  
vực thoát nước sông Tô Lịch (Nguyễn Song  
Dũng, 2005).  
Bảng 1. Diện tích phụ trách của các cửa xả  
Diện tích  
phụ trách (ha)  
- Mô phỏng các trận mưa thiết kế tại các vị  
trí tính toán  
Cửa xả  
Ghi chú  
Các cửa xả được lựa chọn là các vị trí tính  
toán. Sử dụng phần mềm SWMM mô phỏng hệ  
thống thoát nước với biên mưa là các trận mưa  
thiết kế, biên dưới tại các cửa xả (CX) được giả  
thiết chảy tự do; chọn bước thời gian mô phỏng  
là 2,0 giây, bước thời gian biểu thị kết quả là 10  
phút, thời gian mô phỏng là 48 giờ; chọn mô  
hình Horton để tính thấm trên bề mặt lưu vực,  
chọn phương pháp mô phỏng là động lực học.  
Kết quả thể hiện tại bảng sau đây:  
Cửa xả 1  
Cửa xả 2  
Cửa xả 3  
Cửa xả 4  
Cửa xả 5  
34,1  
Đổ ra sông Tô Lịch  
Đổ ra sông Tô Lịch  
Đổ ra sông Tô Lịch  
Đổ ra sông Tô Lịch  
Đổ ra sông Tô Lịch  
33,4  
244,0  
2,89  
30,9  
Đổ sang lưu vực  
bên cạnh, rồi chảy  
ra sông Tô Lịch  
Cửa xả 6  
20,6  
Bảng 2. Lưu lượng thiết kế tương ứng các mô hình mưa thiết kế  
QTK(P) (m3/s), P = 10%  
Diện tích  
phụ trách  
(ha)  
34,1  
33,4  
244,0  
2,89  
30,9  
Vị trí  
tính toán  
MH 0,5h MH 1h MH 2h MH 3h  
MH 6h MH 12h MH 24h  
(1)  
(2)  
(3)  
8,21  
8,31  
34,02  
1,26  
5,72  
4,97  
(4)  
(5)  
9,99  
(6)  
(7)  
10,21  
8,44  
38,04  
1,301  
6,899  
5,279  
Cửa xả 1  
Cửa xả 2  
Cửa xả 3  
Cửa xả 4  
Cửa xả 5  
Cửa xả 6  
7,07  
7,31  
28,78  
1,243  
4,82  
4,71  
7,95  
8,22  
32,19  
1,258  
5,36  
4,91  
9,935  
8,422  
37,32  
1,280  
6,676  
5,254  
10,09  
8,435  
37,83  
1,293  
6,764  
5,266  
8,427  
37,66  
1,285  
6,665  
5,251  
20,6  
Từ bảng trên thấy, lưu lượng thiết kế tăng lượng càng tăng.  
dần từ mô hình mưa 0,5h đến mô hình mưa 24h,  
nghĩa là thời gian mưa thiết kế càng dài thì lưu  
- Mô phỏng các trận mưa trong quá khứ  
Sử dụng tài liệu mưa tự ghi bước thời gian 10  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
117  
phút tại trạm khí tượng Láng trong các tháng  
Từ các chuỗi lưu lượng đỉnh thu được sau  
mùa mưa từ năm 1985 đến năm 2004 (đây cũng khi chạy mô hình SWMM với các trận mưa  
là tài liệu mưa dùng để xây dựng các đường trong quá khứ, mỗi năm chọn một giá trị lưu  
DDF ở trên) làm biên mưa trong mô hình lượng đỉnh lớn nhất (Qmaxmax), sau đó tính toán  
SWMM để mô phỏng quá trình mưa – dòng tần suất liệt số liệu này xác định được lưu  
chảy của các trận mưa trong các năm quá khứ. lượng thiết kế tương ứng tần suất P=10%  
Hình 10 dưới đây biểu thị đường quá trình (bảng 3).  
cường độ mưa theo thời gian của trận mưa rào  
ngày 27/7/1985.  
Bảng 3. Lưu lượng thiết kế tần suất 10%  
xác định từ mô phỏng các trận mưa quá khứ  
Vị trí  
QTL(P) (m3/s)  
10,01  
8,43  
Cửa xả 1  
Cửa xả 2  
Cửa xả 3  
Cửa xả 4  
Cửa xả 5  
Cửa xả 6  
41,6  
1,15  
6,65  
5,19  
- So sánh kết quả tính lưu lượng thiết kế từ  
mô phỏng mưa toàn liệt và mô phỏng mưa thiết  
kế qua chỉ số sai số ƐQ  
Hình 10. Quá trình mưa theo thời gian  
của trận mưa ngày 27/7/1985  
Bảng 4. Kết quả tính sai số |ƐQ| (%)  
Giá trị tuyệt đối của sai số |εQ| (%)  
Diện tích  
lưu vực  
(ha)  
34,1  
33,4  
244,0  
2,89  
30,9  
Vị trí  
MH 0,5h MH 1h  
MH 2h  
(3)  
MH 3h  
(4)  
MH 6h MH 12h MH 24h  
(1)  
(2)  
(5)  
0,10  
0,02  
9,37  
11,73  
0,20  
1,16  
(6)  
1,05  
0,13  
8,96  
12,43  
1,69  
1,45  
(7)  
2,03  
0,17  
8,46  
13,13  
3,72  
1,70  
Cửa xả 1  
Cửa xả 2  
Cửa xả 3  
Cửa xả 4  
Cửa xả 5  
Cửa xả 6  
29,37  
13,29  
30,82  
8,09  
20,58  
2,49  
22,62  
9,39  
17,98  
1,42  
18,22  
9,57  
13,98  
4,24  
0,60  
0,12  
10,19  
11,3  
0,36  
1,22  
27,52  
9,25  
19,40  
5,39  
20,6  
Từ kết quả tính toán trên cho thấy:  
Đối với lưu vực tương ứng với cửa xả 4, sai  
Đối với các lưu vực tương ứng với các cửa số tăng dần từ mô hình mưa thiết kế 0,5h đến  
xả 1, 2, 5, 6 có diện tích từ 20,6 đến 34,1 ha: sai mô hình mưa 24h. Mô hình mưa phù hợp nhất là  
số |ƐQ| giảm dần từ mô hình mưa 0,5h đến mô mô hình mưa 0,5h. Đây là lưu vực có diện tích  
hình mưa 6h và tăng dần từ mô hình mưa 6h đến nhỏ nhất trong 06 lưu vực xem xét và tương ứng  
mô hình mưa 24h và mô hình mưa phù hợp có thời lượng mưa hợp lý ngắn nhất.  
nhất, tạo ra sai số nhỏ nhất là mô hình mưa có  
thời lượng mưa là 6h;  
Kết quả cũng cho thấy thời lượng mưa thiết  
kế hợp lý có xu thế tăng theo diện tích lưu vực  
Đối với lưu vực tương ứng với cửa xả 3, sai thoát nước. Nếu xem xét thêm các mô hình mưa  
số giảm dần từ mô hình mưa thiết kế 0,5h đến thiết kế có thời lượng trong khoảng từ 3h đến 6h  
mô hình mưa 24h. Mô hình mưa phù hợp nhất là và từ 6h đến 12h thì xu thế này có thể rõ rệt hơn  
mô hình mưa 24h.  
(xem hình 11).  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
118  
báo này đã nghiên cứu bẩy thời lượng mưa thiết  
kế là 0,5h, 1h, 2h, 3h, 6h, 12h và 24h với cùng  
mô hình mưa khối xen kẽ sử dụng tài liệu mưa  
trạm Láng, Hà Nội. Kết quả cho thấy, thời  
lượng mưa thiết kế phù hợp phụ thuộc vào diện  
tích của lưu vực thoát nước, lưu vực càng lớn  
thì thời lượng mưa thiết kế phù hợp càng dài. Sơ  
bộ có thể chọn thời lượng mưa thiết kế là 0,5h  
đối với lưu vực có diện tích nhỏ hơn 3ha, chọn  
thời lượng là 6h đối với lưu vực có diện tích  
khoảng từ 20 đến 50 ha; chọn thời lượng 24h  
đối với các lưu vực có diện tích khoảng từ  
200ha đến 300ha.  
Hình 11. Quan hệ giữa thời lượng mưa thiết kế  
hợp lý với diện tích lưu vực thoát nước  
Do hạn chế về thời gian, bài báo mới chỉ  
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Mô phỏng quá trình mưa – dòng chảy trong nghiên cứu bẩy thời lượng mưa thiết kế khác  
hệ thống thoát nước mưa đô thị tương ứng với nhau với mô hình mưa khối xen kẽ cho một  
trận mưa thiết kế để kiểm tra quy mô, kích trạm mưa và một lưu vực thoát nước đô thị  
thước, năng lực của hệ thống thoát nước là việc không có hồ điều hòa ở Hà Nội. Để có thể đề  
không thể thiếu trong công tác thiết kế các hệ xuất một tiêu chuẩn về thời lượng mưa thiết kế  
thống thoát nước mưa đô thị. Thời lượng của dùng để mô phỏng các hệ thống thoát nước mưa  
trận mưa thiết kế có ảnh hưởng tới kết quả tính đô thị ở Việt Nam cần thiết phải có thêm các  
toán hệ thống, vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu cho nhiều thời lượng mưa, nhiều mô  
thời lượng mưa thiết kế phù hợp để nâng cao độ hình mưa, nhiều lưu vực với đặc trưng khác  
chính xác của kết quả tính toán là cần thiết. Bài nhau và nhiều trạm mưa khác nhau.  
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Alfieri, L., Laio F., Claps P. (2007). A simulation experiment for optimal design hyetograph  
selection, Hydrological Processes. DOI: 10.1002/hyp.6646.  
Nguyễn Tuấn Anh (2009). Xây dựng mối quan hệ lượng mưa – thời gian mưa – tần suất (DDF) để  
tính toán mưa tiêu thiết kế cho vùng đồng bằng Bắc Bộ, Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường, số  
27 (11/2009).  
Nguyen T. A., G. Grossi and R. Ranzi (2015). Design storm for Mixed urban and agricultural  
drainage systems in the Northern Delta in Vietnam, Journal of Irrigation and Drainage Engineering,  
ASCE, DOI: 10.1061/(ASCE)IR.1943-4774.0000962.  
Cao, C., Piga E., Saba A. (1993). Design storm calibration through continuous simulation. Proc. 6th  
Int. Conf. Urban storm Drainage, Niagara Falls, Vol. I, pp. 318-323.  
Chow, V.T., Maidment D.R. and L.W. Mays. (1988). Applied hydrology, Mc Graw-Hill. Chapter 14.  
Despotovic, J., Petrovic J., Vukmirovic V. (1996). Some considerations of urban drainage design  
pratice using experimental data, Atmospheric Research 42, 279-292.  
Nguyễn Song Dũng (2005). Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý điều hành hệ thống thoát  
nước sông Tô Lịch, TP Hà Nội, Luận án tiến sĩ, Đại học Thủy Lợi.  
Dương Thanh Lượng (2010). Giáo trình mô phỏng mạng lưới thoát nước bằng SWMM, Nhà xuất  
bản xây dựng, Hà Nội.  
Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7957: 2008, Thoát nước – Mạng lưới và công trình bên ngoài – Tiêu  
chuẩn thiết kế.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
119  
Abstract:  
SELECTION OF DURATION OF DESIGN STORM TO SIMULATE URBAN STORM  
WATER DRAINAGE SYSTEM  
This paper presents a procedure to select duration of design storm to simulate urban storm water  
drainage systems. The study considered seven durations (0,5h, 1h, 2h, 3h, 6h, 12h and 24h) of the  
alternating block design storms derived from DDFs of Lang raingauge station, Hanoi, Vietnam.  
Using the combination of the design storm method and continuous simulation approach for a  
typical urban drainage basin in Hanoi, the study defined suitable duration of design hyetograph for  
different catchments such as duration of 0,5h for areas less than 3ha, 6h for areas between 20ha  
and 50ha, 24h for areas from 200ha up to 300ha.  
Keywords: duration of design storm, design flow rate, urban drainage.  
BBT nhận bài: 20/12/2015  
Phản biện xong: 25/3/2016  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
120  
pdf 7 trang yennguyen 10520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lựa chọn thời lượng mưa thiết kế để mô phỏng kiểm tra hệ thống thoát nước mưa đô thị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflua_chon_thoi_luong_mua_thiet_ke_de_mo_phong_kiem_tra_he_tho.pdf