Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cây cấu tạo và tính chất vật lý của cây trúc sào (Phyllostachys edulis) tuổi 3 trồng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu ảnh hưởng của  
vị trí trên cây đến cây cấu tạo và tính chất vật lý của cây trúc sào  
(Phyllostachys edulis) tuổi 3 trồng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”.  
Là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được  
thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Việt Hưng trong thời gian từ  
18/02/2019 đến 03/04/2019. Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong  
khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo. Các số liệu và kết  
quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra thực địa hoàn  
toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu  
mọi hình thức kỉ luật của khoa và nhà trường đề ra.  
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2019  
XÁC NHẬN CỦA GVHD  
VIẾT CAM ĐOAN  
Nguyễn Việt Hưng  
Lò Thị Phượng  
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm.  
(Ký, họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của  
mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và  
vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường. Được sự nhất trí của  
Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học  
Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài:  
“Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cây cấu tạo và tính chất vật  
lý của cây trúc sào (Phyllostachys edulis) tuổi 3 trồng tại huyện Chợ Mới,  
tỉnh Bắc Kạn”.  
Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ  
tận tình của nhà trường, các thầy giáo, cô giáo cùng bạn bè, người thân. Sau  
thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, đến nay em đã hoàn thành đề tài  
tốt nghiệp của mình.  
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Ban  
chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và  
đặc biệt là thầy giáo ThS. Nguyễn Việt Hưng người đã trực tiếp, tận tình  
hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên  
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2019  
Sinh viên  
LÒ THỊ PHƯỢNG  
 
iv  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
v
MỤC LỤC  
vi  
PHỤ LỤC  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1.Đặt vấn đề  
Trúc sào là một cây có nguồn gốc từ nước ngoài, nhưng đã được nhập  
vào Việt Nam từ rất lâu đời nên đã gần như trở thành cây bản địa của Việt  
Nam hoặc đã trở thành các thứ cây trồng mới (new cultivar). Đây là một loại  
tre có nhiều giá trị, đặc biệt là nguyên liệu quý cho sản xuất đồ mỹ nghệ, bàn  
ghế, cần câu, gậy trúc.Trúc sào hay mao trúc là loài tre phổ biến và được  
trồng trên diện tích lớn nhất của Trung Quốc. Do điều kiện trồng trọt, loài trúc  
này đã có đến 9 thứ cây trồng (cultivar). Cây trúc sào được trồng nhiều ở Việt  
Nam hiện nay có nguồn gốc từ loài mao trúc của Trung Quốc. Nhưng trong  
điều kiện trồng trọt mới của Việt Nam, nó đã có nhiều biến đổi. Cần phải  
nghiên cứu lại tên khoa học của loài trúc sào cao bằng, vì so với mao trúc (P.  
heterocycla), trúc sào cao bằng của Việt Nam có một số sai khác sau: Thân  
trúc cao bằng nhỏ hơn mao trúc, khi chế biến thân mao trúc trắng hơn và  
không có vết sẫm màu của đốt.Trúc cao bằng rụng lá hàng năm chứ không  
phải 2 năm mới thay lá một lần như mao trúc. Trúc sào cao bằng mỗi năm  
hình thành một chu trình là: sinh thân ngầm, ra măng, thành cây, thay lá. Còn  
mao trúc thì 2 năm mới hoàn thành một chu trình: một năm ra măng. Một năm  
ra thân ngầm và 2 năm mới thay lá.  
Vấn đề phân loại chính xác loài trúc sào cao bằng cũng như tính đa  
dạng của chúng cần được nghiên cứu kỹ hơn. Đây là cơ sở khoa học phục vụ  
cho việc chọn giống để phát triển trúc sào có hiệu quả cao. Trúc sào được  
trồng nhiều tại Cao Bằng (Bảo Lạc, Nguyên Bình) và Hà Giang. Sau này các  
tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh cũng đã nhập loài trúc  
sào vào để trồng ở các vùng có đồng bào Dao, Mông, Tày, Nùng sinh sống.  
Thân trúc sào là sản phẩm quan trọng nhất; do thân thẳng, to, tròn đều, mắt ít  
nổi, dễ uốn và nếu được chế biến tốt, thân có màu vàng ngà, sáng bóng rất  
đẹp. Thân trúc sào được sử dụng vào rất nhiều việc như: làm đồ thủ công, mỹ  
     
2
nghệ, làm cần câu, gậy trượt tuyết, sào nhảy cao, đan mành, làm chiếu, đóng  
bàn ghế rất có giá trị. Đó là những mặt hàng, đặc biệt dùng cho xuất khẩu.  
Thân trúc sào còn dùng làm nguyên liệu giấy, sợi rất tốt. Đây là nguồn  
nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp giấy của Trung Quốc. Gần đây  
trúc sào được dùng làm ván ghép và ván thanh để trang trí nội thất, làm ván  
sàn và đóng đồ đạc thay gỗ, rất có triển vọng.  
Hiện nay việc sử dụng trúc sào với các loại sản phẩm ở vị trí khác  
nhau trên thân cây chưa đem lại hiểu quả và phù hợp với từng tính chất của  
các các vị trí đó việc sử dụng cây trúc sào hiện nay chỉ dựa trên kinh nghiệm  
của người dân và các cơ sở sản xuất. vậy nên việc “Nghiên cứu ảnh hưởng  
của vị trí trên cây đến cây cấu tạo và tính chất vật lý của cây trúc sào  
(Phyllostachys edulis) tuổi 3 trồng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” là hết  
sức cần thiết góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng từng vị trí  
của cây trúc sào vào mục đích mong muốn để đạt hiệu quả cao nhất.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xác định được cấu tạocác vị trí khác nhau trên cây trúc sào tuổi 3.  
- Xác định được mối quan hệ giữa vị trí trên thân cây đến tính chất vật  
lý của trúc sào tuổi 3.  
1.3. Ý nghĩa đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học  
Đề tài là cơ sở khoa học cho việc phân tích sự biến đổi tính chất vật lý  
ở các vị trí trên trúc sào và định hướng sử dụng theo vị trí cho loại cây này.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Xác định được hướng sử dụng của loại cây trúc sào tuổi 3 theo vị trí.  
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho người dân tại các  
cơ sở chế biến sử dụng hợp lý các vị trí trên thân cây tránh lãng phí và tận  
dụng triệt để nguồn tài nguyên tại trúc sào tuổi 3.  
       
3
Phần 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam  
2.1.1. Nghiên cứu chung về tre trúc ở trên thế giới  
Tre là một tài nguyên rừng, một nhóm lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị.  
Tre trên thế giới phân bố trên 3 khu vực: Châu Á Thái Bình Dương, Châu Phi  
và Châu Mĩ. Tre thuộc phân họ tre (Bambussoideae), hộ Cỏ (Poaeceae) với  
khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Nhiều loài tre có  
đặc tính mọc thành rừng. Đã thống kê được trên 14 triệu ha rừng tre phân bố  
từ xích đạo qua vùng nhiệt đới đến vùng hàn và ôn đới, nghĩa là từ 15 độ vĩ  
Bắc đến 47 độ vĩ Nam đều có tre sinh trưởng. Nhiều tre nhất là Trung Quốc,  
với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre. Nước nhiều tre  
thứ hai là Nhật Bản với 13 chi và trên 230 loài. Tiếp đó là các nước Ấn Độ,  
các nước Nam và đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. [1]  
Do tre vừa là nguyên liệu lại vừa là vật liệu, nên nhiều nước trên thế  
giới đã tiến hành nghiên cứu, thí nghiệm về tính chất vật lý và cơ học của tre.  
Có lẽ tác phẩm đầu tiên nghiên cứu tre trúc trên thế giới là của tác giả  
Munro được xuất bản vào năm 1868 với tựa đề: “Nghiên cứu về  
Bambusaceae”. Sau đó là đến tác phẩm của tác giả Gamble viết về “Các loài  
tre trúc ở Ấn Độ” được xuất bản vào năm1896. Trong tác phẩm này, tác giả  
đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn  
Độ và một số loài tre trúc phân bố ở Pakistan, Srilanca,Myanma, Malaysia và  
Inđônesia. Theo ý kiến của Gamble (1896) thì các loài tre trúc là loài thực vật  
chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ví dụ: loài Bambusapolymorphe  
phân bố trong tự nhiên đã chỉ thị cho đặc điểm đất đủ ẩm gần như quanh năm  
và có hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng tương đối cao: “Đất có độ phì  
tự nhiên cao hay đất tốt”; do đó, nó phân bố trong kiểu rừng tự nhiên thường  
       
4
xanh, ẩm. Nhưng trái lại, loài Dendrocalamus strictus phân bố trong tự nhiên  
lại chỉ thị cho điều kiện đất đai khô hạn, thuộc kiểu rừng tự nhiên thưa, rụng  
lá.Trong tác phẩm “Bàn về công tác tái sinh tự nhiên và quy hoạch rừng tre  
trúc” của tác giả S.K. Seth (người Ấn Độ) xuất bản cách đây gần 20 thập kỷ  
đã có nhận xét: “Mỗi loài tre trúc khác nhau đều có tính quần cư rõ rệt và có  
khu vực sinh trưởng rất rõ ràng, bởi vậy chúng có thể chỉ thị rất tốt cho các  
kiểu rừng trong tự nhiên và các kiểu rừng này đều có liên quan chặt chẽ đến  
các đặc điểm, tính chất và độ phì của đất”. Theo một số tác giả trong đó có Y.  
S Ahmad nghiên cứu tre trúc phân bố tự nhiên ở Pakistan nhận thấy các loài  
tre thân mọc cụm thường thích nghi trên đất feralit có thành phần cơ giới  
nặng, với hạt sét chiếm ưu thế và đất phải thoát nước tốt. Còn ở một số nước  
Mỹ La tinh, người dân lâu nay đã có kinh nghiệm dựa vào sự phân bố của loài  
tre Guadua để chọn nơi đất có điều kiện trồng chuối tốt.Trong tác phẩm  
“Rừng tre trúc” tập 1 do FAO xuất bản năm 1959, các tác giả I. T.Haig, M. A  
Huberman và U Aung Din đã đưa ra nhận xét: Sự phân bố tự nhiên của các  
loài tre trúc ở Myanma cũng chỉ thị tương đối tốt các điều kiện đất đai ở nơi  
đó. Ví dụ, loài Bambusa polymorphe chỉ thị cho điều kiện đất tốt, đủ ẩm  
quanh năm và thoát nước tốt, loài Bambusa arundinaria cũng chỉ thị cho điều  
kiện đất tốt, đủ ẩm và giàu các chất khoáng dinh dưỡng, thuộc loại đất phù sa  
thung lũng... Ngược lại, loài Dendrocalamus strictus lại chỉ thị cho điều kiện  
đất khô.Còn ở Trung Quốc, nơi có diện tích rừng tre trúc phân bố rộng đứng  
thứ 2 trên thế giới chỉ xếp sau Ấn Độ, với số lượng loài tre trúc phong phú  
nhất trên thế giới: 500 loài thuộc 50 chi, đã được trình bày một phần quan  
trọng trong tác phẩm “Trúc loại kinh doanh” của tác giả Ôn Thái Huy (Trung  
Quốc) xuất bản năm 1959, trong tác phẩm này tác giả đã đề cập tới các loài  
tre trúc quan trọng của Trung Quốc và các phương thức kinh doanh chúng. Ở  
Trung Quốc một số loài tre trúc như loài Mao Trúc, chiếm tới 75% sản phẩm  
xuất khẩu măng tre của Trung Quốc sang Nhật Bản, đã đuợc nghiên cứu sâu  
5
về quá trình sinh trưởng, dinh dưỡng sinh sản thân ngầm và thân khí sinh,  
bằng phuơng pháphiện đại, đồng vị phóng xạ v.v... Các kỹ thuật gây trồng  
rừng mao trúc cao sản của tác giả Lý Đại Nhật, Lâm Cường; được Nhà xuất  
bản Khoa học kỹ thuật tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) xuất bản tháng 5 năm  
2000 có thể giúp chúng ta rút ra các biện pháp kỹ thuật thâm canh cho rừng  
trúc sào của Việt Nam được trồng nhiều ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn.[5]  
Gần đây ở Trung Quốc, người ta đã tập trung vào nghiên cứu các kỹ  
thuật trồng tre trúc lấy măng cao sản được giới thiệu trong các tác phẩm: “Kỹ  
thuật gây trồng tre trúc lấy măng cao sản” của Hà Quân Triều, Kim Ái Võ,  
Châu Ngạch - Nhà xuất bản Kim Thuẫn tháng 3 năm 2002; “Kỹ thuật gây  
trồng trúc hướng măng và chế biến măng thực phẩm” của Vương Hiến Bồi -  
Nhà xuất bản KHKT và Phổ cập kiến thức Thượng Hải xuất bản tháng 1 năm  
2003. Vấn đề trồng rừng tre trúc lấy măng đã và đang bắt đầu được thực hiện  
ở một số địa phương nước ta, để nâng cao giá trị kinh tế của rừng tre trúc Việt  
Nam. Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản cũng có diện tích rừng tre trúc tương đối  
lớn, với 237 loài tre trúc khác nhau, chủ yếu là các loài tre mọc tản, dạng roi.  
Ở Nhật Bản, nguời ta cũng tập trung nghiên cứu cơ bản khá sâu, về dinh  
dưỡng và sinh truởng của các loài tre trúc và đã được giới thiệu trong tác  
phẩm “Nghiên cứu sinh lý tre trúc” của Tiến sĩ khoa học Koichiro Ueda (giáo  
sư trường đại học Kyoto - Nhật Bản) xuất bản năm 1960. Trong tác phẩm  
này, tác giả đã nhận xét sự khác nhau về đặc điểm đất trồng 2 loại trúc  
Phyllostachys reticulta và Phyllostachys edulis ở các nơi đất sinh trưởng tốt  
và xấu như sau: “Nơi đất tre trúc sinh trưởng tốt là nơi đất luôn có độ xốp cao,  
độ ẩm khá, khả năng giữ nước lớn, thoát nước tốt. Hàm lượng cấp hạt sét (%),  
hàm lượng mùn (%), hàm lượng N tổng số (%), hàm lượng K2O và CaO (hoà  
tan trong axit HCl nóng) đều cao hơn rõ rệt so với nơi đất trồng rừng tre trúc  
sinh trưởng xấu. Riêng về hàm luợng P2O5 trong đất lại không có sự khác  
nhau rõ ràng giữa nơi đất trồng rừng tre trúc tốt và xấu”. Cũng trong tác phẩm  
6
này, tác giả Koichiro Ueda đã đưa ra các số liệu phân tích đất dưới các rừng  
tre Bambusa arundinaria và Melocana bambusoides tại Madras và Assam  
thuộc Ấn Độ cho thấy:  
- Đất có độ xốp lớn: từ 57 – 61%  
- Hàm lượng hữu cơ trong đất trung bình khá (1,03 – 2,15%C).  
- Hàm lượng N trong tổng số % từ trung bình đến khá (0, 14 – 0,22%).  
- Tỷ lệ C/N thấp, biểu hiện mùn chứa nhiều đạm và cường độ phân giải  
của chất hửu cơ trong đất dưới rừng diễn ra khá nhanh.  
- Hàm lượng K2O (%) hòa tan trong dung dịch axit HCl với nồng độ  
1/3 N, vào loại khá  
- Hàm lượng P2O5 (%) trong dất tương đối thấp.  
Vấn đề phân loại tre trúc là một vấn đề phức tạp, có nhiều khó khăn so với  
phân loại các loài cây gỗ. Năm 1995, Rao và Biswas và tiếp tục đến năm 1999  
Rao và Li đã phân loại và hệ thống các loài tre trúc phân bố trên thế giới, gồm  
1250 loài, thuộc 75 chi. Trong đó châu Á là châu đặc biệt giàu có về các loài  
tre, tới 900 loài, thuộc 65 chi. Ở châu Á thì Trung Quốc là nước có nhiều loài  
tre trúc nhất, có tới 500 loài, thuộc 39 chi. Sau Trung Quốc là Inđônexia có  
135 loài, thuộc 21 chi và xếp thứ 3 là Ấn Độ có 130 loài, thuộc 18 chi. Theo  
Dransfield và Widjaja (1995) thì ở Đông Nam Á có khoảng 200 loài tre, thuộc  
20 chi. Ở Đông Nam Á, chi Bambusa có nhiều loài nhất, khoảng 37 loài, sau  
đó đến chi Schizostachyum khoảng 30 loài và chi Dendrocalamus có khoảng  
29 loài, bên cạnh đó có tới 8 chi tre trúc ở Đông Nam Á chỉ có từ 1 loài đến 2  
loài mà thôi.[5]  
Các nghiên cứu về tre trúc ở trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa  
dạng. Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc của Munro (1868).  
Sau đó có nghiên cứu về các tre trúc Ấn Độ (Gamble 1868) trong đó tác giả  
có mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số nước láng  
giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia, Indinesia. Tác giả cũng cho  
7
rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất.  
Haig và cộng sự (1959) cũng bình luận rằng sự phân bố tự nhiên của tre trúc ở  
Myanma cũng chỉ thị rất tốt các điều kiện đất đai ở đó.[1]  
Năm 1996 Zhang- min, Kawasaki- T, Giang- Ping Trường Đại học  
Kyoto, Viện nghiên cứu gỗ Nhật Bản đã thành công với đề tài: “ Nghiên cứu  
nghệ sản xuất các tính chất ván tổng hợp tre gỗ”.  
Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều những nghiên cứu về phân loại, kỹ  
thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến và cả về thị  
trường tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và  
Phạm Đức Tuấn 2007). [4]  
Xiaobo Li (2004) đã nghiên cứu sự biến đổi về tính chất cơ học của tre  
(Phyllostachys pubescens) thay đổi theo tuổi (1,3,5) về chiều cao cũng như  
lớp ngang. Tính chất như dộ bền uốn tĩnh (MOR), modun đàn hồi (MOE) và  
nén đều tăng từ tuổi 1 đến tuổi 5. Theo chiều cao, tính chất cơ học có biến đổi  
giữa phần gốc, thân và ngọn nhưng mỗi cấp tuổi lại có quy luật khác nhau.  
Theo chiều ngang, tính chất ở ngoài (sát với cật) cao hơn ở phần bên trong  
(sát với ruột) (Xiaobo Li, 2004). [19]  
Trung tâm nghiên cứu quốc gia về tre của Trung Quốc đã nghiên cứu  
tính chất của tre cho thấy, đối với Mao trúc (Moso) độ bền nén và độ bền uốn  
tĩnh của Mao tính tăng dần từ gốc đến ngọn (China National Bamboo research  
center 2001).[16]  
Theo M. Kamruzzaman (2008) đã nghiên cứu tuổi cây và vị trí trên  
cây có ảnh hưởng lớn đến tính chất của tre, tác giả đã đưa ra được sự ảnh  
hưởng của tuổi và vị trí trên cây ảnh hưởng đến tính chất cơ học của 4 loại tre  
gồm: Bambusa balcooa, Bambusa tulda, Bambu salarkhanii, Melocanna  
baccifera. Tuy nhiên, ở 4 loại này đều có sự biến động tính chất theo những  
quy luật khác nhau (M.Kamruzzaman và A.K.Bose và M.N.Islam.S.K.Saha,  
2008).[18]  
8
Juan Franrisco Correal D., Junliana Arbelaez C.(2010) đã nghiên cứu  
ảnh hưởng của tre và vị trí trên thân cây đến tính chất cơ học của tre  
Guaduaangustifolia kunt (Guadua a.k.) kết quả phân tích cho thấy từ tuổi 2 –  
tuổi 5 và ở vị trí khác nhau theo chiều cao có sự ảnh hưởng đến tính chất của  
Guadua a.k. cho thấy rằng tính chất tăng từ tuổi 2-4 (28,6-40,4 MPa) và giảm  
xuống tuổi 5 (35,2 MPa), vị trí trên cây cho thấy loài Guadua a.k. cũng có  
hướng tăng lên từ gốc đến ngọn. Độ bền uốn tính và modun đàn hồi của  
Guadua a.k. tăng theo tuổi cây từ 2- 4 tuổi (MOR: 92,7- 98,5 MPa) và tuổi 5  
giảm xuống (MOR: 93,5 MPa), với vị trí trên cây cũng ảnh hưởng đến tính  
chất này và tăng dần từ gốc đến ngọn (MOR: tăng từ 88,6- 104,1 MPa) (Juan  
Francisco Correal D và Juliana Arbelaez C, 2010).[17]  
F. R. Falayi, B. O. Soyoye (2014) đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của tuổi  
và vị trí trên cây đến tính chất của tre phyllostachys Pubesces. Kết quả nghiên  
cứu cho thấy, tính chất cơ học của tre khác biệt giữa tuổi cây và vị trí trên cây,  
độ bền uốn tĩnh của phyllostachys Pubesces có sự biến dổi theo hướng tăng  
lên theo tuổi 1 - 3 – 5 (1117,49 – 190 MPa) và cũng tăng lên từ gốc đến ngọn  
(153,40- 157,73 MPa). Tương tự như vậy, mô đun đàn hồi cũng có sự biến  
đổi theo quy luật đó, tuổi 1 - 3 - 5 tương ứng là: 8380,87 - 10093,53 -  
13188,80 MPa và cũng theo vị trí trên cây cũng thấy sự biến đổi đó tương ứng  
là : 10210,53 - 10653,87 - 10789,80 MPa (F. R. Falayi, B. O. Soyoye,  
2014).[15]  
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về tre ép khối của các  
nước Trung Quốc, Australia, Nhật Bản, Đức, Anh, Canada, Mỹ, Malaysia, Ấn  
Độ, Thái Lan, Indonesia, Philippines. Chủ yếu là ván PSL (Paralell Strand  
Lumber), ván ép lớp tre (Mat Plybamboo), ván mành tre (Curtain  
Plybamboo), ván dán tre (Plybamboo). Những kết quả nghiên cứu đã công bố  
tập trung vào chất lượng sản phẩm như khối lượng thể tích có thể lên đến 1,0–  
9
1,2 g/cm³, độ bền uốn tĩnh đạt tới 120–180 MPa, mô dun đàn hồi đạt tới  
16x10³ MPa, còn yếu tố công nghệ khác chưa được công bố nhiều.  
2.1.2. Nghiên cứu chung về tre trúc ở Việt Nam  
Có thể nói công trình nghiên cứu đầu tiên về tre trúc ở Việt Nam là  
công trình phân loại các loài tre trúc ở Việt Nam do Le Comte chủ biên được  
xuất bản năm 1923 trong bộ sách “Thực vật chí Đông Dương”. Đến năm  
1974, các nhà phân loại thực vật: Phan kế Lộc, Vũ Văn Dũng đã nghiên cứu  
phân loại các loài tre trúc ở miền Bắc Việt Nam. Năm 1971, cuốn sách “Nhận  
biết, gây trồng bảo vệ và khai thác tre trúc” do Lê Nguyên chủ biên (Nhà xuất  
bản nông thôn) chỉ nói tới một số loài tre trúc chủ yếu ở Việt Nam.Đến năm  
1999, khi nhà nước đã thống nhất, Phạm Hoàng Hộ đã phân loại các loại tre  
trúc ở Việt Nam có tới 123 loài, thuộc 23 chi. Do yêu cầu bức xúc của sản  
xuất và được tài trợ dự án “ Đa dạng loài và bảo tồn ex-situ một số loài tre ở  
Việt Nam” của văn phòng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, thược viện  
Tài nguyên Di truyền thực vật Thế giới (PGRI) tài trợ - Viện khoa học Lâm  
nghiệp đã mời 2 chuyên gia phân loại tre trúc của Trung Quốc là giáo sư  
LiDzhu và giáo sư Xia Nianhe sang giúp Việt Nam phân loại các chi và các  
loài tre trúc ở Việt Nam . Nội dung nghiên cứu này được giới thiệu trong cuốn  
sách “Tre trúc Việt Nam” gồm 206 trang, xuất bản 2005. Bên cạnh đó cũng  
có một số công trình nghiên cứu nhỏ được thực hiện như: “Tìm hiểu về đặc  
tính sinh vật học của cây Vầu” của Nguyễn Văn Tích, Viện Lâm nghiệp, công  
bố vào năm 1964. “Kết cấu về quần thể rừng trúc” tác giả Trần Đức Hậ, Tập san  
Lâm nghiệp số 11/1977. “Đặc điểm rừng tre Mạy sang, phân bố tự nhiên vùng  
Tây Bắc” của Nguyễn Văn Bơ ( Viện ĐTQHR- Bộ Lâm nghiệp),1984. [4]  
Do có nhiều đặc tính quý nên tre nứa đã được sử dụng trong đời sống  
hàng ngày cũng như trong thủ công nghiệp và công nghiệp hiện đại. Đã thống  
kê được hơn 30 công dụng của tre nứa, trong đó những công dụng chính là  
làm hàng thủ công, mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu trong  
 
10  
công nghiệp giấy sợi và sản xuất măng tre làm thức ăn tươi hoặc khô. Ngoài  
ra, tre nứa là loài mọc nhanh, sớm cho sản phẩm, kỹ thuật gây trồng tương đối  
đơn giản, có khả năng sinh trưởng trên đất khó canh tác và đất hoang hoá, là  
loài đa tác dụng… nên tre nứa là nguồn tài nguyên phong phú đã và đang  
được con người sử dụng rộng rãi. Trong những năm gần đây có khá nhiều  
công trình nghiên cứu đi sâu nghiên cứu công nghệ chế biến và sử dụng tre  
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, góp phần giải quyết nguồn vật liệu cho  
ngành chế biến lâm sản tiêu biểu: Lê Văn Thanh và Triệu Hồng Phú (1986-  
1992) nghiên cứu về công nghệ và tuyển chọn thiết bị để sản xuất ván ốp  
tường, ván sàn trang trí nội thất bằng tre nứa; nghiên cứu sử dụng ván nứa ép  
ba lớp thay thế ván gỗ trong nhà của nhân dân vùng núi phía bắc của Nguyễn  
Minh Hoạt và công sự (2001). Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam đã được bắt  
đầu từ khá lâu. Có thể nói công trình nghiên cứu đầu tiên về tre trúc Việt Nam  
thuộc về một người Pháp trong ấn phẩm nghiên cứu về thực vật chí Đông  
Dương (Le Comte 1923. Trong những năm 1960, Phạm Quang Độ đã nghiên  
cứu về kỹ thuật trồng và khai thác tre trúc ở Việt Nam (Phạm Quang Độ  
1963). Cũng từ thời gian này, các nghiên cứu về phân loại, kỹ thuật nhân  
giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tre trúc, kỹ thuật bảo quản, chế  
biến tre trúc cũng được thực hiện. Ví dụ như: kinh nghiệm trồng luồng (Phạm  
Văn Tích 1963), Nghiên cứu đất trồng luồng (Nguyễn Ngọc Bình 1964), Phân  
loại tre trúc theo hình thái (Trần Đình Đại 1967), Bệnh hại tre (Trần Văn  
Maaxo1972), tính đến năm 2007, đã có trên 100 ấn phẩm nghiên cứu về tre  
trúc hoặc liên quan tới tre trúc đã được phát hành trên khắp cả nước. Từ năm  
1971 đến 2007 đã có trên 18 công trình liên quan lớn nhỏ đến phân loại, đặc  
điểm nhận biết và phân bố của các loài tre trúc, các loại và cấu trúc rừng của  
tre trúc ở Việt Nam. Các nghiên cứu này phần lớn là nghiên cứu độc lập về  
hình thái, giải phẫu, nhận biết, phân bố và công dụng của một số loài tre trúc.  
Ví dụ như cuốn sách “Tên cây rừng Việt Nam” do tác giả Nguyễn Tích và  
11  
Trần Hợp thực hiện được xuất bản năm 1971 đã lập lên bảng tra cứu tên cây  
theo tiếng Việt Nam và bảng tên cây theo họ thực vật. Đây tuy là những cuốn  
sách giúp tra cứu tên các loài cây rừng Việt Nam đầu tiên nhưng đã đề cập  
đến một số loài tre hữu ích mà nhân dân quen sử dụng, bao gồm 23 loài tre  
trúc, đó là Bương, Dang, Diễn, Diễn trứng, Hóp, Luồng Thanh Hóa, Mai,  
Nứa, Trúc đùi gà, Vầu, Vầu trồng... Xuất phát từ kết quả nghiên cứu quy luật  
sinh măng của nứa lá nhỏ, thông qua việc khảo sát hệ thống thân ngầm các tác  
giả đã xác định được tuổi và lập bảng tra tuổi cho lâm trường Tân Phong. Các  
kết quả được các tác giả Hải Âu đăng trên tập san Lâm nghiệp số 7 năm 1976  
với bài viết “Cách nhận biết nứa lá nhỏ”. Có thể nói bảng tra này được lập  
cho lâm trường Tân Phong, nhưng có thể là tài liệu tham khảo cho nhiều vùng  
khác có điều tương đồng. Nghiên cứu này hết sức quan trọng làm cở sở để  
tham khảo và cho nghiên cứu sau này.[1]  
Theo kết quả nghiên cứu của bộ Trường Đại học Lâm nghiệp cho thấy  
Tre gai (Bambusa Bambos) được lấy tại Đông Triều – Quảng Ninh có sự biến  
động về tính chất cơ học, cụ thể độ bền kéo, nén của tre gai tăng dần từ gốc  
đến ngọn, về độ bền uốn tĩnh của tre gai thì biến động theo hướng ngược lại là  
từ gốc đến ngọn ứng suất giảm dần (gốc: 440×10ˆ5 N/m2) (Lê Xuân Tình,  
1998). [11]  
Lê Thu Hiền (2003), đã nghiên cứu xác định được tính chất vật lí và cơ  
học của cây Luồng và Trúc sào. Kết quả cho thấy Luồng có tính chất cơ học  
cao hơn so với Trúc sào (Lê Thu Hiền, 2003).[7]  
Lê Thu Hiền, Phạm Văn Chương, đac nghiên cứu ảnh hưởng của kết  
cấu đến tính chất vật liệu composite dạng lớp từ tre và gỗ. Kết quả cho thấy  
tính chất của vật liệu composite sản xuất từ Luồng và Bồ đề cao hơn sản  
phẩm ván dán sản xuất từ gỗ bồ đề. [8]  
Theo kết quả tài liệu giáo trình khoa học gỗ 2016 cho thấy chiều cao  
thân khí sinh của trúc sao (Phyllostachise edulis) có ảnh hưởng đến tính chất  
12  
cơ học. Cụ thể, các tính chất cơ học của trúc sào đều biến đổi theo quy luật  
tăng từ gốc đến ngọn, độ bền nén dọc (60,9 – 71,1 MPa) độ bền uốn tĩnh  
(138,7 – 170,1 MPa) độ bền trượt dọc (16,7 – 20,7 MPa) ( Vũ Huy Đại và  
cộng sự, 2016).[6]  
Nguyễn Việt Hưng, Phạm Văn Chương (2018), đã nghiên cứu ảnh  
hưởng của tuổi cây, vị trí trên thân cây đến tính chất cơ học của Luồng. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy tính chất cơ học cơ học của Luồng biến đổi theo vị  
trí và tuổi cây là khá rõ, theo vị trí trên cây ở các tuổi cây đều có biến đổi theo  
một quy luật tăng từ gốc đến ngọn. Theo tuổi cây, các vị trí đều có sự biến,  
các tính chất đạt được giá trị cao nhất thường ở tuổi 3 và tuổi 4 và giảm xuống  
ở tuổi 5.Theo tuổi cây: Tại vị trí gốc,độ bền nén dọc thớ, độ bền uốn tĩnh, mô  
đunđàn hồi khi uốn tĩnh biến đổi theo quy luật nhất định và đạt giá trị lớn nhất  
ở tuổi 3, độ bền nén dọc thớ đạt 46,55MPa, độ bền uốn tĩnh đạt 98,60MPa,  
mô đunđàn hồiđạt 8335,4MPa, riêng đối với trượt dọc thớ đạt cao nhất ở tuổi  
4 đạt 6,41MPa. Tại vị trí thân cây, độ bền nén dọc thớ, độ bền uốn tĩnh, mô  
đun đàn hồi biến đổi theo quy luật nhất định và đạt giá trị lớn nhất ở tuổi 4,  
nén dọc thớ đạt 52,49MPa, độ bền uốn tĩnh đạt 115,87MPa, mô đunđàn  
hồiđạt 10895,1MPa, đối với độ bền trượt dọc thớ tại vị trí này đạt giá trị lớn  
nhất ở tuổi 3 đạt 7,11MPa. Tại vị trí ngọn: độ bền nén dọc thớ, độ bền uốn  
tĩnh, mô đun đàn hồi uốn tĩnh biến đổi theo quy luật nhất định và đạt giá trị  
lớn nhất ở tuổi 4, nén dọc thớ đạt 59,70 MPa, độ bền uốn tĩnh đạt 129,30  
MPa, mô đunđàn hồi uốn tĩnh đạt 12720,5MPa, đối với độ bền trượt dọc thớ  
tại vị trí này đạt giá trị lớn nhất ở tuổi 3 đạt 7,07MPa. Theo vị trí trên cây: Sự  
biến đổi về tính chất cơ học của Luồng có biến đổi theo một quy luật khá rõ.  
Với các tuổi của Luồng trong nghiên cứu này, các tính chất có sự biến động  
tăng dần từ gốc đến ngọn. Độ bền nén dọc thớ biến đổi trong khoảng 35,02-  
52,14MPa, độ bền uốn tĩnh biến đổi trong khoảng 72,72-129,0MPa, mô  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 95 trang yennguyen 17560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cây cấu tạo và tính chất vật lý của cây trúc sào (Phyllostachys edulis) tuổi 3 trồng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_anh_huong_cua_vi_tri_tren_cay_den_cay_c.pdf