Khóa luận Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------------  
LỲ PÓ HỪ  
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC LOÀI CÂY LIM XẸT  
(Peltophorum tonkinensis A.Chev) TẠI HUYỆN NA HANG,  
TỈNH TUYÊN QUANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2016 - 2020  
Thái Nguyên - năm 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
---------------------  
LỲ PÓ HỪ  
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC LOÀI CÂY LIM XẸT  
(Peltophorum tonkinensis A.Chev) TẠI HUYỆN NA HANG,  
TỈNH TUYÊN QUANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K48 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2016 - 2020  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Thoa  
Thái Nguyên - năm 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân  
tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn  
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai xót tôi xin hoàn  
toàn chịu trách nhiệm.  
Thái Nguyên, ngày……tháng……năm 2020  
Xác nhận của GVHD  
Đồng ý cho bảo vệ kết quả  
Trước Hội đồng khoa học!  
Người viết cam đoan  
TS. Nguyễn Thị Thoa  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu  
của Hội đồng chấm Khóa luận Tốt Nghiệp  
(Ký, ghi rõ họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của bản thân trong toàn khóa  
học, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực  
tiễn”. Thực tập tốt nghiệp là khâu cực kỳ quan trọng đối với mỗi sinh viên,  
giúp cho mỗi sinh viên có điều kiện củng cố lại kiến thức đã học tập trong nhà  
trường để ứng dụng vào thực tế nhằm chuẩn bị hành trang cho công việc sau  
này. Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám  
hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên và sự nhất trí của ban  
chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu  
đặc điểm sinh vật học loài Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) tại  
huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”. Sau thời gian thực tập đến nay tôi đã  
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Có được kết quả như ngày hôm nay ngoài sự  
cố gắng nỗ lực của bản thân tôi còn được sự giúp đỡ tận tình của các thầy  
giáo, cô giáo trong khoa và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS.  
Nguyễn Thị Thoa. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của các  
thầy giáo, cô giáo trong khoa và sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn.  
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ công chức, viên chức và  
bà con nhân dân hai xã thuộc huyện Na Hang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi  
thực hiện đề tài này. Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, nhưng thời gian và  
năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu  
sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy giáo cô giáo và các bạn  
để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày....... tháng.......năm 2020  
Sinh viên  
Lỳ Pó Hừ  
 
iii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 4.1: Kết quả điều tra trên 12 OTC có loài cây Lim xẹt phân bố ........... 42  
Bảng 4.2: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao nơi có loài cây Lim xẹt  
phân bố tại vị trí chân đồi................................................................................ 43  
Bảng 4.3: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao nơi có loài cây Lim xẹt  
phân bố tại vị trí sườn đồi ............................................................................... 44  
Bảng 4.4: Hình thái phẫu diện đất tại khu vực Lim xẹt phân bố.................... 48  
Bảng 4.5: Đặc điểm tầng cây bụi và thảm tươi nơi có loài Lim xẹt............... 49  
Bảng 4.6: Tổ thành cây tái sinh ở nơi có Lim xẹt phân bố tại vị trí chân đồi50  
Bảng 4.7: Tổ thành cây tái sinh ở nơi có Lim xẹt phân bố tại vị trí sườn đồi....... 51  
Bảng 4.8: Mật độ tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng .............................. 52  
Bảng 4.9: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ............................................ 54  
Bảng 4.10: Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của lâm phần và  
Lim xẹt ............................................................................................................ 55  
 
iv  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
Hình 3.1: Sơ đồ nghiên cứu tổng quát ............................................................ 26  
Hình 3.2: Hình dạng, kích thước OTC và sơ đồ bố trí ODB.......................... 32  
Hình 4.1: Hình thái thân cây Lim xẹt.............................................................. 39  
Hình 4.2: Mặt trên lá Lim xẹt.......................................................................... 40  
Hình 4.3: Mặt dưới lá Lim xẹt ........................................................................ 40  
Hình 4.4: Hoa Lim xẹt .................................................................................... 41  
Hình 4.5: Quả Lim xẹt .................................................................................... 41  
 
v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
STT  
Chữ viết tắt  
CTV  
Nghĩa đầy đủ  
Cây triển vọng  
1
Cs  
Cộng sự  
2
3
4
5
6
7
8
D1.3  
Dt  
Đường kính ngang ngực  
Đường kính tán  
Độ tàn che  
ĐTC  
ĐVT  
GTVT  
Ha  
Đơn vị tính  
Giao thông vận tải  
Hecta  
Hdc  
Chiều cao phân cành  
9
Chiều cao trung bình  
m
Hvn  
LP  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
Chiều cao vút ngọn  
Lâm phần  
N
Số cây  
Nxb  
ODB  
OTC  
PCCC  
T
Nhà xuất bản  
Ô dạng bản  
Ô tiêu chuẩn  
Phòng cháy, chữa cháy  
Tốt  
TB  
Trung bình  
Xấu  
X
UBND  
Ủy ban nhân dân  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Hiện nay ở Việt Nam, ngành Lâm nghiệp đang phát triển rất nhanh  
chóng, song những thách thức kèm theo sự phát triển sự nhanh chóng đó cũng  
không nhỏ, một trong số đó là vấn đề tài nguyên rừng ngày càng suy thoái.  
Chúng ta cần giải quyết vấn đề vừa đáp ứng được sự phát triển của lâm nghiệp  
chế biến mà không làm ảnh hưởng tới phát triển môi trường rừng. Từ đó, đặt ra  
câu hỏi tìm kiếm một loại cây trồng mới vừa phát triển nhanh đem lại hiệu quả  
kinh tế, có phẩm chất gỗ tốt đáp ứng được ngành công nghiệp đồ gia dụng cũng  
như bảo vệ được tài nguyên rừng.  
Tính đến hết ngày 31/12/2019, tổng diện tích đất có rừng toàn quốc là  
trên 14,6 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên gần 10,3 triệu ha, rừng trồng trên 4,3  
triệu ha. Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là  
trên 13,8 triệu ha, tỷ lệ che phủ là 41,89%.  
Mặc dù đã có nhiều hội thảo về cơ cấu cây trồng cho các vùng kinh tế  
lâm nghiệp và hệ thống cơ cấu cây trồng lâm nghiệp đã được Bộ Lâm nghiệp.  
Tập đoàn cây lâm nghiệp cho các vùng đã xác định để gây tạo, trồng phục hồi  
rừng, nhưng nhiều diện tích trồng không thành rừng, trong đó có nguyên nhân  
kỹ thuật cần được xem xét. Những năm gần đây trong công cuộc trồng rừng  
của nước ta đang có xu hướng bổ sung cơ cấu cây trồng bằng các loài cây địa  
phương. Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis), họ Vang (Caesalpiniaceae), hoa  
cây Lim xẹt thường mọc thành chùm ở phía đầu cành, hoa nhỏ khoảng 2 cm,  
có 4 cánh màu vàng có lông. Quả dạng quả đậu dẹt dài từ 10 – 12 cm. Cây  
Lim xẹt được trồng để tạo cảnh quan, lấy bóng mát cho các khu đô thị, trường  
học, bệnh viện, công viên… Cây còn được trồng nhiều tại vùng ven biển để  
chắn gió, cũng như chống sạt lở đất. Gỗ của cây Lim xẹt có giá trị kinh tế cao.  
   
2
Vì vậy, thực hiện công việc này bằng các giải pháp lâm sinh như  
"khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung là một giải pháp lợi dụng  
triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng thông qua các  
biện pháp bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ sung cần thiết trên  
cơ sở sinh vật học - sinh thái học lại càng cấp thiết, nên tôi đã tiến hành  
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài Lim xẹt  
(Peltophorum tonkinensis A.Chev) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xác định được một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ nơi có loài Lim xẹt  
phân bố.  
- Xác định được một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng và loài  
Lim xẹt tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.  
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển loài Lim  
xẹt nói riêng và các loài cây bản địa nói chung.  
1.3. Ý nghĩa đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
Giúp sinh viên có những kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh học, sinh  
thái, sự phân bố và sinh trưởng của cây Lim xẹt. Giúp sinh viên vận dụng  
những kiến thức đã học vào trong thực tiễn điều tra rừng, nhận biết cây rừng.  
Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn loài thực vật quý hiếm nói  
chung và cây Lim xẹt nói riêng trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện  
nay. Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về  
loài cây Lim xẹt.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh vật học của loài Lim xẹt  
nhằm đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển loài.  
       
3
Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc việc bảo vệ  
loài Lim xẹt trong tự nhiên, cũng như là cơ sở cho việc gây trồng, gieo ươm  
để phát triển loài này. Góp phần bảo vệ vào việc bảo vệ môi trường sinh thái,  
cảnh quan môi trường, phát triển kinh tế - xã hội của huyện Na Hang, tỉnh  
Tuyên Quang.  
4
Phần 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học  
Cây Lim xẹt là cây thân gỗ lớn, có chiều cao từ 20 - 30 mét, tán tròn và  
cành cây tập trung trên ngọn, thân cây có vỏ đen, sần sùi, khi nhỏ có màu đỏ  
nâu. Lá dạng lá kép lông chim 2 lần chẵn, có lá chét nhỏ, xếp đều nhau, lá cây  
có màu xanh thẫm ở mặt trên, mặt dưới có xanh trắng khác biệt, lá cây khá  
nhỏ và cây rụng lá theo mùa. Hoa Lim xẹt có màu vàng tươi, mọc theo chùm,  
cánh hoa nhỏ, nhăn và khá mềm mại, sau khi hoa rụng quả sẽ hình thành, quả  
dạng dẹp và có cánh, trong quả có chứa từ 2 - 4 hạt khi non có màu xanh, khi  
già chuyển thành màu xám trắng.  
Đặc điểm sinh vật học: là một môn khoa học về sự sống (từ tiếng  
Anh: biology bắt nguồn từ Hy Lạp với bios là sự sống và logos là môn học).  
Nó là một nhánh của khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá thể sống,  
mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường. Nó miêu tả những đặc  
điểm và tập tính của sinh vật (ví dụ: cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi  
trường sống), cách thức các cá thể và loài tồn tại (ví dụ: nguồn gốc, sự tiến  
hóa và phân bố của chúng). tròn.  
Đặc điểm sinh học: là sự thay đổi đặc tính di truyền của một quần thể  
sinh học qua những thế hệ nối tiếp nhau. Những đặc tính này là sự biểu hiện  
của các gen được truyền từ bố mẹ sang con cái thông qua quá trình sinh sản.  
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt của những đặc tính đó trong quần thể là do  
kết quả của đột biến, tái tổ hợp di truyền và nguồn gốc các biến dị di  
truyền khác. Hiện tượng tiến hóa xảy ra khi các tác nhân tiến hóa như chọn  
sự đa dạng của những đặc tính này, dẫn đến kết quả là vài đặc tính sẽ trở nên  
phổ biến hoặc hiếm gặp hơn ở trong quần thể. Chính nhờ quá trình tiến hóa  
   
5
này đã làm nảy sinh sự đa dạng ở mọi mức độ tổ chức sinh học bao gồm loài,  
các cá thể sinh vật và cả các phân tử như DNA và protein.  
Phân bố: Cây Lim xẹt tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất  
mạnh, trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và đóng đồ dùng trong gia  
đình. Số cá thể trưởng thành đã bị chặt phá > 50%. Tuy có ở các Vườn quốc  
gia Ba Bể, Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, Vườn quốc gia Xuân Sơn,  
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,… và các Khu bảo tồn thiên nhiên  
Hang Kia - Pà Cò, Hữu Liên, Na Hang, Bắc Mê, Bát Đại Sơn, Phong Quang,  
Tây Côn Lĩnh, Kim Hỷ, Nam Xuân Lạc, Thần Sa - Phượng Hoàng,… nhưng  
tại những nơi đó vẫn bị khai thác trộm. Loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt  
chủng cao ngoài thiên nhiên.  
2.2. Nghiên cứu trên thế giới  
2.2.1. Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học thực vật  
Thuật ngữ sinh thái học (Ecology) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp:  
Oikos và logos, oikos là nhà hay nơi ở và logos là khoa học hay học thuật.  
Nếu hiểu một cách đơn giản (nghĩa hẹp) thì sinh thái học là khoa học nghiên  
cứu về “nhà”, “nơi ở” của sinh vật. Hiểu rộng hơn, sinh thái học là khoa học  
nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật hoặc một nhóm hay nhiều nhóm sinh  
vật với môi trường xung quanh. Hoặc một định nghĩa khác về sinh thái học:  
Sinh thái học là một trong những môn học cơ sở của Sinh học, nghiên cứu về  
mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với sinh vật và sinh vật với môi trường ở  
mọi mức tổ chức khác nhau, từ cá thể, quần thể, đến quần xã và hệ sinh thái.  
Thuật ngữ sinh thái học xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX. Một định nghĩa chung  
lần đầu tiên về sinh thái học được nhà khoa học người Đức là Haeckel E. Nêu  
ra vào năm 1869. Theo ông: “Chúng ta đang hiểu về tổng giá trị kinh tế của tự  
nhiên: nghiên cứu tổ hợp các mối tương tác của con vật với môi trường của  
   
6
nó và trước tiên là mối quan hệ “bạn bè” và thù địch với một nhóm động thực  
vật mà con vật đó tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp”(Baur G.N, (1962)[1].  
Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm về sinh thái học thực vật nhằm  
tìm hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các loài thực vật với nhau và giữa  
chúng với điều kiện nơi mọc, các phương pháp nghiên cứu đó đã được trình  
bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D.Wrattenand, Gary L.A.ry  
(1986) tác giả đã chỉ rõ sự thích nghi của các loài với các điều kiện dinh dưỡng  
khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu.  
E.P. Odum (1971) đã phân chia sinh thái học thực vật thành sinh thái học  
cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể  
sinh vật hoặc từng loài. Trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng như khả năng  
thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý. Ngoài ra mối quan hệ giữa yếu  
tố sinh thái, sinh trưởng có thể định hướng bằng các phương pháp toán học  
thường được mô phỏng, phản ánh các đặc điểm quy luật tương quan phức tạp  
trong tự nhiên, tác giả cũng đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh  
thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh  
sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu.  
Richards P.W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với  
chiều cao là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24 m, 24 - 30 m, 30 - 36 m, 36 - 42 m,  
nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao. Odum E. P (1971) nghi ngờ sự  
phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto Rico và cho rằng  
không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả. Richards P.W  
(1952) theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ  
phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng. Ông nhận định:  
"Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo  
và cũng phong phú nhất về mặt loài cây". Như vậy, nghiên cứu về tầng thứ  
theo chiều cao còn mang tính cơ giới, nên chưa phản ánh được sự phân tầng  
7
phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng đã và  
đang được chuyển từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống  
kê toán học và tin học. Odum E.P (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều  
cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực,  
đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất. Balley (1972) sử dụng hàm  
Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông,.... Tuy  
nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết được những  
mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn  
cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng  
này không được vận dụng trong đề tài. Từ việc vận dụng các lý luận về sinh  
thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng  
vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây.  
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre,  
2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình  
thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về  
đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp  
cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng  
rừng. Tian - XiaoRui trong công trình nghiên cứu về khả năng chịu lửa của  
một số loài cây trồng rừng đã rút ra kết luận, Vối thuốc (S. wallichii) có sức  
chống lửa tốt nhất trong tổng số 12 loài cây nghiên cứu. Vối thuốc là loài cây  
tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía  
Đông Nam Châu Á. Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam  
Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí  
hậu lạnh. Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào Myanmar,  
Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World  
Agroforestry Centre, 2006). Vối thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất  
thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi và ngay cả  
8
nơi ngập nước có độ mặn nhẹ. Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với  
thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu khô cằn đến  
đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy. Vối thuốc  
là loài cây tiên phong sau nương rẫy (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009)[12].  
Ngoài ra, những nghiên cứu về các đặc tính sinh học và sinh thái học cá  
thể còn được thực hiện bởi nhiều nhà khoa khác như: I.S.Mankina và  
I.L.Xeniken (1884, 1980), Uxurai (1891), V.N.Luibimenco (1905,1908),  
I.Vizner (1907),…. Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh  
thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học,  
sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc  
điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung. Đó là cơ sở để chúng tôi  
lựa chọn hướng đi và các nội dung của nghiên cứu này.  
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và  
vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới. Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề  
cho các môn khoa học khác liên quan. Có rất nhiêu công trình liên quan đến  
hình thái và phân loại các loài cây. Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung  
vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, ...Có thể kể đến một vài công trình  
rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong  
(1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm  
Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện  
(1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 –  
1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc  
(9 tập). Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác  
nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng  
miền khác nhau (dẫn theo Bùi Phi Hoàng, 2012)[13].  
Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ nghiên  
cứu hệ thực vật có thể. Tolmachop A.I. cho rằng“Chỉ cần điều tra trên một diện  
9
tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có  
sự phân hoá mặt địa lý. Ông gọi đó là hệ thực vật có thể. Tolmachop đã đưa ra  
một nhận định là số loài của một hệ thực vật có thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường  
là 1500 - 2000 loài (Dẫn theo Nguyễn Toàn Thắng, 2008)[11].  
Về vật hậu học: hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan  
sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các  
vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt. Điều này có ý nghĩa cần  
thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống. Các  
công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa,  
quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài. Nguyễn Nghĩa Thìn  
(2007)[16] trong cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” cũng đã đưa  
ra phương pháp nghiên cứu về vật hậu của loài cây.  
2.2.2. Nghiên cứu về họ đậu (Fabaceae)  
Họ Đậu (danh pháp khoa học: Fabaceae) là một họ thực vật. Theo định  
nghĩa của hệ thống APG thì nó là một họ lớn: Fabaceae sensu lato (nghĩa  
rộng). ICBN cho phép sử dụng cả Fabaceae (nghĩa rộng) và Leguminosae  
như là các tên gọi thực vật học tương đương nhau ở mức độ họ. Hệ thống  
APG sử dụng tên gọi Fabaceae, Lê Mộng Châu, Lê Thị Huyên (2000).  
Tuy nhiên, họ Fabaceae có thể định nghĩa khác đi như là Fabaceae  
sensu stricto (nghĩa hẹp), ví dụ như trong hệ thống Cronquist. Trong các phân  
loại như thế thì các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và Vang  
(Caesalpinioideae) được nâng lên thành cấp họ với tên gọi tương ứng là  
Mimosaceae và Caesalpiniaceae. Nhóm còn lại có các tên gọi thực vật học  
tương ứng là Fabaceae và Papilionaceae (nhưng không phải là Leguminosae).  
APG coi nhóm này ở mức độ phân họ, với tên gọi Faboideae (tên gọi tương  
đương của nó trong Leguminosae là Papilionoideae) Lê Mộng Châu, Lê Thị  
Huyên (2000) [18].  
 
10  
Khi tra cứu hay tham khảo bất kỳ cuốn sách nào có sử dụng tên gọi  
Fabaceae, cần phải lưu ý là tên gọi này dùng trong ngữ cảnh nào. Các tên gọi  
như Leguminosae hay Papilionaceae là rõ ràng và các nhà phân loại học dùng  
các từ này chủ yếu cùng với tên gọi Leguminosae. Leguminosae (hay  
Fabaceae sensu lato) là họ lớn thứ hai của thực vật có hoa với 650 chi và trên  
18.000 loài, Lê Mộng Châu, Lê Thị Huyên (2000) [18]. Các tên gọi thông  
thường chủ yếu của các loài trong họ này là đỗ hay đậu và họ này chứa một số  
loài cây quan trọng bậc nhất trong cung cấp thực phẩm cho con người, chẳng  
hạn các loại đậu, đỗ, lạc, đậu tương và đậu lăng v.v. Các loài khác trong họ  
cũng là các nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm hoặc để  
làm phân xanh, chẳng hạn đậu lupin, cỏ ba lá, muồng hay đậu tương. Một số  
chi như Laburnum, Robinia, Gleditsia, Acacia, Mimosa và Delonix là các loại  
cây cảnh. Một số loài còn có các tính chất y học hoặc diệt trừ sâu bọ (chẳng  
hạn Derris) hay sản sinh ra các chất quan trọng như gôm Ả Rập, tanin, thuốc  
nhuộm hoặc nhựa. Một số loài, như sắn dây, một loài có nguồn gốc ở khu vực  
Đông Á, đầu tiên được trồng tại miền đông nam Hoa Kỳ nhằm cải tạo đất và  
làm thức ăn cho gia súc, nhưng đã nhanh chóng trở thành một loài cỏ dại xâm  
hại nguy hiểm có xu hướng phát triển trên mọi thứ đất và chèn ép nhiều loài  
bản địa.  
Tất cả các thành viên trong họ này đều có hoa chứa 5 cánh hoa, trong  
đó bầu nhụy lớn khi phát triển được sẽ tạo ra quả thuộc loại quả đậu, hai vỏ  
của nó có thể tách đôi, bên trong chứa nhiều hạt trong các khoang riêng rẽ.  
Các loài trong họ này theo truyền thống được phân loại trong ba phân họ, đôi  
khi được nâng lên thành họ trong bộ Đậu (Fabales), trên cơ sở hình thái học  
của hoa (đặc biệt là hình dạng cánh hoa): Phân họ Vang (Caesalpinioideae),  
hay họ Vang - Caesalpiniaceae: Hoa của chúng đối xứng hai bên, nhưng thay  
đổi nhiều tùy theo từng chi cụ thể, chẳng hạn trong chi Cercis thì hoa tương  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 97 trang yennguyen 17160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_dac_diem_sinh_vat_hoc_loai_lim_xet_pelt.pdf