Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng (Camellia ssp) tại xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NÔNG THỊ NGOAN  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ  
TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG VỀ CÂY TRÀ HOA VÀNG (Camellia ssp)  
TẠI XÃ MỸ PHƯƠNG, HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tao  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2015-2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NÔNG THỊ NGOAN  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC  
VÀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG VỀ CÂY TRÀ HOA VÀNG (CAMELLIA  
SSP) TẠI XÃ MỸ PHƯƠNG, HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tao  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47-QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 – 2019  
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Trần Đức Thiện  
TS. Đỗ Hoàng Chung  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận  
này là trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ khóa  
luận nào. Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong khóa luận này đều  
đã được ghi rõ nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này  
đã được cảm ơn.  
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ khóa luận, trước khoa  
và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài.  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Giảng viên hướng dẫn  
Người viết cam đoan  
Nông Thị Ngoan  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của  
Hội Đồng chấm khóa luận tốt nghiệp  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Bài khóa luận được thực hiện theo khung chương trình đào tạo Đại học  
chính quy tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đến nay đã hoàn thành  
và nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều tổ chức, cá nhân.  
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn  
Th.s Trần Đức Thiện và TS. Đỗ Hoàng Chung đã tận tâm giúp đỡ và hướng  
dẫn tôi trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài.  
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa  
Lâm Nghiệp đã giúp đỡ hỗ trợ tôi để tôi thực hiện tốt đề tài của mình.  
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Ba Bể, UBND xã Mỹ Phương  
đã nhiệt tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu.  
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã hỗ trợ, động  
viên tôi trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài.  
Do lần đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, nên khóa luận không  
tránh được những thiếu sót. Vì vậy, tôi kính mong được sự đóng góp ý kiến  
quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi  
được hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên  
Nông Thị Ngoan  
 
iii  
MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
OTC:  
ODB:  
D1.3:  
Doo:  
Hvn:  
Hdc:  
G:  
Ô tiêu chuẩn  
Ô dạng bản  
Đường kính ở 1.3 m so với mặt đất  
Đường kính gốc  
Chiều cao vút ngon  
Chiều cao dưới cành  
Tổng tiết diện ngang  
Đường kính tán  
Dt:  
St:  
Diện tích tán  
UBND:  
Ủy ban nhân dân  
 
v
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Trà hoa vàng thuộc chi Camellia, là một chi lớn thuộc họ Trà  
(Theaceae). Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng như gỗ làm đồ gia  
dụng bền chắc, lá hoa làm đồ uống, làm dược liệu và làm cây cảnh. Ngoài ra,  
có thể trồng dưới tán cây khác trong các đai rừng phòng hộ chống xói mòn,  
nuôi dưỡng nguồn nước,…  
Trà hoa vàng là loài cây quý, được phát hiện ở Trung Quốc vào những  
năm 60 của thế kỷ XX nhưng đã được phát triển nhanh chóng nhờ những đặc  
tính vốn có của nó. Trung Quốc đã lai giống thành công giữa Trà hoa vàng và  
Trà hoa đỏ, làm lá nhỏ đi nhưng vẫn giữ được màu hoa vàng tuyệt đẹp. Trà  
hoa vàng đã được gây trồng và chế biến thành đồ uống bổ dưỡng cao cấp có  
tác dụng phòng và chữa bệnh tốt. Ngoài việc sử dụng Trà hoa vàng như một  
loài cây cảnh quan, các ứng dụng khác sử dụng các chất dinh dưỡng trong lá,  
hoa còn có tác dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu,  
chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch (Vũ Thị Luận, 2017) [7].  
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng được phát hiện ở nhiều nơi những năm 90  
của thế kỷ XX và ở một số vùng phía bắc trong những năm vừa qua. Trà hoa  
vàng là cây bụi, ưa bóng, có thể đưa chúng vào đối tượng trồng dưới tán rừng  
phòng hộ. Hiện nay, môi trường sống của Trà hoa vàng đang bị đe dọa  
nghiêm trọng do việc chặt phá rừng bừa bãi, mức độ khái thác nhiều dấn đến  
sản lượng của loài bị giảm mạnh, bên cạnh đó thị trường Trung Quốc thu mua  
với giá rất cao nên người dân đã vào rừng khái thác trái phép. Nếu không có  
kế hoạch bảo vệ và đầu tư hợp lý thì chúng ta sẽ mất đi nguồn tài nguyên quý  
hiếm này (Vũ Thị Luận, 2017) [7].  
Việc nghiên cứu đặc điểm nơi sống của cây trà hoa vàng có ý nghĩa rất  
quan trọng và cần thiết góp phần bảo vệ phát triển loài này một cách có hiệu  
   
2
quả. Tiến tới khai thác lợi dụng sản phẩm quý từ rừng cho con người trên cơ  
sở đảm bảo sử dụng bền vững và ổn định hệ sinh thái rừng. Góp phần nâng  
cao đời sống của người dân địa phương.  
Hiện nay, loài trà hoa vàng được tìm thấy ở một số xã của huyện Ba Bể  
tỉnh Bắc Kạn, trong đó có xã Mỹ Phương. Do tình trạng phân bố của loài chưa  
có đầy đủ thông tin và việc nghiên cứu cơ bản về loài cây này còn rất hạn chế.  
Xuất phát từ thực tiến đó tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc  
điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng (Camellia ssp) tại  
xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
- Đánh giá được đặc điểm phân bố của cây Trà hoa vàng tại khu vực  
nghiên cứu  
- Đánh giá được đặc điểm hoàn cảnh rừng nơi có loài Trà hoa vàng tại  
khu vực nghiên cứu  
- Nghiên cứu tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng tại khu vực  
nghiên cứu.  
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển loài Trà  
hoa vàng tại khu vực nghiên cứu  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học  
- Quá trình nghiên cứu giúp tôi củng cố lại các kiến thức lý thuyết đã  
học và bước đầu làm quen với việc nghiên cứu ngoài thực địa.  
- Xác định được hiện trạng phân bố và trạng thái rừng tại khu vực  
nghiên cứu.  
- Làm cơ sở lý luận khoa học cho việc đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiến  
Từ kết quả nghiên cứu đặc điểm nơi sống của loài Trà hoa vàng, góp  
phần vào bảo tồn và phát triển loài cây này tại khu vực nghiên cứu  
       
3
Phần 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Nghiên cứu trên thế giới  
Trà hoa vàng thuộc chi Trà (Camelia) là chi thực vật có nhiều chủng  
loại phong phú, có nhiều tác dụng, theo thống kê trên thế giới có khoảng trên  
300 loài và hàng chục biến chủng khác nhau.  
Những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên Trà hoa vàng được phát  
hiện ở Quảng Tây, Trung Quốc và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Từ  
đó nó được các nước rất quan tâm nghiên cứu vì có một số công dụng đặc biệt.  
Trà hoa vàng ưa khí hậu nóng ẩm, thường mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ  
suối có bóng râm, thoát nước tốt. Phạm vi phân bố tự nhiên rất hẹp, chỉ thấy  
mọc hoang ở vùng đồi gò 100-200m, huyện Ung Nhinh - Nam Ninh - Quảng  
Tây - Trung Quốc. Được đưa vào danh sách các loài cây bảo hộ cấp I của  
Trung Quốc (Vũ Thị Luận, 2017) [8], (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Trong lá của Trà hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như  
Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn),  
Vanadium …. Các hoạt chất trong lá, hoa của Trà hoa vàng có tác dụng hạ  
huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng  
cường hệ miễn dịch và kéo dài tuổi thọ. Germanium có hoạt tính sinh lý rất  
cao, có thể phát huy, tăng cường năng lực hấp thu O2 của tế bào, đảm bảo  
cung cấp dưỡng khí cho cơ thể, có lợi cho việc trao đổi chất. Germanium hữu  
cơ làm tăng sức đề kháng, chống u bướu, hạn chế tế bào u bướu phát triển,  
tăng khả năng miễn dịch, có tác dụng phòng và chống ung thư. Selenium có  
tác dụng chống oxy hoá, có thể tiêu trừ các gốc tự do có hại trong cơ thể, nâng  
cao năng lực tự bảo vệ, do đó kéo dài tuổi thọ. Vanadium có thể xúc tiến cơ  
năng tạo máu, giảm cholesterol trong huyết tương. Nghiên cứu lâm sàng  
   
4
chứng tỏ Trà hoa vàng giúp giảm mỡ máu rõ rệt hơn alpha-Napthothiourea,  
thuốc đã được thế giới công nhận về công dụng giúp giảm mỡ máu.  
Các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng  
của các khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể  
xem là thành công trong điều trị ung thư. Giúp giảm đến 35% hàm lượng  
cholesterol trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ  
là 33.2%... Chất chiết xuất từ Trà hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới  
36.1% lượng lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp sử  
dụng tân dược hiện nay. Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của  
Trung Quốc, trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Trà hoa  
vàng "có những công dụng y học vô giá" (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Trà hoa vàng  
(trên 20 loài và biến chủng) và đi sâu nghiên cứu các mặt cấu tạo gỗ, nhiễm  
sắc thể, đặc trưng hình thành phấn hoa, lai giống và nhân giống Trà hoa vàng  
Hiện nay, công ty Phú Tân (tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc) đã chế biến  
thành công trà túi lọc từ Trà hoa vàng, tinh trà và dịch Trà hoa vàng thành loại  
nước uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường thế giới, đặc biệt sản phẩm  
Golden Camellia có giá tới 4.67 triệu đồng/ chai. Đây là hướng sử dụng Trà  
hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người.  
Ngoài ra, các nghiên cứu của nước ngoài cũng chỉ ra rằng, Trà hoa còn  
có khả năng hấp thu CO2, H2S, Cl, HF và các thể khí độc hại khác, có tác  
dụng bảo vệ môi trường mạnh, làm sạch không khí. Một công viên Trà hoa  
vàng đã được xây dựng tại Nam Ninh – Trung Quốc để phục vụ người dân  
thăm quan và là nơi bảo vệ nguồn gen cho các nhà khoa học nghiên cứu (Vũ  
Thị Luận, 2017) [7], (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Như vậy, ở Trung Quốc các loài trong chi Camelli đã được các nhà  
khoa học, các nhà chuyên môn nghiên cứu một cách nghiêm túc. Trung Quốc  
5
là nước đi đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng, khai thác các loài trà hoa  
trong nghệ thuật cây cảnh, làm thuốc, đồ uống.  
2.2. Nghiên cứu trong nước  
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở  
miền Bắc nước ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về  
Trà hoa vàng không đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài  
khác nhau. Những năm 90 của thế kỷ XX, Trà hoa vàng mới được quan tâm điều  
tra nghiên cứu về hình thái, phân loại Trà hoa vàng (Trần Ninh, 2002) [8].  
Trà hoa vàng có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc  
nước ta như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai…, chúng thường mọc ở  
độ cao 300 - 800m so với mặt biển, phần lớn là trong rừng thứ sinh, xen giữa các  
nương rẫy, ở một số địa hình quá dốc hoặc nhiều đá lộ đầu, ven khe suối cạn.  
Mặc dù đã phát hiện trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng đến nay công  
tác bảo tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn bỏ ngỏ.  
Không chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong sách đỏ Việt Nam mà hàng chục  
loài Trà hoa vàng khác đều đang trong tình trạng nguy cấp. Trước mắt, chủ  
yếu là bảo tồn tại chỗ, đồng thời nghiên cứu di thực về trồng khảo nghiệm tại Đà  
Lạt, vườn Quốc gia Tam Đảo… Trong tương lai, để bảo tồn và quản lý bền vững  
nguồn gen quý này, cần tập trung nhân giống để trồng với qui mô lớn.  
Trà hoa vàng là cây thân gỗ nhỏ, thường xanh, cao khoảng 2-5m, cành  
thưa, vỏ cây màu vàng xám nhạt. Lá đơn mọc cách, dài hẹp hình tròn. Hàng  
năm cứ đến tháng 4-5 đâm lộc, ra lá mới, sau 2-3 năm lá già mới rụng. Tháng  
11 bắt đầu nở hoa, hoa kéo dài đến tháng 3 năm sau. Hoa mọc ở nách lá mới  
mọc riêng lẻ. Màu vàng kim có sáp bóng, đẹp mắt, long lanh khiến con người  
cảm giác nửa trong suốt. Hoa dạng cốc hoặc bát, thế hóa đa dạng và kiều  
diễm (Ngô Quang Đê và Cs, 2008) [2].  
 
6
Trà hoa vàng có giá trị kinh tế và y dược rất cao. Lá có thể pha uống,  
làm thuốc chữa kiết lỵ và rửa vết thương, lở loét. Hoa chữa tiêu chảy ra máu,  
cũng có thể dùng làm màu thực phẩm. Gỗ cứng có thể làm đồ dùng gia đình  
và hàng mỹ nghệ. Hạt có thể để ép lấy dầu.  
Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ, chịu bóng, thường mọc dưới tán các cây  
khác trong rừng tự nhiên. Do đó trà hoa vàng có khả năng trồng làm cây tầng  
dưới cho các đai rừng phòng hộ nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn. Cây  
có nhiều lá, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt [1].  
Trà hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa  
từ trung bình đến lớn, có đường kính 4 - 8cm. Do có hoa đẹp, nhiều loài nở  
hoa vào dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây Trà hoa  
vàng dã sinh về trồng làm cảnh ở sân vườn. Hiện chỉ có giá trị cảnh quan  
được quan tâm đến, còn các giá trị về sinh, dược học chưa được quan tâm và  
khai thác (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5], Phạm Thị Bích Hòa, 2017) [4].  
Trần Ninh (giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội) đã cùng các cộng sự  
phát hiện một loài trà hoa sắc vàng tươi trong Vườn Quốc Gia Tam  
Đảo (hiện chưa thể tiết lộ vị trí cụ thể).  
Đỗ Đình Tiến (2000) đã nghiên cứu về nhân giống bằng hom cũng  
được thực hiện cho loài C. petelotii; C. tonkinensis và C. euphlebia đạt tỷ lệ  
ra rễ từ 70% - 86%. Theo thống kê hiện nay có khoảng 196 loài trà, chia làm  
4 á chi và nhiều chủng, biến chủng. Việt Nam có khoảng 26 loài trà, chủ yếu  
ở miền Bắc. Trong những năm gần đây nhiều người nhà nghiên cứu nước  
ngoài (Úc, Pháp, Anh, Nhật...) đã tới Việt Nam nghiên cứu, tìm hiểu về các  
giống, đặc biệt là Trà hoa vàng. Trà hoa phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới,  
nóng ẩm và có mùa đông, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng  
được trên nhiều loại đất, trong đó đất tơi xốp, thoát nước, đất chua có độ pH  
từ 4,5 - 5,5 là thích hợp nhất. Trà hoa đang là loài quý hiếm, chưa nơi nào  
7
trồng với diện tích lớn. Một số loài không có nhị (bạch trà) nên không có quả.  
Vì vậy phương pháp nhân giống chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính  
(chiết, ghép, giâm hom, nuôi cấy mô), trong đó cách giâm hom là đơn giản  
và có tỷ lệ cây sống cao (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Nghiên cứu về nhân mã hóa rARN 5,8s ở loài Trà hoa vàng C. petelotii  
của vườn quốc gia Tam Đảo được thực hiện bởi Nguyễn Thị Nga và cộng sự  
(2003) với mục đích xác định chính xác phân loại loài này với loài C.  
chrysantha của Trung Quốc. Kết quả cũng chỉ dừng ở việc tách chiết được  
ADN tổng số và đã nhân được đoạn gen mã hoá rARN 5,8S ở loài Trà C.  
petelotii với cặp mồi thiết kế đặc hiệu cho chi Camellia còn cụ thể loài C.  
petelotii và C. chrysantha của Trung Quốc có phải là cùng một loài hay  
không thì chưa thấy đề cập (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Viện Dược liệu (Bộ Y tế) có công trình "Bước đầu khảo sát thành phần  
hóa học của một số loài trà hoa vàng Camellia spp. ở Việt Nam". Kết quả của đề  
tài khoa học này cũng mới chỉ dừng lại ở mức "khiêm tốn" là xác định được một  
số nhóm chất của 5/20 loại trà hoa vàng bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng.  
Gần đây đề tài “Nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) và  
nhân giống một số loài Trà hoa vàng nhằm bảo vệ và phát triển” đã được thực  
hiện cho hai loài C. tonkinensis và C. euphlebia. Đề tài đã tìm hiểu điều kiện  
sống của 2 loài trà hoa vàng Ba Vì và Sơn Động làm cơ sở cho việc xác định  
biện pháp kĩ thuật gây trồng nó sau này. Việc tìm thấy loài trà hoa vàng Ba vì  
(Camellia tonkinensis) là thành công do trước đây năm 1995 Rosmann đã đi  
tìm nhưng chưa thấy và tưởng loài này đã mất. Đề tài đã giâm hom cho 2 loài  
này đạt tỉ lệ ra rễ và sống 50 – 80.6%. Lần đầu tiên phân tích các nguyên tố vi  
lượng trong lá trà hoa vàng Ba Vì và Sơn động tại nơi sinh sống tự nhiên của  
chúng (Ngô Quang Đê và Cs, 2008) [2].  
8
Trên báo Lâm Đồng điện tử số ra ngày 6/8/2008 của tác giả Sơn Tùng  
(2008) có tiêu đề “Camellia - Siêu trà bị lãng quên” cho biết các công dụng về  
giá trị dược học của Trà hoa vàng và mà cũng chỉ ra việc khai thác đúng mức  
tài nguyên này ở Việt Nam còn bị bỏ ngỏ.  
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu  
2.3.1. Điều kiện tự nhiên  
- Vị trí địa lý  
Xã có vị trí:  
-Phía Bắc giáp xã Chu Hương.  
- Phía Đông giáp thị trấn Nà Phặc và xã Lãng Ngâm (Ngân Sơn).  
- Phía Nam giáp xã Phước Linh và xã Vi Hương (Bạch Thông).  
- Phía Tây giáp xã Đồng Phúc.  
Xã Mỹ Phương có diện tích 57,03 km², dân số năm 1999 là 3250  
người, mật độ dân số đạt 57 người/km².  
Theo Cổng thông tin điện tử chính phủ, xã Mỹ Phương có diện tích  
57,05 km², dân số khoảng 3353 người, mật độ dân số đạt 58,8 người/km².[] Xã có  
tỉnh lộ 258 đi qua địa bàn, nối với thị trấn Phủ Thông của huyện Bạch Thông. Xã  
có khá nhiều khe suối lớn nhỏ như suối Bản Hậu, suối Cốc Sâu, khuổi Phiên,  
khuổi Lùng, suối Thạch Khuất thuộc thượng nguồn sông Hà Hiệu.  
Xã Mỹ Phương được chia thành các thôn bản: Hậu, Nà Phiêng, Phiêng  
phường, Thạch Ngoã 1, Thạch Ngoã 2, Khuổi Sliến, Nà Lầu, Bjoóc Ve, Pùng  
Chằm, Vằng Kheo, Khuổi Lùng, Nà Cà, Nà Ngò, Cốc Muồi, Khuổi Khún,  
Cốc Sâu.[11]  
-Địa hình địa mạo:  
Ba Bể chủ yếu là đất lâm nghiệp chiếm trên 80%, đất nông nghiệp  
chiếm 10%. Huyện có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông, suối, núi nên  
   
9
giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao. Ở  
đây chủ yếu là núi cao xen lẫn những khối núi đá vôi hiểm trở, phân lớp dầy,  
trong quá trình cacxtơ tạo thành những hình dạng kỳ thú, đặc trưng là dãy  
núi Phja Bjooc có độ cao 1.578m, là mái nhà của 03 huyện: Ba Bể, Chợ Đồn,  
Bạch Thông.  
Cùng với đó, trên địa bàn huyện có 2 con sông Năng và Chợ Lùng chảy  
qua. Sông Năng bắt nguồn từ dãy núi cao Phja Giạ (thuộc huyện Bảo Lạc,  
tỉnh Cao Bằng) chảy vào địa phận huyện Ba Bể từ xã Bành Trạch theo hướng  
Đông - Tây; sông Chợ Lùng bắt nguồn từ phía Nam huyện Ba Bể theo hường  
Đông Nam - Tây Bắc sau đó đổ vào hồ Ba Bể rồi thông ra sông Năng; cách  
cung sông Gâm chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, xuyên suốt địa  
giới của huyện với nhiều ngọn núi cao trùng điệp đã tạo nên địa hình hiểm trở  
rất đặc trưng của huyện Ba Bể.  
Ngoài ra, trên địa bàn Ba Bể có nhiều tuyến giao thông chạy qua  
như: Quốc lộ 279, tỉnh lộ 201, 254… Hiện nay, 15/16 xã ở Ba Bể có đường ô  
tô về đến trung tâm xã.[11].  
-Khí hậu  
Nhiệt độ trung bình năm từ 21oC - 23oC, vào mùa đông thường xuất  
hiện sương muối, ở khu vực khe núi đôi khi có băng giá. Là vùng khuất gió  
mùa đông bắc, nhưng lại đón gió mùa Tây Nam nên mưa nhiều, lượng mưa  
trung bình hơn 1.600 mm và có thảm thực vật phong phú.  
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở độ cao từ 500 - 1000m  
so với mặt biển, Ba Bể có đủ nhiệt độ, nắng, mưa... thích hợp cho sự phát  
triển của động vật, thực vật. Vùng hồ Ba Bể và sườn núi Phja Bjoóc gần như  
mát mẻ quanh năm. Tuy nhiên đôi khi thời tiết cũng rất khắc nghiệt. Mùa  
đông ở Ba Bể thường có sương muối, băng giá hoặc có những đợt mưa phùn,  
gió bấc kéo dài không có lợi cho sự sinh trưởng của động, thực vật, ảnh  
10  
hưởng tới hoạt động, sức khoẻ con người. Mùa mưa nhiều xã ven sông Năng  
thường bị ngập lụt [11].  
- Thời tiết  
Chế độ nhiệt  
Nhiệt độ trung bình năm từ 21oC - 23oC, vào mùa đông thường xuất  
hiện sương muối, ở khu vực khe núi đôi khi có băng giá. Là vùng khuất gió  
mùa đông bắc, nhưng lại đón gió mùa Tây Nam nên mưa nhiều, lượng mưa  
trung bình hơn 1.600 mm và có thảm thực vật phong phú.  
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở độ cao từ 500 - 1000m  
so với mặt biển, Ba Bể có đủ nhiệt độ, nắng, mưa... thích hợp cho sự phát  
triển của động vật, thực vật. Vùng hồ Ba Bể và sườn núi Phja Bjoóc gần như  
mát mẻ quanh năm. Tuy nhiên đôi khi thời tiết cũng rất khắc nghiệt. Mùa  
đông ở Ba Bể thường có sương muối, băng giá hoặc có những đợt mưa phùn,  
gió bấc kéo dài không có lợi cho sự sinh trưởng của động, thực vật, ảnh  
hưởng tới hoạt động, sức khoẻ con người. Mùa mưa nhiều xã ven sông Năng  
thường bị ngập lụt.  
Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình đạt 1586 giờ, thấp nhất là  
tháng 1 có 54 giờ, cao nhất là 223 giờ vào tháng 8 [11].  
Chế độ mưa: Lượng mưa thuộc loại thấp, bình quân 1.115mm/năm. Các  
tháng có lượng mưa lớn là tháng 6 và 7 có ngày mưa tới 340mm/ngày; thấp nhất  
là vào tháng 12 và tháng 1 năm sau 1,5mm/ngày. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng  
10 và chiếm tới 75-80% lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí trung bình 82%,  
thấp nhất vào tháng 2 với 79% và cao nhất vào tháng 7 tới 88% [11].  
-Sông ngòi  
Ba Bể có nhiều sông, suối, lòng sông suối thường sâu, để có nước tưới  
cho đồng ruồng, nhất là các chân ruộng bậc thang, đồng bào các dân tộc có  
nhiều kinh nghiệm làm mương, phai, bắc máng, làm guồng nước. Đồng bào  
11  
còn lợi dụng sức nước để phục vụ sản xuất, đời sống như cối giã gạo, máy bật  
bông, làm thuỷ điện mi ni, xuôi mảng... Đường thuỷ sông Năng phối hợp với  
các đường bộ tạo nên hệ thống giao thông tương đối thuận lợi thông thương  
giữa các huyện Ba Bể, huyện Chợ Đồn, Na Hang (Tuyên Quang).[11]  
-Tài nguyên đất:  
Đất là một trong những nhóm nhân tố sinh thái có tầm quan trọng nhiều  
mặt đối với bất cứ loài loài nào. Nó là kết quả tác động qua lại của nhiều nhân  
tố lên mẫu chất của đất, và chính mẫu chất tạo thành một trong những nhân  
tố độc lập quyết định thành phần và sự phát triển của thảm thực vật và Trà  
hoa vàng cũng không phải là một ngoại lệ. Để đánh giá đất người ta xác định  
dựa trên cả tính chất lý học và hóa học của đất.  
Tính chất lý học của đất có liên quan đến những quá trình vật lý xảy ra  
trong đất và thường được phân tích qua các chỉ tiêu độ ẩm của đất và thành  
phần cơ giới của đất.  
Tính chất hóa học của đất. Để đánh giá đất tốt hay xấu phải dựa vào  
hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất và phải căn cứ vào các quy định,  
quy chuẩn từ đó mới đưa các kết luận chính xác về chất lượng của đất. Phản  
ứng dung dịch đất, khả năng hấp phụ, hàm lượng mùn và các nguyên tố dinh  
dưỡng cơ bản trong đất là những yếu tố quan trọng quyết định độ phì nhiêu  
của đất. Các chỉ số để xác định tính chất hóa học của đất: pHkcl, mùn %, CEC  
(lđl/100g đất) dung tích trao đổi cation của đất, N (%), P205, K20.  
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội và dân số  
- Điều kiện kinh tế - xã hội:  
Trong phát triển kinh tế - xã hội, cấp ủy, chính quyền xã thống nhất tập  
trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện phát triển kinh tế nông  
lâm nghiệp trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Được sự quan  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 70 trang yennguyen 17820 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng (Camellia ssp) tại xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_mot_so_dac_diem_sinh_hoc_va_tri_thuc_di.pdf