Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Trung Thành - Huyện Yên Thành - Tỉnh Nghệ An

ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ  
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN  
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA  
CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRUNG  
THÀNH HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN  
THÁI VĂN TUẤN  
KHÓA HỌC: 2007 - 2011  
ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ  
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN  
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP  
Đề Tài:  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA  
CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRUNG  
THÀNH HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN  
Sinh viên thực hiện:  
Thái Văn Tuấn  
Giáo viên hướng dẫn:  
ThS. Phan Thị Nữ  
Lớp: K41A KTNN  
Niên khóa: 2007 - 2011  
Huế, 05/2011  
Lôøi Caûm Ôn  
Qua quaù trình thöïc taäp vaø hoaøn thaønh  
chuyeân ñeà naøy, ngoaøi söï coá gaéng, noã  
löïc cuûa baûn thaân, toâi ñaõ nhaän ñöôïc söï  
quan taâm, giuùp ñôõ cuûa nhieàu caù nhaân  
vaø toå chöùc.  
Tröôùc tieân, toâi xin chaân thaønh göûi lôøi  
caûm ôn saâu saéc tôùi coâ giaùo, Th.s Phan  
Thò Nöõ, ngöôøi ñaõ taän tình höôùng daãn,  
giuùp ñôõ toâi trong quaù trình thöïc taäp vaø  
hoaøn thaønh chuyeân ñeà naøy.  
Toâi xin chaân thaønh caûm ôn ñeán caùc  
thaày, coâ giaùo trong vaø ngoaøi tröôøng Ñaïi  
hoïc Kinh teá Hueá ñaõ trang bò cho toâi nhöõng  
kieán thöùc trong suoát quaù trình hoïc taäp vaø  
reøn luyeän ti tröôøng. Xin chaân thaønh caûm  
ôn UBND xaõ Trung Thaønh, caùn boä vaø caùc  
hoä troàng luùa ôû ba thoân Ñoäi Cung, Hoaøng  
Dieäu vaø Hoa Thaùm ñaõ taïo ñieàu kieän  
aän lôïi, giuùp ñôõ toâi hoaøn thaønh chuyeân  
ñà.  
Cuoái cuøng toâi xin chaân thaønh caûm ôn  
gia ñình, baïn beø ñaõ giuùp ñôõ vaø ñoùng  
goùp cho toâi nhieàu yù kieán quyù giaù ñeå  
hoaøn thaønh ñôït thöïc taäp vaø chuyeân ñeà  
Sinh vieân  
Thaùi Vaên Tuaán  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng 1.1: Diện tích cây lương thực thế giới........................................................13  
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của tỉnh Nghệ An qua các năm........15  
Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Yên Thành qua các năm..17  
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xã Trung Thành qua ác năm 2007-  
2010 ......................................................................................................................23  
Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010.......24  
Bảng 2.3: Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2010 ................................26  
Bảng 2.4: Tình hình thu nhập khác của các hộ điều tra năm 2010.....................28  
Bảng 2.5: Khối lượng, đơn giá, chi phí các loại phân bón .................................31  
Bảng 2.6: Chi phí thuốc bảo vệ thực vật của các hộ điều tra năm 2010.............33  
Bảng 2.7: Chi phí dịch vụ thuê ngoài và chi phí khác của các hộ điều tra năm 2010  
.............................................................................................................................34  
Bảng 2.8: Chi phí tự có của các hộ điều tra năm 2010.......................................35  
Bảng 2.9: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của các hộ điều tra năm 2010 ..........36  
Bảng 2.10: Kết quả và hiuả sản xuất lúa của các hộ điều tra năm 2010 .....38  
Bảng 2.11: Mối quan hệ giữa năng suất và mức độ đầu tư các yếu tố đầu vào .......41  
Bảng 3.1: Những khó khăn của nông hộ..............................................................42  
Bảng 3.hnguyện vọng của nông h........................................................43  
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT  
UBND  
TE  
: Ủy Ban Nhân Dân  
: Hiệu quả kỹ thuật  
AE  
EE  
: Hiệu quả phân phối  
: Hiệu quả kinh tế  
MPx  
Pxi  
: Sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào  
: Giá đơn vị của thành phẩm  
: Giá trị của sản phẩm cận biên  
: Năng suất lúa  
VMP  
N
Q
: Tổng sản lượng, giá trị sản lượng thu được  
trong một vụ hay một năm  
S
: Diện tích lúa  
GO  
VA  
IC  
: Tổng giá trị sản xuất  
: Giá trị gia tăng  
: Chi phí trung gian  
: Tổng thu nhập quốc nội  
: Đơn vị tính  
GDP  
ĐVT  
: Giá  
ĐƠN VỊ QUY ĐỔI  
1 sào = 500 m2  
1 ha  
= 10.000 m2  
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
1. Lý do chọn đề tài  
An ninh lương thực là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia trên thế  
giới. Bởi vì, lương thực là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển  
của con người. Trong những năm gần đây, sự thay đổi khí hậu trên toàn trái đất đã ảnh  
hưởng không nhỏ đến sản lượng lương thực ở hầu hết các quốc gia. Tình trạng hạn  
hán, lũ lụt, mưa bão thường xuyên diễn ra với cường độ mạnh khiến cho hoạt động sản  
xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Kể từ đầu năm 2010 đến năm 2011 giá lương  
thực liên tục tăng làm ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của người dân trên toàn thế  
giới, nhất là các nước phải nhập khẩu lương thực.  
Đối với nước ta, nguồn lương thực chủ yếu là từ lúa gạo. Do đó, cây lúa chiếm  
một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp nước ta từ sản  
xuất tự cung tự cấp chuyển sang kinh tế thị trường hiệu quả quyết định sản xuất. Trước  
đây Việt Nam đã từng là nước phải nhập khẩu lương thực. Nhưng ngày nay, Việt  
Nam đã đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo, có được thành công đó là nhờ  
chính sách đổi mới kinh tế của nhà nước và sự đầu tư thâm canh sản xuất lúa của  
người dân. Mặdù đạt được thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần  
được qum giải quyết. Ở nước ta, tuy đã sản xuất ra lượng lương thực đủ dùng và  
một phần xuất khẩu nhưng ở một số vùng ở miền Bắc, miền Trung sản xuất lương thực  
không ổn định; việc điều hòa lương thực giữa các vùng, miền từ nơi thừa đến nơi thiếu  
chưa tốt, dẫn đến có thời điểm ở những vùng nhất định, giá lương thực tăng cao ảnh  
hưởng trực tiếp đến mức tiêu dùng lương thực của dân cư - đặc biệt là tầng lớp có thu  
nhập chưa cao. Như vậy, vấn đề cần quan tâm hiện nay là sản xuất lúa vừa phải đảm  
bảo tính kinh tế vừa đảm bảo an ninh lương thực.  
Trung Thành là một xã nông nghiệp thuộc khu vực miền trung, có nhiều tiềm  
năng về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa. Tuy nhiên, trong những năm  
gần đây sản lượng lúa có tăng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng mà xã hiện  
có, năng suất lúa đạt được vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với năng suất bình quân cả  
nước. Ngoài các nhân tố tự nhiên như khí hậu thời tiết, điều kiện đất đai.... thì các  
nhân tố xã hội như tập quán sản xuất, trình độ thâm canh, các chính sách phát triển sản  
xuất...cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã. Xuất phát  
từ thực tế tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã Trung Thành tôi đã chọn đề tài: "Đánh  
giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Trung  
Thành - huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An” .  
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
* Mục tiêu chung:  
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã, trong đó tập  
trung chủ yếu về mức độ đầu tư sản xuất của các nông hộ và cách thức lựa chọn và kết  
hợp có hiệu quả các yếu tố đầu vào nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Trên cơ  
sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã.  
* Mục tiêu cụ thể:  
Hệ thống hoá các vấn đề về lý luận hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói  
chung và sản xuất lúa nói g.  
Đánh giá thực trạng sản xuất lúa trong thời gian qua trên địa bàn xã và xác định các  
nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa.  
Xác định nng thuận lợi và khó khăn mà nông hộ gặp phải trong quá trình sản  
xuất lú
Đề xuất một số giải pháp phát huy các điều kiện thuận lợi, hạn chế những khó khăn  
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp thống kê kinh tế;  
Điều tra thu thập số liệu;  
+ Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên không  
lặp, số mẫu điều tra là 40 hộ, các đại lý vật tư nông nghiệp...  
+ Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các nguồn sau: Phòng nông nghiệp và phát  
triển nông thôn huyện Yên Thành, phòng thống kê huyện Yên Thành, UBND xã Trung  
Thành, các sách báo, internet...  
Phương pháp chuyên gia chuyên khảo;  
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin, hỏi ý kiến các chuyên gia  
bao gồm các cán bộ kỹ thuật và các cán bộ quản lý các cơ quan Nhà nước.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
. Đối tượng nghiên cứu:  
Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân  
và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả cũng như hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã  
Trung Thành – Yên Thành- Nghệ An.  
Phạm vi nghiên cứu  
+ Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến  
năng suất lúa của các hộ nông dân ở hai vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2010.  
+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Trung Thành, Yên  
Thành, Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở 3 thôn: Đồng Lèn, Đội Cung và Hoàng  
Diệu, đại diện cho hai vùng khác nhau về tình hình đầu tư thâm canh và tập quán sản  
xuất của các nông hộ.  
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN  
1.1.1. Lý luận về hiệu quả kinh tế  
1.1.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế  
Trong sản xuất kinh doanh nói chung và trong sn xuất nông nghiệp nói riêng,  
người sản xuất luôn có xu hướng lựa chọn cách thức sản xuất có thể đem lại nhiều lợi  
nhuận nhất. Đó có thể là lựa chọn cách thức sản xuất tiết kiệm chi phí nhất mà vẫn đạt  
kết quả như ban đầu, hoặc cùng một mức chi phí mà đạt kết quả cao nhất.  
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo quan điểm của các  
nhà thống kê: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa  
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.  
Theo quan điểm củc nhà kinh tế học: Hiệu quả kinh tế đạt được tối ưu khi  
đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối.  
Hiệu quả kỹ thuật (TE) là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí  
đầu vào hay ngn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật  
hay cônệ áp dụng vào nông nghiệp.  
Hiệu quả phân phối (AE) là chỉ tiêu hiệu quả trong đó giá sản phẩm và giá đầu vào  
được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu được trên một đồng chi phí đầu vào  
hay nguồn lực.  
Hiệu quả kinh tế (EE) là một phạm trù trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và  
hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính  
đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp. Nếu sản xuất  
chỉ đạt hiệu quả kinh tế hay hiệu quả phân bổ thì mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa  
phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế.  
EE = TE x AE  
Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả kinh tế phải đồng thời nâng cao hiệu quả kỹ  
thuật và hiệu quả phân bổ.  
1.1.1.2. Bản chất hiệu quả kinh tế  
Trong phương pháp cổ truyền của kinh tế học khu vực sản xuất người ta giả  
định rằng mục tiêu của nhà doanh nghiệp là đạt lợi nhuận tối đa. Muốn xác định hiệu  
quả kinh tế của một hoạt động sản xuất nào đó thì phải có sự so sánh giữa các kết quả  
đạt được và những chi phí đã bỏ ra. Trong quá trình so ánh đó, để đánh giá được hiệu  
quả kinh tế người ta đã xét đến các mối quan hệ:  
Hiệu quả kinh tế tối ưu trong mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm: theo mối quan  
hệ này, người sản xuất đòi hỏi và có các thông tin:  
- Sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào (MPx )  
- Giá đơn vị của thành phẩm (Pxi)  
- Đơn giá của yếu tố đầu vào biến đổi (Pxi )  
Giá trị của sản phẩm cận VMP=MPxi.Pxi  
Khi giá trị sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi bằng giá của nó thì ta  
đạt hiệu quả kinh tế tối ưu, tạo ra lợi nhuận tối đa:  
VMPxi=Pxi  
Hiệu inh tế tối ưu trong mối quan hệ giữa yếu tố và yếu tố:  
Khi có hai yếu tố thay đổi, để xác định được mức sử dụng yếu tố đầu vào thích  
hợp, người ta phải nắm được tỷ giá các yếu tố đầu vào trao đổi trên thị trường cũng  
như tỷ giá các yếu tố đầu vào mà ta có thể chuyển đổi trong sản xuất. Từ đó có thể tìm  
ra cách thức kết hợp các yếu tố đầu vào sao cho chi phí thấp nhất mà vẫn đạt mục tiêu  
sản lượng.  
Hiệu quả kinh tế tối ưu trong mối quan hệ sản phẩm với sản phẩm  
Muốn đánh giá tình hình phối hợp sản xuất giữa các mặt hàng nhằm đạt lợi  
nhuận tối đa trong một doanh nghiệp làm ra nhiều loại sản phẩm, ta cần có thông tin  
về tỷ số chuyển biến cận biên giữa các sản phẩm và giá sản phẩm. Điều đó có nghĩa là  
với một chi phí ban đầu, doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất các loại sản phẩm như thế  
nào nhằm đạt doanh thu tối đa.  
1.1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa  
Chỉ tiêu kết quả  
- Năng suất lúa:  
Trong đó:  
N: Năng suất lúa.  
N = Q/S  
Q: Tổng sản lượng, giá trị sản lượng thu được trong một vụ hay một năm.  
S: Diện tích lúa.  
Chỉ tiêu này cho biết trong một vụ hay một năm trung bình trên một đơn vị diện  
tích thu được bao nhiêu lúa.  
- Tổng giá trị sản xuất (GO) trên một đơn vị diện tích: Là toàn bộ giá trị bằng  
tiền của các sản phẩm được tạo ra trên một đơn vị diện tích trong một thời kỳ nhất  
định trên một đơn vị diện tích thường là một năm. Chỉ tiêu này cho biết trong một năm  
trung bình trên một đơn vị diện tích thu được bao nhiêu giá trị.  
- Giá trị gia tăng (Vtrên một đơn vị diện tích: Là phần giá còn lại sau khi trừ  
đi chi phí trung gian. Chỉ tiêu này chính là hiệu số giữa tổng giá trị sản xuất và chi phí  
trung gian trên một đơn vị diện tích.  
Sản xuấúa được thực hiện dưới hình thức hộ gia đình, họ vừa là người chủ  
vừa là nlao động nên không thể tách riêng lương và lãi ra được, do đó chúng tôi  
sử dụng chỉ tiêu này là chỉ tiêu kết quả cuối cùng trong quá trình phân tích hiệu quả  
kinh tế sản xuất lúa thay cho lợi nhuận (P).  
- Chi phí trung gian (IC) trên một đơn vị diện tích: Bao gồm chi phí vật chất và  
dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động sản xuất trên một đơn vị diện tích.  
Chỉ tiêu hiệu quả  
- Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC): Tỷ số này phản ánh một đồng chi  
phí trung gian bỏ vào trong quá trình sản xuất lúa tạo ra được mấy đồng giá trị sản xuất.  
- Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): Tỷ số này phản ánh một đồng  
chi phí bỏ vào quá trình sản xuất lúa tạo ra được mấy đồng giá trị gia tăng.  
1.1.2. Đặc điểm sinh thái và vai trò kinh tế của cây lúa  
1.1.2.1. Đặc điểm sinh thái  
1.1.2.1.1. Nguồn gốc  
Cây lúa là một trong những cây cốc có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Căn cứ  
vào các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam... cây lúa đã có mặt từ 3000-  
2000 năm trước công nguyên. Ở Trung Quốc vùng Triết Giang đã xuhiện cây lúa  
5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Từ- 4000 năm. Tuy nhiên vẫn còn thiếu những tài  
liệu để xác định một cách chính xác thời gian cây lúa được đưa vào trồng trọt. Từ  
trung tâm khởi nguyên là Ấn Độ và Trung Quốc, cây lúa được phát triển về cả hai  
hướng Đông và Tây. Cho đến thế kỷ thứ nhất, cây lúa được đưa vào trồng ở vùng Địa  
trung hải như Ai cập, Italia, Tây ban nha. Đến đầu thế kỷ thứ XV cây lúa từ Bắc Italia  
nhập vào các nước Đông Nam Âu như Nam Tư cũ, Bungari, Rumani,... Đầu thế chiến  
thứ hai, lúa mới được trồng đáng kể ở Pháp, Hungari.  
Đến thế kỷ XVII cây lúa được nhập vào Mỹ và trồng ở các bang Virginia, Nam  
Carolina và hiện nay trồng nhiều ở California, Louisiana, Texac...  
Theo hướng đông, đầu thế XI cây lúa từ Ấn Độ được nhập vào Indobexia, đầu tiên  
ở đảo Java.  
Đến thế kỷ XVIII cây lúa từ Iran nhập vào trồng ở Kuban (Nga). Cho đến nay,  
cây lúa đã có mt trên tất cả các châu lục, bao gồm các nước nhiệt đới, á nhiệt đới và  
một số ôn đới. Ở bắc bán cầu cây lúa được trồng ở Đông Bắc Trung Quốc 530B  
cho tới nam bán cầu - ở châu Phi, Australia (New South Wales, 350vĩ nam).  
- Về nguồn gốc thực vật, cây lúa thuộc họ hoà thảo (Gramineae), chi Oryza.  
1.1.2.1.2. Đặc điểm sinh thái  
Cũng như mọi cây trồng khác, quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa chịu  
ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, trước hết là điều kiện khí hậu, thời tiết nói  
riêng ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình sinh trưởng- phát triển, quá trình hình  
thành năng suất lúa cũng như hình thành các vùng trồng, vụ trồng và phương thức  
trồng lúa khác nhau. Các điều kiện ảnh hưởng đó là:  
Nhiệt độ:  
Để hoàn thành chu kỳ sống, cây lúa cần một lượng nhiệt độ nhất định. Theo các  
tác giả nước ngoài (Bugai X.M, Maistrenko A.L.) cây lúa ôn đới yêu cầu tổng nhiệt độ  
2500-3000C, lúa nhiệt đới yêu cầu 3500-45000C; giống dài ngày cần trên 50000C và  
giống ngắn ngày yêu cầu tổng nhiệt độ thấp hơn: 2000-30000C.  
Trong quá trình sinh trưởng, nếu gặp nhiệt độ cao, cây lúa cóng đạt được  
tổng nhiệt độ cần thiết sẽ ra hoa sớm hơn, tức là rút ngắn thời gian sinh trưởng. Nếu  
gặp nhiệt độ thấp thì ngược lại. Cây lúa yêu cầu nhiệt độ khác nhau qua các thời kỳ  
sinh trưởng.  
Nước:  
Nước là thành phần chủ yếu trong cơ thể cây lúa, là điều kiện để thực hiện các  
quá trình sinh lý trong cây, ngoài ra đó là điều kiện ngoại cảnh không thể thiếu được  
đối với cây lúa.  
Theo Goutchin, để tạo được một đơn vị thân lá cây lúa cần 400-450 đơn vị  
nước, để tạo được một đơn vị hạt cần 300-350 đơn vị nước. Yêu cầu lượng mưa là  
900-1100mm cho một vụ (nếu hoàn toàn dựa vào nước trời) Trước đây ở ta cũng  
như một số nước khác trong khu vực, khi chưa có các công trình thuỷ lợi thì hàng năm  
chỉ gieo cấy được một vụ lúa vào mùa mưa. Mùa mưa ở vùng ĐBBB thường bắt đầu  
vào thá6 kết thúc vào tháng 10-11. Ở các tỉnh miền trung muộn hơn, thường mưa  
nhiều vào háng 10-11. Nhu cầu nước thay đổi theo thời kỳ sinh trưởng và điều kiện  
thâm canh.  
Ánh sáng:  
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, nên nói chung nó là cây ưa ánh sáng và mẫn  
cảm với quang chu kỳ (độ dài ngày). Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt  
động quang hợp và tạo năng suất. Chu kỳ ánh sáng lại có tác động đến quá trình làm  
đòng, ra hoa ở một số giống, nhất là những giống địa phương trung ngày hay dài ngày.  
Theo Hoomaw và Vergarai B, các giống lúa nhiệt đới có thời gian sinh trưởng  
khoảng 130 ngày cần 1000 giờ ánh sáng, riêng tháng cuối cùng cần 220-240 giờ.  
1.1.2.2 Vai trò của lúa gạo  
Giá trị dinh dưỡng:  
Trong lúa gạo có mặt đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực khác,  
ngoài ra còn có các vitamin, đặc biệt là các loại vitamin B. Theo hiệp hội cây lương  
thực Việt Nam.  
+ Tinh bột: là nguồn chủ yếu cung cấp calo. Giá trị nhiệt lượng của lúlà 3594 calo,  
so với lúa mì là 3610 calo, nồng độ hoá đạt đến 95,95. Hàm lượng Amyloza trong hạt  
quyết định đến độ dẻo của gạo. Nếu hạt có 10-18% amyloza thì gạo mềm, dẻo, từ 25-  
30% thì gạo cứng. Các loại gạo Việt Nam có hàm lượng amyloza thay đổi từ 18-45%,  
cá biệt có giống lên đến 54%.  
+ Prôtêin: tỷ lệ chiếm khoảng 6-8%, thấp hơn so với lúa mỳ và các loại khác. Các  
giống lúa Việt Nam có lượng protein thấp nhất 5,25%, cao nhất 12,84% phần lớn  
trong khoảng 7-8%, lúa nếp có lượng protein cao hơn tẻ, lúa chiêm cũng có lượng  
protein cao.  
+ Lipit: vào loại trung bình, phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo, nếu gạo xay là 2,02%, ở  
gạo giã chỉ còn 0,52%.  
+ Vitamin: trong lúa gạo có một số vitamin nhóm B như B1, B2, B6 PP...lượng  
vitamin B1 là 0,45mg/100 hạt.  
Giá trị kinh tế:  
Lgạo ó ý nghĩa kinh tế rất lớn, đảm bảo an ninh lương thực cho mỗi quốc  
gia. Vai của lúa gạo đã được bàn đến rất nhiều sau khủng hoảng lương thực vào  
đầu tháng 5 năm 2008. Những vai trò chủ yếu của lúa gạo đó là:  
+ Cung cấp lương thực cho loài người: Lúa là một trong 3 cây lương thực chủ yếu trên  
thế giới: lúa mỳ, lúa và ngô. Sản lượng toàn thế giới đầu những năm 80 là (triệu tấn):  
lúa mỳ: 535, lúa: 471, ngô: 478 đến năm 1993 đã tăng lên: lúa mỳ: 460, lúa: 573, ngô:  
529. Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng  
lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày. Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng tới  
đời sống ít nhất 65% dân số thế giới. Sản xuất lúa gạo chủ yếu tập trung ở các nước  
châu Á, với mức tiêu dùng hàng năm 180-200 kg/người, còn ở các nước Âu Mỹ  
khoảng 10 kg/người.  
+ Là hàng hoá xuất khẩu, đem lại nguồn thu ngoại tệ tương đối lớn: Đối với các nước  
đang phát triển như Việt Nam thì xuất khẩu gạo sẽ mang lại một nguồn thu ngoại tệ  
tương đối lớn phục vụ cho những mục tiêu phát triển kinh tế khác.  
- Từ năm 1989 đến nay sản xuất lúa gạo của Việt Nam không những đáp ứng đủ nhu  
cầu tiêu dùng trong nước mà còn tham gia thị trường xuất khẩu với khối lượng ngày  
một tăng. Năm năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất, diện  
tích canh tác lúa cả nước có xu hướng giảm nhưng do năng suất liên tục được cải thiện  
nên sản lượng lúa hàng năm được duy trì ổn định ở mức 35 triệu tấn (tương đương 22  
triệu tấn gạo). Trên cơ sở đó Việt Nam có thể xuất khẩu hàng năm trên dưới 4 triệu tấn  
gạo. Khoảng 18-20% sản lượng gạo hàng năm của ViệNam tham gia mậu dịch gạo  
thế giới và là một trong số các quốc gia đứng đầu về xuất mặt hàng này. Thị trường  
xuất khẩu gạo chính của Việt Nam là châu Á, chiếm 46,2% khối lượng gạo xuất khẩu  
hàng năm của Việt Nam. Đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trên thị trường gạo  
quốc tế là Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan.  
+ Gạo còn dùng làm thức ăn chăn nuôi: loại gạo được dùng làm thức ăn chăn nuôi chủ  
yếu là những loại gạo có chất lượng kém và các phụ phẩm của lúa như cám, tấm, rơm  
rạ...  
+ Gạo cũng là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: Gạo còn có thể làm nguyên liệu  
sản xuất rượu, bia và các loại cồn cao cấp đáp ứng nhu cầu của con người. Trong công  
nghệ dược, sản uất vi ta min B1 chữa bệnh tê phù, dầu cám có chất lượng cao dùng  
chữa bệế tạo sơn cao cấp, làm mỹ phẩm, chế tạo xà phòng...  
Ngoài ra các phụ phẩm từ lúa gạo có thể dùng làm chất đốt, phân bón, làm đồ gia  
dụng...  
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất lúa  
1.1.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng  
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng, để đạt hiệu quả  
ngoài những yếu tố vốn, tư liệu sản xuất như các ngành khác, sản xuất nông nghiệp  
còn phụ thuộc vào những yếu tố đặc trưng khác mà không một ngành sản xuất nào có.  
Có sự khác biệt như vậy là do sản xuât nông nghiệp có những điểm khác biệt so với  
các ngành sản xuất khác: đất đai là tư liêu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tượng lao động  
vừa là tư liệu lao động. Đối tượng sản xuất chủ yếu là những cơ thể sống nên có quy  
luật sinh trưởng, hoạt động sản xuất thường diễn ra ngoài trời nên phụ thuộc rất nhiều  
vào yếu tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu và các nhân tố trong đó có các nhân tố chủ  
yếu là nhiệt độ, ánh sáng, nước như chúng tôi đã trình bày ở phần 1.1.2.1.2 Đặc điểm  
sinh thái của cây lúa. Ngoài ra, các nhân tố sau cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu  
quả sản xuất lúa:  
Giống lúa: trong sản xuất lúa, giống đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng  
suất và tổng sản lượng của cây lúa.  
Mỗi loại giống lúa đều có những đặc tính khác nhau về nông sinh học, sinh lý,  
sinh hoá, sinh trưởng, phát triển và chất lượng. Hiện nay với kỹ thuật sinh học phát  
triển con người ngày càng can thiệp sâu hơn, thúc đẩy nhanh hơn quá trình tạo, chọn  
giống mới có lợi hơn cho con người bằng những phương pháp tạo giống như: lai hữu  
tính, xử lý đột biến, đặc biệt là kỹ thuật di truyền đang đóng góp có hiệu quả vào việc  
cải tiến giống lúa. Việc sử dụng các giống lúa ngắn ngày, (xu hướng của sản xuất nông  
nghiệp hiện nay), đã cho phép làm nhiều vụ trong năm và cũng cho phép bố trí thời vụ  
gieo cấy trong vụ xuân muộn hơn nhằm kéo dài thời gian sản xuất cây vụ đông, đồng  
thời cũng là hướng tận dụốt nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên (bức xạ mặt trời, đất  
đai, nguồn nước...), để tăng khả năng quang hợp thuần của ruộng lúa, tạo năng suất  
ngày càng cao. Nghiên cứu vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp cho thấy:  
giống lúa luôn yếu tố quan trọng làm tăng năng suất, tăng sản lượng và hạ giá thành  
sản phẩuyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Văn Thông, 1995).  
Phân bón: Cha ông ta có câu: " nhất nước nhì phân tam cần tứ giống", điều đó nói  
lên rằng phân bón là một trong những nhân tố không thể thiếu, ảnh hưởng trực tiếp đến  
năng suất của lúa. Các chất dinh dưỡng trong phân bón có vai trò quan trọng, và chiếm  
tỷ lệ cao đối với cây lúa là:  
+ Đạm: Đạm đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng nói chung, đặc biệt đối  
với cây lúa, đạm giữ một vị trí đặc biệt trong việc tăng năng suất.  
Đạm là yếu tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào và các cơ quan rễ,  
thân, lá...và là một trong những nguyên tố hoá học cơ bản của cơ thể cây trồng. Trong  
các vật chất khô của cây trồng có chứa từ 1-5% đạm tổng số. Thiếu đạm hay thừa  
đạm đều ảnh hưởng đến năng suất cây lúa. Thiếu đạm cây thấp, đẻ nhánh kém, số  
bông và hạt ít, năng suất bị giảm. Thừa đạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, đẻ  
nhánh vô hiệu nhiều, lúa trổ muộn dễ dẫn đến hiện tượng đổ lốp, đổ non.  
+ Lân: là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là chất chủ yếu của nhân tế bào. Trong  
vật chất khô của cây có chứa hàm lượng lân từ 0,1-0,5%. Lân có mối quan hệ chặt chẽ  
với sự hình thành diệp lục, protit và sự di chuyển tinh bột.  
Cùng với đạm, lân xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và tăng số nhánh đẻ, đồng  
thời cũng làm cho lúa trổ bông và chín sớm hơn. Thiếu lân làm cho lúa đẻ nhánh ít,  
thời kỳ trổ bông và chín đều chậm lại và kéo dài. Do trổ bông chậm nên hạt lép nhiều,  
độ dinh dưỡng hạt gạo thấp. Thiếu lân ở thời kỳ làm đòng thì giảm năng suất một cách  
rõ rệt.  
+ Kali: Kali được cây hút nhiều như đạm, nhưng lúa hút thừa kali không hại bằng hút  
thừa đạm. Vai trò của kali là xúc tiến sự di chuyển các chất đồng hoá và gluxit trong  
cây. Vì vậy nếu lúa thiếu kali thì hàm lượng tinh bột giảm, hàm lượng đạm sẽ tăng.  
Trong điều kiện thời tiết xấu thì vai trò của kali có tác dụng như ánh sáng mặt trời, xúc  
tiến sự hình thành gluxit, nên để chống rét cho mạ xuân ở miền bắc, lúc gieo mạ  
người ta cần bón một lượng kali đáng kể. Lúa thiếu kali không ảnh hưởng đến đẻ  
nhánh mấy nhưng cây lúa lùn, thấp, lá hẹp, màu xanh tối, hàm lượng diệp lục giảm, lá  
mềm yếu và rũ uống. Thiếu kali ở thời kỳ làm đòng sẽ làm cho các gié bông thoái  
hoá nhihạt ít, trọng lượng hạt giảm, hạt xanh, hạt lép và hạt bạc bụng nhiều,  
phẩm chất gạo bị giảm sút.  
Lao động  
Ngoài các nhân tố trên thì lao động cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng  
trực tiếp đến năng suất cây lúa. Tất nhiên nếu không có lao động thì quá trình lao động  
không được tiến hành và vì vậy sẽ không có kết quả sản xuất. Tuy nhiên việc bố trí lao  
động thế nào cho hợp lý vừa đạt hiệu quả cao trong sản xuất lúa đồng thời đạt hiệu quả  
cao trong các hoạt động khác là mục tiêu quan trọng nhất. Bởi vì trong sản xuất nông  
nghiệp không đơn thuần chỉ là sản xuất lúa mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác như  
chăn nuôi, làm nghề phụ...  
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN  
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới  
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao. Hiện nay trên thế  
giới có khoảng hơn 100 nước trồng lúa. Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở  
các vùng vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B, Tiệp 490B, Nhật, Italia,  
Nga 450B đến Nam bán cầu: New South Wales (Úc): 350B. Vùng phân bố chủ yếu ở  
châu Á từ 300B đến 100N. Năng suất trên phạm vi thế giới đã đạt tới 60-80 tạ/ha/vụ.  
Theo thư viện tỉnh Nghệ An năm 2008.  
Sản xuất lúa gạo trong vài ba thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng kể  
(so với năm 1970 có diện tích trồng lúa là 134.390 triu ha, năng suất 2,3 tạ/ha, sản  
lượng 308,767 triệu tấn). Tuy tổng sản lượng lúa tăng 70% trong vòng 32 năm nhưng  
do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển (châu Á, châu Phi, Mỹ La  
Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu cấp bách phải quan tâm trong những năm  
trước mắt và lâu dài.  
Sản xuất lương thực tăng chậm, không ổn định, thậm chí còn giảm tuyệt đối, dĩ  
nhiên nếu tính bình quân đầu người lại càng giảm nhiều hơn. Năm 2007, trong sản  
lượng lương thực (có hạt) 438,1 triệu tấn thóc, 596,9 triệu tấn lúa mì.  
Bình quân lương thực đầu người (có hạt) toàn thế giới xấp xỉ 320 kg, riêng châu  
Phi chỉ có 140 kg. Bên cạnh có tới 70 quốc gia và vùng lãnh thổ sản lượng lương thực  
bình quu người chỉ đạt dưới 100 kg, thì trên thế giới có 50 quốc gia và vùng lãnh  
thổ có sảượng lương thực bình quân đầu người trên 500kg, trong đó có 7 quốc gia  
có sản lượng lương thực trên 1100kg (Ô-xtrây-li-a: 1754 kg, Đan Mạch: 1726 kg, Ca-  
na-đa: 1572 kg,...). Sản lượng lương thực bình quân đầu người của nhiều nước đang  
phát triển ngày một giảm sút so với thời kỳ 1999-2001.  
Bảng 1.1: Diện tích cây lương thực thế giới  
ĐVT: nghìn ha  
Chỉ tiêu  
1985  
2000  
2004  
Toàn thế giới  
Trong đó  
Mỹ  
720 347  
674 185  
677 466  
72 874  
21 708  
50 594  
58 565  
18 145  
41 145  
56 796  
17 172  
38 915  
Ca-na-đa  
Nga  
(Nguồn: www.kinhtenongthon.com.vn)  
Từ ba thập kỷ cuối thế kỷ XX đến nay, thế giới có nhiều tiến bộ nhảy vọt về  
khoa học và công nghệ, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin,... Nhiều nước, nhiều  
vùng đã không chú ý tới việc tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nói chung, sản  
xuất lương thực nói riêng. Nếu như, những năm 60-70 của thế kỷ trước thế giới bước  
vào cuộc cách mạng xanh (trong đó việc lai tạo thành công và đưa các giống mới của  
các loại cây lương thực vào sản xuất đại trà), đã tạo nên những bước nhẩy về sản  
lượng lương thực, mà chủ yếu do tăng năng suất, thì niều năm gần đây không được  
chú ý đúng mức không chỉ về giống, mà còn về kỹ thuật canh tác, thu hoạch và sau thu  
hoạch, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong khi đó, đầu tư vào khoa học công  
nghệ trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều nước phát triển gấp nhiều lần các nước đang  
phát triển (tính trên 1 ha đất nông nghiệp) mặc dù năng suất ở các nước này nói chung  
khá cao so với năng suất chung của thế giới. Chính vì vậy, năng suất cây trồng nói  
chung, cây lương thực nói riêng của thế giới trong nhiều năm lại đây tăng rất chậm,  
đặc biệt châu Á - nơi sản lượng lương thực chiếm trên 43% sản lượng lương thực có  
hạt trên toàn thế giới, chưa kể châu Phi, năng suất cây lương thực rất thấp lại tăng còn  
chậm hơn.  
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam  
Đã từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong  
nền kinà xã hội của Việt Nam. Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ  
Bắc vào m đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, cung cấp  
nguồn lương thực chủ yếu để nuôi sống cả mấy chục triệu người. Theo Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn.  
Trước năm 1945 diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ là 1,8  
triệu và 2,7 triệu ha với sản lượng thóc tương ứng là 2,4 và 3,0 triệu tấn. Năng suất  
bình quân là 13 tạ/ha.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 61 trang yennguyen 90800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Trung Thành - Huyện Yên Thành - Tỉnh Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_san_xuat_lua_cua_cac_ho.pdf