Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) tại Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên  
cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây  
Lạc tiên (Passiflora foetida L.) tại Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu của  
bản thân tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có  
sẵn đã được trích rõ nguồn gốc.  
trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi. Các số liệu và kết quả nghiên  
cứu là quá trình điều tra trên thực địa, hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên  
các tài liệu. Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.  
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2020  
Giáo viên hướng dẫn  
Sinh viên  
TS. Nguyễn Thị Thu Hiền  
Cử Chẩn Cù  
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận đã sửa chữa sai xót sau khi Hội đồng chấm đánh giá  
(Ký, họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là một thời gian có ý nghĩa rất quan trọng trong  
quá trình học tập của mỗi sinh viên. Đây là một quá trình giúp sinh viên hệ  
thống hóa, củng cố lại kiến thức đã học. Đồng thời cũng là thời gian để cho  
sinh viên học hỏi, làm quen với công tác nghiên cứu, tiếp xúc và cọ sát với  
thực tế, giúp mỗi sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng, thái độ trước khi ra  
trường. Là tiền đề cho sự thành công của mình trong tương lai.  
Xuất phát từ nguyện vọng bản thân, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm  
khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên,  
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến  
quá trình sinh trưởng phát triển cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) tại Thái  
Nguyên”. Trong quá trình thực tập được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận  
tình của thầy cô giáo trong khoa, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đặc  
biệt cô giáo hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thu Hiền là người trực tiếp hướng  
dẫn tôi thực hiện đề tài này cùng sự cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn  
thành khóa luận này.  
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu  
sắc tới Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái  
Nguyên và đặc biệt là cô TS. Nguyễn Thị Thu Hiền đã hướng dẫn tận tình  
trong suốt thời gian tôi thực tập.  
Do điều kiện và thời gian có hạn, kiến thức của bản thân còn hạn chế  
nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy tôi rất mong  
nhận được ý kiến đóng góp củna thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn.  
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2020  
Sinh viên  
Cử Chẩn Cù  
 
v
DANH MỤC CꢀC Tꢁ VIẾT TꢂT  
Chữ cái viết tắt/ký hiệu  
Cụm từ đầy đủ  
Xentimet  
cm  
mm  
CT  
Milimet  
Công thức  
D00  
Hvn  
Stt  
Đường kính gốc  
Chiều dài thân cây  
Số thứ tự  
TB  
Trung bình  
NL  
Nhắc lại  
KVNC  
n0  
Khu vực nghiên cứu  
Dung lượng mẫu ban đầu  
Dung lượng mẫu hiện tại  
Y học cổ truyền  
Bộ Nông nghiệp và phát  
triển nông thôn  
nt  
YHCT  
BNN&PTNT  
 
vi  
MỤC LỤC  
vii  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã công bố, tỉ lệ người mất ngủ có  
thể từ 4% cho tới 48% tùy theo đối tượng và lứa tuổi. Khoảng 33% dân số bị một  
trong nhiều triệu chứng của mất ngủ, 18% không thoả mãn với giấc ngủ. 30%  
bệnh mất ngủ có liên hệ bệnh tâm thần... Theo số liệu thống kê, có tới khoảng  
20% dân số gặp phải tình trạng mất ngủ về đêm. Trước đây tình trạng khó ngủ  
về đêm, mất ngủ… thường chỉ xảy ra ở những người cao tuổi thì hiện nay càng  
có nhiều người trẻ phải vật lộn chứng khó ngủ, mất ngủ. Tình trạng khó ngủ, mất  
ngủ về đêm kéo dài sẽ khiến cơ thể mệt mỏi, làm ảnh hưởng tới cuộc sống và  
hiệu quả công việc. Việc sử dụng thuốc ngủ và thuốc an thần trong thời gian dài  
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và có thể gây nghiện. Hiện nay, sử dụng thảo dược  
trong điều trị mất ngủ và rối loạn an thần đang được chú trọng, khắc phục được  
các hạn chế của thuốc ngủ và thuốc an thần.  
Cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) là một loại dược liệu được dùng  
trong sản xuất đông dược và tân dược. Cây còn có nhiều tên gọi: cây Lạc, cây  
Lồng đèn, Hồng tiên, Mắc mát, Long châu quả... Cây Lạc tiên có trong Dược  
điển Pháp và được nhiều nước ở châu Âu, Mỹ sử dụng. Các nghiên cứu cho  
thấy nó có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: trấn tĩnh, an thần, chống hồi  
hộp, lo âu, mất ngủ. Nó còn có tác dụng trực tiếp lên cơ trơn, làm giãn và chống  
co thắt nên chữa được các chứng đau do co thắt đường tiêu hóa, tử cung.  
Dân gian thường dùng dây và lá cây Lạc tiên sắc uống làm thuốc an thần  
chữa mất ngủ. Theo Đỗ Tất Lợi, dây, lá, hoa cây Lạc tiên thái nhỏ, phơi khô có  
công dụng an thần, giải nhiệt, mát gan; chữa trị chữa đau đầu, mất ngủ, thường  
phối hợp thêm với một số vị thuốc khác. Quả cây Lạc tiên vị ngọt, tính bình,  
có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, dùng chữa ho do phế nhiệt, phù  
thũng, giã đắp chữa ung nhọt lở loét ở chân.  
     
2
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc có điều kiện  
tự nhiên, khí hậu thích hợp với phát triển trồng cây dược liệu. Trong quy hoạch  
phát triển nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 đã xác định rõ trồng  
cây dược liệu là một hướng phát triển bên cạnh phát triển các cây trồng truyền  
thống với mục tiêu hình thành một số vùng chuyên canh trông cây dược liệu.  
Cây Lạc tiên là một loại thảo dược quý, dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện  
tự nhiên khí hậu nhiệt đới khác nhau. Do đó, trồng cây Lạc tiên và chế biến cây  
Lạc tiên thành các sản phẩm điều trị và hỗ trợ điều trị an thần, mất ngủ tại Thái  
Nguyên là một hướng thích hợp, đem lại hiệu quả kinh tế và y dược cao.  
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh  
hưởng của thời vụ trồng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây Lạc tiên  
(Passiflora foetida L.) tại Thái Nguyên”.  
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài  
Xác định được thời vụ trồng thích hợp nhất cho quá trình sinh trưởng,  
phát triển của cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) nhân giống bằng hạt được  
trồng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học  
Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong  
những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan.  
Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn và có  
thể tích lũy được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công  
tác trong tương lai.  
Qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp sinh viên nắm được những kiến thức  
trong lĩnh vực lâm sinh: Kỹ thuật đóng bầu, chọn hạt trước khi gieo, xử lý hạt  
khi mang đi gieo… Đồng thời biết được quá trình sinh trưởng của hạt từ lúc bắt  
đầu gieo cho đến lúc cây có đủ tiêu chuẩn xuất vườn. Trong quá trình nghiên  
     
3
cứu còn được bổ sung thêm kiến thức qua một số tài liệu, sách báo thông tin  
trên mạng. Từ đó áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, và tạo cho  
sinh viên tác phong làm việc sau khi ra trường.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu của đề tài bước đầu cung cấp cho chúng tôi có những  
khuyến cáo với bà con nông dân về sử dụng công thức thời vụ trồng cho cây  
Lạc tiên (Passiflora foetida L.) trồng bằng hạt tại các mô hình ở khu vực Thái  
Nguyên.  
 
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu  
Bảo tồn nguồn gen ở thực vật hay động vật là bảo tồn các đa dạng đi  
truyền cần thiết cho các loài nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống  
trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác.  
Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là  
phương pháp gieo bằng hạt ,giâm hom....Gieo hạt: là chôn hạt với độ sâu bằng  
2 đến 3 lần đương kính của hạt. Đối với các loại hạt quá nhỏ thì ta có thể rải  
trực tiếp trên bề mặt chất trồng hoặc đất ẩm sau đó phun sương cho hạt bám  
vào bề mặt chất trồng là được. Với các loại hạt to hơn thì nên chôn sâu khoảng  
0,2 - 0,3cm (lưu ý quan trọng là không nên nén đất quá chặt khi chôn vì hạt sẽ  
không nảy mầm được). Sau khi gieo hạt xong nên phun sương lên bề mặt vài  
lần để đất và hạt tiếp xúc với nhau tốt hơn.  
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 80% dân số ở các nước đang phát triển việc  
chăm sóc sức khỏe ít nhiều vẫn còn liên quan đến y học cổ truyền (YHCT) hoặc  
thuốc từ dược thảo truyền thống để bảo vệ sức khỏe. Trong vài thập kỷ gần đây,  
các nước trên thế giới đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, bào chế và sản xuất các  
chế phẩm có nguồn gốc thiên nhiên từ cây dược liệu để hỗ trợ, phòng ngừa và  
điều trị bệnh. Theo thống kê của WHO, ở Trung Quốc doanh số thị trường  
thuốc từ dược liệu đạt 26 tỷ USD (2008, tăng trưởng hàng năm đạt trên 20%),  
Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1 tỷ USD (2006), Hàn Quốc 250  
triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004), ... Tính trên toàn thế giới,  
hàng năm doanh thu thuốc từ dược liệu ước đạt khoảng trên 80 tỷ USD [39].  
         
5
Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với  
6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc  
năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt  
600 triệu USD. Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác  
nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước,  
trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế.  
Những nước sản xuất và cung cấp dược liệu trên thế giới chủ yếu là  
những nước đang phát triển ở Châu ꢀ như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt  
Nam, Thái Lan, Bangladesh...ở Châu Phi như Madagasca, Nam Phi...ở Châu  
Mỹ La tinh như Brasil, Uruguay...  
Những nước nhập khẩu và tiêu dùng chủ yếu là những nước thuộc liên  
minh châu Âu (EU), chiếm 60% nhập khẩu của Thế giới. Trung bình hàng năm  
các nước EU nhập khoảng 750 triệu đến 800 triệu USD dược liệu và gia vị.  
Nguồn cung cấp dược liệu chính cho thị trường EU là Indonesia, Trung Quốc,  
Việt Nam, Thái Lan, Brazil, Đức.  
Nhu cầu về dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu (thuốc được sản xuất  
từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng chất)  
có xu hướng ngày càng tăng, nhất là ở các quốc gia đang phát triển. Xu thế trên  
thế giới con người bắt đầu sử dụng nhiều các loại thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng  
sức khỏe có nguồn gốc từ thảo dược hơn là sử dụng thuốc tân dược vì nó ít độc  
hại hơn và ít tác dụng phụ hơn. Hơn nữa hiện còn nhiều triệu chứng và bệnh  
hiểm nghèo chưa có thuốc đặc hiệu để chữa trị, người ta hi vọng rằng từ nguồn  
động thực vật tự nhiên hoặc từ vốn trí tuệ bản địa của các cộng đồng, qua nghiên  
cứu sàng lọc có thể cung cấp cho nhân loại những hợp chất có hoạt tính sinh  
học cao để làm ra các loại thuốc mới có hiệu quả chữa bệnh như mong muốn.  
Nghiên cứu sàng lọc cây dược liệu hiện cũng được chú trọng ở nhiều quốc gia,  
nhiều lĩnh vực như dược liệu, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm ...  
6
Theo thống kê hiện nay tỷ lệ số người sử dụng YHCT trong chăm sóc  
sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Các nước  
Châu phi, ...Ở Trung Quốc chi phí cho sử dụng YHCT khoảng 10 tỷ USD,  
chiếm 40% tổng chi phí cho y tế, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc  
khoảng trên 500 triệu USD.  
Nhận thức được tầm quan trọng của dược liệu, Hội nghị môi trường và  
phát triển của Liên hợp quốc (UNCED) năm 1992 đã thông qua Chương trình  
nghị sự 21 đã xác định vài trò quan trọng của cây dược liệu, góp phần bảo vệ  
môi trường sinh thái và là nguồn nuôi sống người dân miền núi. Do đó các tổ  
chức thế giới như FAO, UNCED, WB, v.v… đã xây dựng nhiều chương trình,  
giúp các nước bảo tồn, nuôi trồng và khai thác cây dược liệu theo hướng phát  
triển bền vững, tạo nguồn thu nhập, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh  
lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi.  
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của dược liệu, Chiến lược bảo  
tồn, khai thác và phát triển cây cây dược liệu đã được thực hiện ở nhiều Quốc  
[30], [29]. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn để cần giải quyết như nguồn gen chưa  
được đánh giá, tuyển chọn, thiếu quy trình công nghệ nhân giống hiệu quả; quy  
trình nhân giống còn ở quy mô nhỏ; thiếu quy trình nuôi trồng hoặc quy trình  
công nghệ sản xuất ở quy mô nhỏ, thiếu nguồn cây giống, hạt giống tốt.  
Cây lạc tiên có nhiều giá trị thực phẩm và dược học đã được nghiên cứu  
và sử dụng trên thế giới. Quả tươi được sử dụng ăn trực tiếp ở Thái Lan  
(Dassanayake và Hicks, 1994) [27]. Ở Venezuela, quả được sử dụng tạo thành  
nước giải khát (Padhye và Deshpande, 1960) [36]. Các bộ phận của Passiflora  
foetida có nhiều dược tính khác nhau để điều trị đau mãn tính, ho, hen suyễn,  
mất ngủ, các vấn đề tiêu hóa, bao gồm chứng khó tiêu (Da Costa Sacco, 1980)  
[26]. Dịch chiết cây Lạc tiên cho thấy hoạt tính diệt nấm, kháng khuẩn chống  
lại bốn vi khuẩn trên người Pseudomonas putida, Vibrio cholerae, Shigella  
7
flexneri và Streptococcus pyogenes (Hoffmann và cs., 2003) [33]. Phân tích  
cao chiết methanol lá cây Lạc tiên có tác dụng diệt nấm và chống vi khuẩn thấy  
có sự hiện diện của hợp chất cyclopropane, triterpene và glycoside (Gardner,  
1989) [32]. Expectorant chiết xuất từ cây lạc tiên có tác dụng lên hệ thần kinh,  
chống co thắt và chống viêm trên chuột nghiên cứu (Fernandes và cs., 2013)  
[31]. Nghiên cứu của Patil và cộng sự cho thấy rằng chất chiết xuất từ P. foetida  
có tác dụng chống trầm cảm có thể được sử dụng trong điều trị bệnh nhân trầm  
cảm rối loạn (Patil và cs., 2015) [37]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các thành  
phần chiết từ cây Lạc tiên như vitexin có thể chống viêm và Kaempferol,  
Apigenin và luteolin có thể dẫn đến phát triển thuốc chống dị ứng để bồi thường  
sử dụng thuốc quá nhiều steroid (Brindha và cs., 2012) [24]. Dịch chiết từ cây  
Lạc tiên đã được nghiên cứu chứng minh hoạt tính chống oxi hóa, hạ đường  
huyết và ức chế tế bào ung thư (Balasubramaniam và cs., 2010; Asir và cs.,  
2014a; Asir và cs., 2014b) [23], [21], [22].  
C. Mohanasundari và cs. (2007), đã nghiên cứu đặc tính kháng khuẩn  
của cây Lạc tiên chiết xuất từ lá và quả (ethanol và acetone) để chống lại 4 loại  
vi khuẩn gây bệnh ở người là Pseudomonas putida, Vibrio cholerae, Shigella  
flexneri và Streptococcus pyogenes kết quả cho thấy chiết xuất từ Lạc tiên có  
hoạt tính vượt trội để chống lại các mầm bệnh virus trên. Kết quả của nghiên  
cứu này đã tiếp tục khẳng định và đặt nền móng cho các bài thuốc trong dân  
gian để chữa các bệnh như tiêu chảy, đường ruột, họng, nhiễm trùng tai, sốt và  
bệnh ngoài da [25].  
Md. Asadujjaman và cs. (2014), nghiên cứu tiềm năng dược liệu của cây  
Lạc tiên chiết xuất hoạt động sinh học và dược lý kết quả cho thấy chiết xuất  
có hoạt tính giảm đau và chống tiết niệu, đồng thời nghiên cứu cũng chứng  
minh rằng chiết xuất Lạc tiên này cũng sở hữu khả năng gây độc tế bào [34].  
8
Odewo và cs. (2014), trong bài phân tích gần và phổ của Lạc tiên cho  
hay cây chứa protein thô từ 25,83 đến 26,05%, chất xơ thô từ 9,55 đến 90,61%,  
chất béo thô từ 2,87 đến 2,98%, Tro từ 28,55 đến 28,84%, carbohydrate từ  
40,46 đến 40,69% và độ ẩm từ 1,79 đến 1,96%. Mỗi chất dinh dưỡng thực hiện  
chức năng cụ thể trong hệ thống cơ thể. Điều này thực sự làm cho cây có tính  
dược liệu cao với mức độ độc hại thấp. Độ ẩm của lá phù hợp với định nghĩa  
của các loại rau được đặc trưng với hàm lượng nước cao. Chất xơ cũng có tác  
dụng sinh hóa đối với sự hấp thụ và tái hấp thu axit mật cũng như sự hấp thụ  
chất béo và cholesterol trongchế độ ăn uống. Chiết xuất của lá được tìm thấy  
có chứa các hợp chất dinh dưỡng cần thiết theo dược phẩm cũng như trong thực  
phẩm bổ sung [35].  
Sanjeet Kumar và cs. (2016) đã nghiên cứu và cho rằng cây Lạc tiên có  
thể được tìm thấy trên khắp các bang Odisha của Ấn Độ và cây có vai trò như  
một cây thuốc chứa nhiều hợp chất hoạt tính sinh học như steroids, tannins và  
alkaloids. Các bộ phận của cây Lạc tiên có khẳ năng chống vi khuẩn, chống  
tiêu chảy, chống oxy hóa và chống lở loét. Các nghiên cứu sâu hơn là cần thiết  
để đề cập nhiều hơn về biến đổi hình thái, đang dạng sinh thái, dược lý và sinh  
học để phân lập các hợp chất hoạt tính sinh học mới cho phát triển nguồn cây  
thuốc [38].  
Dewi Yuliana và cs. (2014 – 2015) kiểm tra hoạt chất chống oxy hóa với  
chiết xuất Lạc tiên trên chuột nâu (Rattus Norvegicus) với 18 con chuột và chia  
thành 6 nhóm gồm nhóm bình thường, nhóm đối chứng được tiêm trong màng  
bụng với liều CCl4 1,0 ml/kgwb và Na-CMC, nhóm Điều trị bằng Vitamin C,  
điều trị theo nhóm bằng chiết xuất Permot liều 100 mg/kgwb, 200 mg/kgwb và  
400 mg/kgwb, việc điều trị của tất cả các nhóm được tiến hành trong 7 ngày.  
Phân tích dữ liệu giữa tất cả các nhóm sử dụng One Way Anova và tiếp tục  
bằng cách sử dụng thử nghiệm so sánh Duncan sau khi sử dụng vitamin C và  
9
chiết xuất permot giữa các nhóm điều trị là mức MDA và SGPT. Các kết quả  
nghiên cứu là permotekstracts có hoạt tính chống đông máu ở chuột và liều hiệu  
quả là 400 mg/kgwb [28].  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam  
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về cây dược liệu  
trong khu vực Đông Nam ꢀ. Điều này thể hiện ở sự đa dạng về chủng loại cây  
dược liệu (trong số hơn 12.000 loài thực vật Việt Nam thì có gần 4.000 loài cho  
công dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược  
liệu được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới (Bộ NN&PTNT 2007) [3].  
Mặc dù có tiềm năng to lớn, song công cuộc bảo tồn và phát triển các cây dược  
liệu cũng đang gặp phải một số hạn chế, khó khăn. Các loài cây dược liệu đang  
có thị trường tiêu thụ lớn song chưa đáp ứng đủ. Nguồn nguyên liệu hiện này  
chủ yếu khai thác từ tự nhiên. Hầu hết các loài cần được bảo tồn, nuôi trồng,  
song gặp nhiều khó khăn về nguồn giống, công nghệ nuôi trồng. Do đó, công  
tác phát triển nguồn gen gặp nhiều khó khăn.  
Một số đề tài dự án các cấp nhân giống và nuôi trồng thử nghiệm một số  
cây dược liệu đã được tiến hành ở nước ta, như dự án: “Hoàn thiện quy trình  
nhân giống và trồng thử nghiệm cây dược liệu Hà thủ ô đỏ (Polygonum  
multiflorum), cây Lan gấm (Anoetochilus) tại Phú Yên” giai đoạn 2014-2016.  
Dự án: “Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống một số loài  
dược liệu và xây dựng mô hình sản xuất giống để xây dựng vùng trồng dược  
liệu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” giai đoạn 2015 - 2017 (Nguyễn Trọng Lực 2017)  
[13] (Nguyễn Hữu Thiện 2017) [16]. Một số nhiệm vụ khai thác phát triển  
nguồn gen cây Khôi tía, Hà thủ ô đỏ, Đẳng sâm, Đinh lăng, Hoàng tinh hoa đỏ,  
Hoàng tinh hoa trắng... Các Nhiệm vụ này tập trung vào xây dựng được quy  
trình nhân giống bằng giâm hom hoặc sản xuất cây giống từ hạt, xây dựng mô  
hình trồng, thu hái và sơ chế, chế biến. Nhìn chung, các Nhiệm vụ đã được thực  
 
10  
hiện chưa quan tâm đến tuyển chọn, chọn lọc nguồn gen tốt có năng suất, chất  
lượng cao, xây dựng vườn giống gốc tại vùng sinh thái bản địa để cung cấp  
nguồn giống chất lượng cao cho sản xuất tại vùng miền núi nước ta. Vì vậy,  
các Nhiệm vụ sau khi kết thúc, nguồn gen đã bị thất thoát, chết dần do không  
được bảo tồn trong trong vườn giống, phát triển nhân giống và mở rộng vùng  
sản xuất sau đó. Đồng thời các Nhiệm vụ chưa đầu tư cho xây dựng quy trình  
nhân giống ở quy mô công nghiệp, sử dụng giá thể siêu nhẹ, giúp cho cây giống  
có tỷ lệ sống cao. Nguồn giống cung cấp cho sản xuất còn hạn chế, chưa ban  
hành được tiêu chuẩn cây giống và giống gốc cho các loài cây dược liệu.  
Hiện nay trên địa bàn các tỉnh miền núi có các Trung tâm nhân giống và  
nuôi trồng một số cây dược liệu. Để phát triển cây dược liệu có giá trị kinh tế  
cao với quy mô lớn, không chỉ cần nguồn giống chất lượng cao, mà cả số lượng  
lớn cho nuôi trồng. Nhu cầu về giống cây dược liệu trên địa bàn các tỉnh là rất  
lớn, trong khi khả năng sản xuất và cung ứng cây giống còn rất hạn chế, chủ  
yếu là sản xuất theo phương pháp truyền thống và nhập khẩu giống. Quy trình  
trồng trọt và thu hái chưa hoàn chỉnh.  
Cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) là một loại dược liệu được dùng  
trong sản xuất đông dược và tân dược. Cây còn có nhiều tên gọi: cây Lạc, cây  
Lồng đèn, Hồng tiên, Mắc mát, Long châu quả... Dân gian thường dùng dây và  
lá cây Lạc tiên sắc uống làm thuốc an thần chữa mất ngủ. Theo Đỗ Tất Lợi  
(2004), dây, lá, hoa cây Lạc tiên thái nhỏ, phơi khô có công dụng an thần, giải  
nhiệt, mát gan; chữa trị chữa đau đầu, mất ngủ, thường phối hợp thêm với một  
số vị thuốc khác. Quả cây Lạc tiên vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt,  
giải độc, lợi thủy, dùng chữa ho do phế nhiệt, phù thũng, giã đắp chữa ung nhọt  
lở loét ở chân [12].  
Theo Đỗ Huy Bích (2004) cây Lạc tiên được dùng làm thuốc an thần,  
chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh. Ngọn non của cây thường được thu hái để  
11  
luộc ăn vào buổi chiều hoặc trước khi đi ngủ vài giờ. Dạng thuốc thông thường  
là cao lỏng có đường được pha chế như sau: Lạc tiên 400g, lá vông 400g, lá gai  
100g, rau má 100g. Tất cả nấu với nước, cô đặc được 100ml. đường nấu với  
sirô. Pha 6 phần cao với 4 phần sirô. Ngày uống 40ml chia làm 2 lần uống. Quả  
Lạc tiên trứng (P. edulis Sims) được dùng làm nước giải khát có tác dụng mát  
và bổ. Cách làm như sau: quả chín (càng chín càng thơm) 0.5 kg, bổ đôi nạo  
hết ruột, ép và lọc lấy dịch quả. Đường trắng 0.250 kg hòa với 1 lít nước đun  
sôi để nguội. Đổ dịch quả vào nước đường trộn đều. Uống với nước đá. Nước  
quả Lạc tiên trứng có mùi thơm đạc biệt. Vị hơi chua, chứa nhiều vitamin nhất  
là vitamin B2 [2].  
Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Bảo và Phạm Việt Tý (2017) nghiên  
cứu về các hợp chất phân lập từ dịch chiết methanol cây Lạc tiên (Passiflora  
foetida L.) bằng cách sử dụng các phương pháp sắc ký với các hệ dung môi phù  
hợp và kết hợp các phương pháp phổ, đã phân lập và xác định được cấu trúc 4  
hợp chất từ dịch chiết methanol của cây lạc tiên thu hái ở tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Đó là luteolin, β-adenosine, methyl gallate và myo-inositol. Đây là lần đầu tiên  
cây Lạc tiên ở tỉnh Thừa Thiên Huế được nghiên cứu về thành phần hóa học và  
theo tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, hợp chất 3 được phân lập lần đầu tiên từ  
loài này [1].  
Vũ Thị Hiệp và Nguyễn Phương Dung (2014) đã đánh giá tác dụng an  
thần giải lo âu của cao chiết cồn Lạc tiên tây (Passiflora incarrnata L.) trên  
chuột nhắt trắng. Kết quả cho thấy Cao cồn Lạc tiên tây không thể hiện độc  
tính cấp ở liều 3,2 g/kg. Ở liều 150 mg/kg, cao Lạc tiên tây thể hiện tác dụng  
an thần giải lo âu trên mô hình hai ngăn sáng tối. Trên mô hình kéo dài thời  
gian ngủ của thiopental và chữ thập nâng cao, liều 300 mg/kg có tác dụng an  
thần, giải lo âu. Nghiên cứu độc tính bán trường diễn cho thấy cao cồn Lạc tiên  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 94 trang yennguyen 12820 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) tại Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_anh_huong_cua_thoi_vu_trong_den_qua_tri.pdf