Khóa luận Đánh giá hiệu quả sản xuất cao su tiểu điền trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị

ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN  
----------  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CAO SU TIỂU ĐIỀN  
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRIỆU PHONG,  
TỈNH QUẢNG TRỊ  
LÊ THỊ QUỲNH NHƯ  
HUẾ, 05/2016  
ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN  
----------  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CAO SU TIỂU ĐIỀN  
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRIỆU PHONG,  
TỈNH QUẢNG TRỊ  
Sinh viên thực hiện:  
Lê Thị Quỳnh Như  
Lớp: K46B_ KTNN  
Niên khóa: 2012-2016  
Giảng viên hướng dẫn:  
Th.S: Nguyễn Công Định  
HUẾ, 05/2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự  
của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát  
tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Công Định  
Các số liệu, mô hình toán và những kết quả trong luận văn là trung thực, các giải  
pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa từng được công bố dưới bất kỳ  
hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi “Hội Đồng đánh giá luận văn tốt  
nghiệp ”.  
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.  
Sinh viên thực hiện  
Lê Thị Quỳnh Như  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
MỤC LỤC  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
1
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
2
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU  
Ai  
Gía trị doanh thu năm thứ i  
ĐVT  
FV  
GO  
I
Đơn vị tính  
Gía trị tương lai  
Tổng giá trị sản xuất  
Năm thứ i  
IC  
Chi phí trung gian  
Khấu hao  
KH  
KTCB  
N
Kiến thiết cơ bản  
Số năm của chu kì sản xuất  
Gía  
P
Q
Sản lượng  
R
Lãi xuất chiết khấu  
Sản xuất bình quân  
Tổng chi phí sản xuất  
Thời kỳ kinh doanh  
SXBQ  
TC  
TKKD  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
4
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
5
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU  
Đề tài nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả sản xuất cao su tiểu điền trên địa bàn huyện  
Triệu Phong. Khóa luận bao gồm những nội dung và kết quả nghiên cứu cơ bản như  
sau:  
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu  
Đề cập đến các khái niệm về hiệu quả kinh tế; đặc điểm sinh học, yêu cầu kỹ thuật  
của cây của cây cao su.  
Tình hình xuất khẩu và tiêu thụ cao su ở Việt Nam: Cao su ở Việt Nam xuất khẩu  
tăng cao ở năm 2011 và có xu hướng giảm vào năm 2014, và xuất khẩu chủ yếu qua các  
nước và theo thứ tự xuất khẩu như sau: Cao nhất là Trung Quốc đến lần lượt là ASEAN,  
Ấn Độ, EU, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ucraina.  
Tình hình phát triển cao su trên địa bàn Quảng Trị: Tỉnh Quảng Trị cũng đang có  
nhiều biện pháp cũng như chính sách đồng thời tăng về cả diện tích lẫn năng suất của  
cao su tiểu điền. Năm 2013 sản lượng cao su tỉnh Quảng Trị đạt 20345 tấn, năm 2014  
sản lượng là 22564 tấn và tăng10,91% so với năm 2013. Năm 2015 cao su tiểu điền  
đưa sản lượng của mình lên 26786 tấn, tốc độ tăng trưởng đạt 118,71%.  
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu:Tổng giá trị sản xuất , Chi phí trung gian, Chi phí đầu tư  
cơ bản bình quân, Tổng chi phí sản xuất, Lợi nhuận, Năm hòa vốn đầu tư, Gía trị tương lai  
của khoản đầu tư.  
Chương 2: Đánh giá hiệu quả sản xuất cao su tiểu điền trên địa bàn huyện Triệu  
Phong, tỉnh Quảrị  
Đề cập đến điều kiện tự nhiên, Kinh tế xã hội của huyện Triệu Phong  
Tình hình sản xuất của các hộ: Trong tổng số 50 hộ được điều tra thì 100% tham  
gia các buổi tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cao su đầy đủ. Điều  
này chứng tỏ người dân đã tự ý thức được tầm quan trọng của các buổi tập huấn ảnh  
hưởng trực tiếp tới năng suất thu hoạch của cao su. Tuy nhiên nếu so với mức năng  
suất và sản lượng cao su đạt được của toàn huyện thì rõ ràng các chương trình tập huấn  
chưa thực sự đem lại được kết quả tốt nhất.  
Theo số liệu điều tra, diện tích đất canh tác cao su bình quân của mỗi hộ là 2,015  
ha, diện tích này khá nhỏ, không mang lại hiệu quả cao trong sản xuất, ngoài ra diện  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
6
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
tích còn bị chia cắt thành nhiều mảnh khá manh mún, đây cũng là một trở ngại lớn cho  
người dân trong công tác chăm sóc và thu hoạch.  
Bước sang năm thứ 9, hía trị tích lũy GO bù đắp được giá trị tích lũy IC nên đây  
là năm thu hồi vốn đầu tư, và bắt đầu thu lại lợi nhuận.  
Tình hình tiêu thụ cao su trên địa bàn huyện Triệu Phong:Huyện Triệu Phong là  
đơn vị mới phát triển cây cao su trong những năm gần đây, sản phẩm cao su chưa có,  
nên chưa có cơ sở chế biến tiêu thụ cao su. Tuy nhiên trên địa bàn tỉnh hiện nay có 7  
cơ sở chế biến mủ cao su của các đơn vị:  
- Công ty Cao su Quảng Trị công suất 10.000 tấn/ năm.  
- Công ty CPNS Tân Lâm: Công suất 1.000 tấn/ năm.  
- Công ty TNHH Trường Anh: Công suất 3.000 tấn/ năm.  
- Công ty Cao su Bến Hải: Công suât 4.500 tấn/ năm.  
- Công ty Cao su Trần Dương (Vĩnh Long, Vĩnh Linh: Công suất 500 tấn/năm.  
- Công ty Cao su Trường Sơn (Vĩnh Hà, Vĩnh Linh): Công suất 3.000 tấn/năm.  
- Cơ sở thu mua chế biến mủ Crếp của ông Tính (Vĩnh Thủy) công suất 500  
tấn/năm.  
Chương 3: Những định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cây cao su  
Có các giải pháp về đất đai, hạ tầng, vốn. kỹ thuật.  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
7
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
PHẦN I: MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Cao su là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, sản phẩm chính là mủ  
cao su – nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp, ngành vận tải. Do  
tính chất đặc biệt của cao su tự nhiên mà cao su nhân tạo không thể thay thế để sản  
xuất một số sản phẩm kỹ thuật có giá trị kinh tế cao. Hết chu kỳ kinh doanh, khi  
thanh lý cây cao su cho một khối lượng gỗ rất lớn, đây là nguồn nguyên liệu ổn định  
để sản xuất ra những sản phẩm đang được ưa chuộng trên thị trường trong nước và  
thế giới.  
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, có diện tích đất đỏ  
bazan rộng lớn, có điều kiện thuận lợi để phát triển cây công nghiệp dài ngày, trong  
đó có cây cao su. Hiện nay, chủ trương chính phủ là mở rộng diện tích trồng cao su  
tại các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên, và các tỉnh ở vùng Tây Bắc. Cây cao su  
không chỉ đem lại lợi ích kinh tế, tạo thêm việc làm, thu hút nhiều lao động, góp  
phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế xã hội mà con tăng cường củng  
cố xây dựng cở sở hạ tầng nông thôn, giữ vững an ninh quốc phòng đặc biệt là các  
vùng biên giới Tây Bắc và Tây Nguyên – nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh  
sống, chấm dứt tình trạng du canh du cư và phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo  
môi trường sinh thái.  
Với tỷ trọng 85-90% sản lượng được tiêu thụ tại thị trường quốc tế, cao su tự  
nhiên là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với kinh ngạch  
xuất khẩu liên tạt trên 1 tỷ USD/năm từ 2006.Khối lượng xuất khẩu cao su của  
Việt Nam tháng 12/2015 ước đạt 137 nghìn tấn đạt 156 triệu USD, với ước tính này  
năm 2015 đạt 1,13 triệu tấn, gí trị đạt 1,52 tỷ USD tăng 6,1% về khối lượng nhưng  
giảm 14,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.Hiện nay, Việt Nam nằm trong top 5  
quốc gia có kim ngạch xuất khẩu cao su tự nhiên hàng đầu thế giới cùng Malaysia,  
Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ.  
Quảng Trị là tỉnh nằm ở phía nam của Bắc Trung Bộ, thuộc khu vực nhiệt đới  
nóng ẩm có vùng đất bazan màu mỡ thích hợp cho việc trồng các cây công nghiệp lâu  
năm. Do vậy, phát triển cây công nghiệp lâu năm trong đó có cây cao su là một trong  
những hướng đi đúng đắn góp phần khai thác thế mạnh của vùng, giải quyết việc làm,  
tăng thu nhập và nâng cao đời sống của người dân. Tính đến hết năm 2015, tỉnh Quảng  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
8
   
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
Trị có 25796 ha cao su, trong đó có 19.929,6 ha cao su đã đưa vào khai thác. Tổng sản  
lượng đạt 14.923 tấn, với năng suất bình quân là 1,31 tấn/ha. Trong những năm gần  
đây, tỉnh Quảng Trị đã có nhiều chủ trương, chính sách, dự án nhằm nâng cao chất  
lượng và hiệu quả sản xuất cao su.  
Phát triển cao su tiểu điền trên địa bàn huyện Triệu Phong đã góp phần tạo công  
ăn việc làm, nâng cao đời sống cho người dân địa phương và đóng góp đáng kể vào sự  
phát triển kinh tế chung của Quảng Trị. Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển cây cao su  
trên địa bàn cũng đang gặp không ít khó khăn như: cơ sở hạ tầng chưa phát triển, trình  
độ kỹ thuật của bà con nông dân còn thấp, sâu bệnh diễn biến phức tạp…Ngoài ra, giá  
cao su giảm mạnh cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến tâm lý cũng như mức độ đầu tư  
cho các vườn cao su.  
Cây cao su được đánh giá là thế mạnh của huyện Triệu Phong cùng với các loại  
cây khác như mía, keo…Tuy nhiên, đa số cao su tiểu điền phát triển một cách tự phát,  
với quy mô nhỏ, thiếu vốn, thiếu khoa học kỹ thuật, việc tiếp cận với thị trường và trao  
đổi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ còn nhiều khó khăn. Lao động chủ yếu là lao động gia  
đình, người dân trình độ học vấn còn thấp, trình độ tay nghề và trình độ áp dụng khoa  
học kỹ thuật trong sản xuất cao su còn hạn chế. Vì vậy, năng suất vườn cây còn kém,  
hiệu quả kinh tế thấp, việc sản xuất cao su chưa thực sự bền vững so với tiềm năng  
hiện có của địa phương và so với địa bàn cả nước.  
Vì vậy việc nghiên cứu một cách có hệ thống để đánh giá đúng đắn sự tồn tại và  
phát triển cao su tiểu điền trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp  
nhằm phát huy hiềm năng sẵn có của địa phương, tăng thu nhập ổn định cho người  
dân và góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững là vấn đề  
có ý nghĩa sâu sắc với huyện Triệu Phong.  
Xuấ phát từ nhận định trên tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả sản xuất cao  
su tiểu điền trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” để làm đề tài nghiên  
cứu của mình.  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
9
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu tổng quát  
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu đánh giá hiệu quả sản xuất Cao su  
tiểu điền trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Từ đó, đề xuất một số giải  
pháp cần thiết nhằm phát triển sản xuất cây cao su trên địa bàn huyện, góp phần thúc  
đẩy phát triển kinh tế.  
2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản xuất cây dài ngày.  
- Hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học cũng như yêu cầu kỹ thuật của cây cao su.  
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển cao su tiểu điền trên địa bàn huyện  
Triệu Phong tỉnh Quảng Trị trong những năm qua.  
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cao su tiểu điền trên  
đia bàn huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị.  
- Đề xuất định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất cây cao su tiểu  
điền.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu chính của nghiên cứu là hiệu quả sản xuất cao su tiểu điền.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn hai xã Triệu Aí và Triệu Thượng  
thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.  
- Phạm vi tgian: Từ năm 2010-2015  
4. Phương pháp nghiên cứu  
4.1. Phương pháp thu thập số liệu  
-Số liệu thứ cấp:Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các niên giám thống  
kê,các báo cáo phát triển kinh tế xã hội của xã, huyện; các đề án, dự án phát triển cây  
cao su trên địa bàn. V.v. Ngoài ra, thông tin, số liệu thu thập được từ internet, báo chí,  
các đề tài và các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố cũng là cơ sở quan trọng  
trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.  
-Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp, ngẫu nhiên 50 hộ  
nông dân trồng cao su trên địa bàn xã Triệu Aí và Triệu Thượng thuộc huyện Triệu  
Phong.  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
10  
               
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
4.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu  
Số liệu chủ yếu được xử lý qua phần mềm excel, tính toán những chỉ tiêu số  
tương đối, tuyệt đối phản ánh quy mô, năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế sản  
xuất cao su tiểu điền.  
4.3. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo  
Phương pháp này dựa trên phỏng vấn sâu, lấy ý kiến từ các cá nhân có nhiều  
kinh nghiệm trong quá trình quản lý, chăm sóc và khai thác vườn cao su. Đây là nguồn  
thông tin đáng tin cậy để tác giả hiểu sâu hơn về đặc điểm sản xuất của địa phương,  
những thuận lợi và khó khăn trong quá trình canh tác, là căn cứ quan trọng trong quá  
trình phân tích và xây dựng hệ thống giải pháp.  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
11  
   
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀVẤN ĐỀNGHIÊN CỨU  
1.1. Lý luận chungvề hiệu quả kinh tế  
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng hoạt  
động sản xuất kinh tế và là đặc trưng của mọi nền sản xuất xã hội. Hiệu quả kinh tế được  
hiểu là mối tương quan so sánh giữa phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra với phần  
giá trị các yếu tố nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó được xét về cáo sánh tương đối  
và tuyệt đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó. (Đỗ Kim  
Chung, 1997)  
Hiệu quả kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau, hiện  
nay có 2 quan điểm cùng tồn tại:  
+ Quan điểm truyền thống: Quan điểm này cho rằng hiệu quả kinh tế là phần còn  
lại của hiệu quả sản xuất kinh doanh sau khi trừ đi chi phí bỏ ra, được đo bằng các chỉ  
tiêu lợi nhuận hay chỉ tiêu lãi. Các tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là  
tỷ lệ giữa kết quả sản xuất thu được với chi phí bỏ ra, hay là chi phí trên một đơn vị  
sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu cho biết mức sinh lời của đồng vốn,  
được tính toán sau chu kỳ sản xuất hay một quá trình sản xuất. Quan điểm này xác  
định hiệu quả sản xuất trong trạng thái tĩnh, sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả  
là chỉ tiêu không chỉ cho phép hiệu quả đầu tư mà còn giúp cho người sản xuất kinh  
doanh có nên đầu tư và đầu tư đến mức độ nào là có lợi nhất.  
Như vậy quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi xác định  
thu và chi cho moạt động sản xuất kinh doanh, vì thế việc tính toán hiệu quả kinh  
tế thường chưa thể đầy đủ và chính xác. Bởi vì, các hoạt động đầu tư và phát triển lại  
có những tác động không những đơn thuần về mặt kinh tế mà còn về cả mặt xã hội và  
môi trường, có những khoản thu và những khoản chi không thể lượng giá được, vì thế  
không thể hiện được mỗi khi sử dụng cách tính này.  
+ Quan điểm của các nhà kinh tế tân cổ điển như Lyn squire, herman G.Van  
Dertak (phân tích kinh tế các dự án, 1994) cho rằng hiệu quả kinh tế phải được xem  
xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Nhân tố thời gian  
rất quan trọng trong tính toán hiệu quả kinh tế, dùng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế để xem  
xét các quyết định cả trước và sau khi đầu tư sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế  
không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
12  
     
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
và hiệu quả môi trường. Vì vậy khái niệm thu và chi trong quan điểm tân cổ điển  
được gọi là lợi ích và chi phí.  
1.2. Đặc điểm sinh học và các yêu cầu kỹ thuật đối với cây cao su  
1.2.1. Đặc điểm sinh học  
Cây cao su có nguồn gốc ở Nam Mỹ, mọc hoang dại tại vùng Amazon khi được  
nhân trồng trong sản xuất với mật độ từ 400 -571 cây/ha và chu kỳ sống được giới hạn  
lại từ 30 - 40 năm, chia làm 2 thời kỳ:  
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB): Là khoảng thời gian 07 năm của cây cao su  
tính từ khi trồng cây. Đây là khoảng thời gian cần thiết để vanh thân cây cao su đạt 50  
cm đo cách mặt đất 1m. Tuỳ điều kiện sinh thái, chăm sóc và giống, ở điều kiện sinh  
thái đặc thù của vùng duyên hải miền Trung, thời gian KTCB phổ biến là từ 7 - 8 năm.  
Tuy nhiên, với điều kiện chăm sóc, quản lý vườn cây đúng quy trình, chọn giống và  
vật liệu trồng thích hợp thì có thể rút ngắn thời gian KTCB từ 06 tháng đến 01 năm.  
- Thời kỳ kinh doanh (TKKD): Là khoảng thời gian khai thác mủ cao su, cây cao  
su được khai thác khi có trên 50% tổng số cây có vành thân đạt từ 50 cm trở lên, giai  
đoạn kinh doanh có thể dài từ 25 - 30 năm. Trong giai đoạn này cây vẫn tiếp tục tăng  
trưởng nhưng ở mức thấp hơn nhiều so với giai đoạn KTCB. Sản lượng mủ thấp ở  
những năm đầu tiên, sau đó cao dần ở những năm cạo thứ ba, thứ tư đến năm thứ năm,  
năm thứ sáu năng suất đạt cao dần và ổn định. Sau giai đoạn trung niên khi cây ở tuổi  
cạo từ năm thứ 18 trở đi năng suất giảm nhanh do ảnh hưởng tới các yếu tố sinh lý,  
gãy đổ do mưa bão, bệnh… làm giảm mật độ vườn cây đồng thời năng lực tái tạo mủ  
của cây cũng gisút. Các yếu tố này là nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng suất  
mủ cao su.  
1.2.2. Yêu cầu kỹ thuật đối với cây cao su  
- Yêu cầu về kỹ thuật trồng:  
Đất đai: Cây cao su có thể sống trên hầu hết các loại đất khác nhau ở vùng nhiệt  
đới ẩm. Cây cao su thích hợp với các vùng đất có bình độ tương đối thấp: dưới 200m.  
Bình độ lý tưởng được khuyến cáo để trồng cao su là: vùng xích đạo, trong đó có Việt  
Nam, có thể trồng cao su ở độ cao đến 500-600m.  
Độ dốc: Cây cao su thường được trồng trên nền đất có độ dốc nhỏ hơn 8%. Với  
độ dốc 8-30% thì vẫn trồng được nhưng chú ý đến các biện pháp chống xói mòn. Độ  
dốc liên quan đến độ phì nhiêu của đất. Đất càng dốc thì xói mòn càng mạnh, khiến  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
13  
     
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
các chất dinh dưỡng trong đất, nhất là trong lớp đất mặt mất đi nhanh chóng. Khi trồng  
cao su trên đất dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ đất, chống xói mòn rất tốn  
kém như đê, mương, đường đồng mức.v.v…Hơn nữa, các diện tích cao su trồng trên  
đất dốc sẽ gặp nhiều khó khăn trong công tác trồng mới, chăm sóc, thu mủ và vận  
chuyển mủ về nhà máy chế biến.  
Độ sâu tầng đất: Độ sâu lý tưởng cho trồng cây cao su là 2m, tuy nhiên trong  
thực tế nếu độ sâu tầng đất là 0,8 - 2m thì vẫn có thể trồng được, độ PH trong đất thích  
hợp cho cây cao su là 4,5 – 5,5, giới hạn PH đất có thể trồng cao su là 3,5 – 7,0. Đất  
trồng cao su phải có cấp hạt sét ở lớp đất mặt (0 - 30cm) tối thiểu là 20%, ở lớp đất sâu  
hơn (>30cm) tối thiểu là 25%. Đất nơi có mùa khô kéo dài, thì thành phần đất sét phải  
đạt 30 - 40%. Ở các vùng khí hậu khô, đất có tỷ lệ sét từ 20 - 25% (đất cát pha sét)  
được xem là giới hạn cho cây cao su. Đất có thành phần hạt khô chiếm trên 50% trong  
0,8m lớp đất mặt là ít thích hợp cho việc trồng cao su. Các thành phần hạt thô sẽ gây  
trở ngại cho sự phát triển của rễ cao su và ảnh hưởng bất lợi đến khả năng dự trữ nước  
của đất.  
Khí hậu, nhiệt độ: Cây cao su là cây trồng nhiệt đới điển hình nên sinh trưởng  
bình thường trong khoảng nhiệt độ 22 - 30°C và khoảng nhiệt độ tối thích là 26 - 28°C  
(Nhiệt độ 25°C là nhiệt độ mà năng suất cây có thể đạt mức tối đa). Ở nhiệt độ này,  
môi trường sẽ mát dịu vào buổi sáng sớm (1 giờ đến 5 giờ), giúp cây sản xuất mủ cao  
nhất. Các vùng đất trồng cao su hiện nay trên thế giới phần lớn ở vùng khí hậu nhiệt  
đới, có nhiệt độ trung bình 20 - 28°C.  
Nhiệt độ thhơn 18°C, sẽ ảnh hưởng đến sức nảy mầm của hạt, tốc độ sinh  
trưởng của cây chậm lại. Nếu nhiệt độ thấp hơn 10°C, hạt mất sức nảy mầm hoàn toàn,  
đối với cây ngoài vườn bị rối loạn hoạt động trao đổi chất và chết nếu nhiệt độ này kéo  
dài. Nhiệt độ thấp hơn 5°C, cây sẽ bị nứt vỏ, chảy mủ hàng loạt, đỉnh sinh trưởng bị  
khô và cây chết. Nếu nhiệt độ lớn hơn 30°C, sẽ gây hiện tượng mủ chảy dai trong khai  
thác, làm giảm năng suất mủ. Nhiệt độ mà cao hơn 40°C, gây ra hiện tượng khô vỏ ở  
gốc cây và dẫn đến chết.  
Lượng mưa và độ ẩm: Cây cao su thường được trồng trong những vùng có lượng  
mưa 1800 - 2500mm/năm, số ngày thích hợp là 100 - 150 ngày/năm. Ẩm độ không khí  
bình quân thích hợp cho sự phát triển của cây cao su trên 75%, đồng thời độ ẩm không  
khí cũng thể hiện tương quan tỷ lệ thuận với dòng chảy mủ khi khai thác. Bên cạnh  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
14  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
lượng mưa thì sự phân bố mưa và tính chất cơn mưa cũng rất quan trọng. Việc khai  
thác mủ tập trung vào buổi sáng, vì thế số ngày mưa vào buổi sáng nhiều thì năng suất  
càng giảm.  
Khả năng chịu hạn: Cây cao su có khả năng chịu hạn cao hơn một số cây công  
nghiệp khác như tiêu, cà phê,.v.v… Tuy nhiên, cây cao su trồng mới từ 6 tháng trở  
xuống không thể chịu hạn tốt do bộ rễ chưa được phát triển đầy đủ, cao su trong vườn  
ươm không thể chịu hạn quá 1 tháng. Nhưng cao su trồng mới trên 6 tháng có thể chịu  
hạn trên 4 - 5 tháng.  
Khả năng chịu úng: Cây cao su cũng thể hiện một sức chịu đựng rất tốt. Tuy  
nhiên tùy thuộc vào từng giống, đối với cây đang trong giai đoạn cạo mủ, nếu bị ngập  
sâu khoảng 30 - 40 ngày, thì 75% số cây trên vườn sẽ chết, số còn lại tăng trưởng  
chậm, cây khô và bong vỏ nên không thể cạo mủ được.  
- Kỹ thuật khai thác mủ của cây cao su  
Kỹ thuật cạo mủ: Trước kia, khi khai thác cao su rừng, người ta thường rạch hoặc  
chém lên vỏ để lấy mủ hoặc cạo theo kiểu xương cá, hình chữ V... Ngày nay, người ta  
cạo theo vòng xoắn, hoặc một phần của vòng xoắn quanh thân cây; mỗi lần cạo lấy  
một lát cao su và một lớp cao su nút kín miệng các mạch mủ. Những năm gần đây,  
nhiều địa phương đang thử nghiệm phương pháp mới – chích lên vỏ một mũi nhọn  
thành nhiều lỗ nhỏ xếp theo một đường thẳng hoặc đường cong. Phương pháp này còn  
gọi là phương pháp “cạo chậm”. Kỹ thuật cạo phải tuân theo các tiêu chuẩn nghiêm  
ngặt về độ nghiêng, sâu, độ dài, dày, hình dạng lát cạo, nhịp độ, thời gian…  
Miệng cạohường nghiêng từ trái qua phải 30-35 độ hoặc 20-25 độ so với  
đường nằm ngang nhằm mục đích cắt các mạch chủ theo tiết diện lớn nhất, đồng thời  
để mủ chảy ra dễ dàng, nhanh chóng. Tuy nhiên, không nên nghiêng quá nhiều, làm  
miệng cạo trở nên dài hơn, cây sẽ mất sức.  
Lát cạo: Phải đủ sâu để cắt được các lớp ống mủ hoạt động mạnh, chỉ chừa lại 1 -  
1,2mm gần thượng tầng, vì đây là phần sinh sản gỗ và vỏ. Cạo càng gần thượng tầng  
càng cắt được nhiều ống mủ. Tuy nhiên, nếu thượng tầng bị phạm sẽ gây nên vết  
thương làm rối loạn sự hoạt động của vỏ, tạo nên u, bướu.  
Độ dày lát cạo và độ cao mặt cạo: Mỗi lát cạo chỉ nên dày 1,2 - 1,5mm. Nếu quá  
dày sẽ tiêu thụ nhiều vỏ (còn gọi hao dăm) và cạo hết vỏ nhanh chóng. Nếu mỗi năm  
cạo 100 lần, vòng xoắn quanh thân sẽ tiêu thụ chừng 20cm vỏ; 6 - 7 năm cạo hết một  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
15  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD: Th.S Nguyễn Công Định  
lớp vỏ trên thân dài 100 - 110cm (thường gọi là bề dài của mặt cạo), sau đó quay lại  
cạo ở chỗ cũ đã có vỏ tái sinh đủ dày. Nếu cạo nửa vòng thì thời gian quay trở lại sẽ là  
12 - 14 năm. Thường cạo từ trên xuống, trừ khi cây già đã cạo hết lớp vỏ bên dưới  
phải cạo ngược lên. Mặt cạo ở cây ghép từ 1,25m xuống đến 10 - 15cm trên mối ghép  
(12 - 17cm), ở cây trồng hạt là 1,05m xuống đến 8 - 10cm trên gốc, vì cạo cây trồng  
hạt càng xuống thấp, sức sản xuất mủ càng cao, còn ở cây ghép sức sản xuất ít biến  
thiên theo chiều cao.  
- Hình dạng và bề dài lát cạo: Người ta thường cạo theo hình chữ S, tức là theo  
đường vòng xoắn, từ trái qua phải, toàn vòng( ký hiệu S/1 hoặc S), nửa vòng(S/2) hay  
1/3, ¼ vòng (S3, S4). Lát cạo càng dài, mủ thu được càng nhiều, nhưng không tăng  
theo tỉ lệ thuận với chiều dài; cạo S/4 thì lượng mủ trên mỗi centimet cao hơn khi cạo  
S/2 hoặc S. Cạo toàn vòng sẽ cắt đứt toàn bộ mạch libe – mạch vận chuyển nhựa luyện  
nuôi cây nên có ảnh hưởng xấu đến sinh lý cây.  
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trên Thế Giới và tại Việt Nam  
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trên Thế Giới  
Trong giai đoạn từ 2000 đến 2012, top 4 nước trồng cao su nhiều nhất thế giới  
gồm Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam đã không ngừng gia tăng diện tích trồng  
lên trung bình 4.7%/năm (chỉ có Malaysia là giảm diện tích trồng). Riêng Việt Nam  
tăng diện tích trồng thuộc loại đứng đầu thế giới đến 7%, từ 413 ha lên 910 ha trong  
giai đoạn 2000 - 2012. Trong khi đó lượng tiêu thụ của thế giới thu hẹp đáng để trong  
giai đoạn 2011 - 2012 do suy thoái kinh tế chung trong khi nguồn cung không ngừng  
tăng đã tạo sản lg dư thừa trong năm 2012 đến 600 ngàn tấn và sang năm 2013 hơn  
687 ngàn tấn. Điểm đáng lưu ý là lượng cao su thiên nhiên phần lớn dùng để sản xuất  
lốp xe vì vậy khi ngành công nghiệp ô tô – xe máy gặp khó khăn thì các nhà sản xuất  
lốp sẽ giảm lượng nhập cao su. Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn  
nhất thế giới cũng đang giảm mạnh nhập khẩu trong những năm gần đây do sản suất bị  
thu hẹp và nguồn cung trong nước đang tăng dần. Việc tiêu thụ cao su chậm lại và  
nguồn cung ngày càng lớn là một trong những nguyên nhân khiến giá cao su rớt thê  
thảm từ đầu 2011 đến nay.  
SVTH: Lê Thị Quỳnh Như  
16  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 63 trang yennguyen 114660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả sản xuất cao su tiểu điền trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_san_xuat_cao_su_tieu_dien_tren_d.pdf