Khóa luận Phân lập, tuyển chọn vi nấm phân hủy xenlulo dưới tán rừng Thông tại Đại Lải, Vĩnh Phúc

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------  
SẦM VĂN ĐÔNG  
PHÂN LẬP TUYỂN CHỌN VI NẤM PHÂN HỦY XENLULO DƯỚI  
TÁN RỪNG THÔNG TẠI ĐẠI LẢI, VĨNH PHÚC  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên nghành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------  
SẦM VĂN ĐÔNG  
PHÂN LẬP TUYỂN CHỌN VI NẤM PHÂN HỦY XENLULO DƯỚI  
TÁN RỪNG THÔNG TẠI ĐẠI LẢI, VĨNH PHÚC  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên nghành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K46 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn: TS. Vũ Văn Định  
ThS. Phạm Thu Hà  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu  
và kết quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề  
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.  
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các  
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.  
Thái nguyên, tháng 5 năm 2019  
Xác nhận của GVHD  
Đồng ý cho bảo vệ kết quả  
trước hội đồng khoa học  
Người viết cam đoan  
Sầm Văn Đông  
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban  
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, cảm ơn các thầy cô  
giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học  
tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.  
Tôi đặc biệt xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm  
sâu sắc của thầy giáo TS. Vũ Văn Định, cô giáo ThS. Phạm Thu Hà đã  
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt  
nghiệp này.  
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người  
thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.  
Trong quá trình nghiên cứu do có những chủ quan và khách quan nên  
khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế. Tôi rất mong nhận  
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các sinh viên để tôi hoàn  
thành khóa luận được tốt hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019  
Sinh viên  
Sầm Văn Đông  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
PHẦN I  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Trong những năm gần đây, hiện tượng sa mạc hóa và cháy rừng ngày  
càng tăng rõ rệt. Một trong những nguyên nhân cháy rừng đó là do biến đổi  
khí hậu như rét đậm, rét hại làm gia tăng nhanh cành khô, lá rụng nằm trên  
mặt đất dưới tán rừng lớn, mặt khácdo khô hạn kéo dài dẫn đến gia tăng  
nhanh vật liệu cháy. Sử dụng vi sinh vật phân giải xenlulo có sẵn trong đất có  
khả năng phân giải cành khô lá rụng trên mặt đất dưới tán rừng, làm giảm  
nguy cơ cháy rừng và tăng độ phì cho đất.Vi sinh vật phân giải xenlulo có  
nhiều loại khác nhau như vi khuẩn, xạ khuẩn, các loại nấm lớn và vi nấm.  
Trên trái đất đa phần các vi nấm đều không thể nhìn thấy được bằng  
mắt thường, chúng sống phần lớn ở trong đất, chất mùn xác sinh vật chết,  
cộng sinh hoặc ký sinh trên cơ thể động thực vật và nấm khác. Vi nấm đóng  
một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, chúng phân hủy các chất hữu cơ và  
trong chu trình chuyển hóa, trao đổi vật chất. Nấm, vi nấm được ứng dụng  
rộng rãi trong đời sống và sản xuất, nhiều loài vi nấm phân hủy xenlulo mạnh  
như: Aspergilluschaetomium, Aspergillusfumigatus, Aspergillusflavus,  
Curvularia, Fusarium, Memoniella, Phomo, Thielavia và Trichoderma…  
chúng có tác dụng phân giải các chất hữu cơ dưới lớp thảm mục làm tăng các  
chất hữu cơ, mùn khoáng trong đất có tác động tích cực đến thảm thực vật  
rừng. Ngoài ra một số loài nấm có khả năng hạn chế một số loại bệnh trên cây  
trồng, kích thích sinh trưởng cho cây tiêu biểu Trichoderma reesei,  
Trichoderma viride. Nấm và vi khuẩn là những sinh vật phân hủy chính có  
vai trọng đối với hệ sinh thái cạn trên toàn thế giới. Dựa theo tỉ lệ giữa số nấm  
và số loài thực vật ở trong cùng một môi trường người ta ước tính giới Nấm  
có khoảng 1,5 triệu loài. Khoảng 100.000 đã được nhà khoa học phát hiện và  
     
2
miêu tả, tuy nhiên kích cỡ thực sự của tính đa dạng của giới nấm vẫn còn  
nhiều bí ẩn.  
Mỗi chất hữu cơ đều bị một nhóm vi sinh vật tương ứng phân huỷ một  
phần hay toàn bộ, các sản phẩm phân huỷ này lại được các loài khác phân huỷ  
tiếp, cứ như thế đến tận các chất vô cơ. Như vậy, vật chất luôn luôn được tuần  
hoàn bởi hai loại quá trình đối lập nhau: sự tổng hợp chất hữu cơ từ chất vô  
cơ, và phân huỷ chất hữu cơ thành chất vô cơ. Các quá trình phân huỷ này chủ  
yếu do vi sinh vật thực hiện (nấm chiếm 50%) ở bất kỳ đâu có sự hiện diện  
của chúng: trong đất, trong nước, trong cơ thể các sinh vật khác.  
Có rất nhiều loại vi nấm khác nhau, mức độ và khả năng phân hủy  
xenlulo cũng khác nhau, mỗi loại vi nấm đều có lợi ích và tác hại riêng của  
mình, vi nấm rất phong phú nên việc nghiên cứu các loại vi nấm này là rất  
quan trọng, việc tìm ra các vi nấm này sẽ giúp quá trình phân hủy xenlulo  
trong tự nhiên diễn ra nhanh hơn góp phần phân hủy các chất thảm mục, tạo  
chất dinh dưỡng cho cây rừng cũng như làm giảm thiểu một phần khả năng  
cháy rừng.  
Để nhận biết, phân lập và tuyển chọn được các loại vi nấm phân hủy  
xenlulo cao dưới tán rừng thông nhằm phục vụ công tác nghiên cứu phát  
triển những lợi ích của các loại vi nấm này tôi thực hiện đề tài: “Phân lập,  
tuyển chọn vi nấm phân hủy xenlulo dưới tán rừng Thông tại Đại Lải  
Vĩnh Phúc”.  
Trên cơ sở phân tích các mẫu, số liệu thu được tiến hành nhận biết và  
tuyển chọn được một số chủng vi nấm có khả năng phân hủy xenlulo dưới tán  
rừng Thông.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Phân lập, tuyển chọn được một số chủng vi nấm có khả năng phân  
giải xenlulo dưới tán rừng Thông.  
 
3
- Khảo sát một số đặc tính sinh học để phục vụ nuôi cấy vi nấm có hiệu  
lực cao tạo ra các chế phẩm sinh học phân hủy nhanh xenlulo dưới rừng thông  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học  
- Là cơ sở khoa học để tạo chế phẩm sinh học từ một số chủng vi nấm  
nhằm phân hủy nhanh xenlulo dưới tán rừng Thông.  
1.3.2. Ý nghĩa trong học tập, thực tiễn  
- Góp phần xây dựng cơ sở khoa học tạo ra các chế phẩm sinh học từ  
các chủng vi sinh vật phân hủy nhanh xenlulo làm giảm nguy cơ cháy rừng  
cho các diện tích rừng thông ở Đại Lải nói riêng và Việt Nam nói chung.  
- Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và tăng  
các kỹ năng thực hành trong phòng thí nghiệm và ngoài hiện trường.  
- Giúp chúng ta hiểu thêm được tầm quan trọng của vi nấm nói riêng  
cũng như vi sinh vật nói chung.  
- Trang bị cho sinh viên những kiến thức thực tế, những kinh nghiệm  
và ý thức làm việc trước khi ra trường, là cơ sở để sinh viên thực hiện tốt  
khóa luận tốt nghiệp.  
     
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học  
Vi nấm phân giải xenlulo để sản xuất chế phẩm ứng dụng có hiệu quả  
cao đối với một số loại cây trồng trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, giúp cây  
trồng sinh trưởng và phát triển tốt, hiệu quả về mặt kinh tế và bảo vệ được  
môi trường sinh thái và tăng hàm lượng dinh dưỡng (N, P, K). Sử dụng chế  
phẩm sinh học phân hủy Xenlulo, giúp quá trình phân giải xenlulo diễn ra  
nhanh hơn. Do vậy đề tài thực hiệnrất cần thiết có ý nghĩa cả về lý luận và  
thực tiễn.  
2.1.1. Tổng quan về Emzym celluase  
Xenlulo là hợp chất cao phân tử được trùng hợp (polyme hóa) từ các  
gốc β-Dglucose bằng cầu nối β-1,4-glycosid nhờ vào khả năng tự dưỡng dưới  
ánh sáng của thực vật. Vì vậy, xenlulo là hợp chất phổ biến nhất trong tự  
nhiên. Xenlulo có cấu trúc mạch thẳng dạng sợi rất bền, khó bị phân hủy.  
Xenlulo là chất hữu cơ khó phân hủy. Người và hầu hết động vật không  
có khả năng phân hủy cellulose. Do đó, khi thực vật chết hoặc con người thải  
các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc thực vật đã để lại trong môi trường lượng  
lớn rác thải hữu cơ. Tuy nhiên nhiều chủng vi sinh vật bao gồm nấm, vi khuẩn  
và xạ khuẩn có khả năng phân hủy xenlulo thành các sản phẩm dễ phân hủy  
nhờ enzyme cellulase (Trịnh Đình khả và cộng sự, 2007) [ 9]  
Cellulase là phức hệ enzyme thủy phân xenlulo tạo thành các phân tử  
đường β-glucose. Theo nghiên cứu của một số tác giả, xenlulo bị phân hủy  
dưới tác dụng hiệp đồng của phức hệ cellulase bao gồm ba enzyme là Exo-β-  
(1,4)-glucanase hay enzyme C1, Endo-β-glucanase hay endocellulase còn gọi  
là enzyme CMC–ase hay Cx và β-(1,4)-glucosidase hay cellobioase:  
Exo-1,4-gluconase giải phóng cellobiose hoặc glucose từ đầu không  
khử của cellulose, tác dụng yếu lên CMC nhưng tác dụng mạnh lên xenlulo và  
       
5
định hình hoặc xenlulo đã bị phân giải một phần. Tác dụng lên xenlulo kết  
tinh không rõ ràng nhưng khi có một endoglucanase thì có tác dụng hiệp đồng  
rõ rệt, enzyme tác dụng mạnh lên cellodextrin. Enzyme này hoạt động mạnh ở  
vùng vô định hình nhưng lại hoạt động yếu ở vùng kết tinh của cellulose.  
β-1,4-glucosidase thủy phân cellobiose và các cellodextrin khác hòa tan  
trong nước sinh ra, chúng có hoạt tính cao trên cellobiase, còn cellodextrin thì  
hoạt tinh thấp và giảm khi chiều dài của chuỗi tăng lên.  
2.1.1.1 Phân loại cellulase  
Cellulase là phức hệ enzyme có tác dụng thủy phân xenlulo thông qua  
việc thủy phân liên kết β-1,4-glycoside tạo thành các phân tử đường β-  
glucose.  
Dựa vào đặc điểm của cơ chất và cơ chế phân cắt, enzyme cellulase  
được chia thành ba loại: - 1,4- -D-glucan cellobiohydrolase (EC 3.2.1.91) -  
1,4- -D-glucan 4-glucanohydrolase (EC 3.2.1.4) - -D-glucoside  
glucohydrolase (EC 3.2.1.21) Các enzyme này được tìm thấy trong vi khuẩn  
sống trong dạ dày cỏ bò và mối và trong một số nấm như Trichoderma,  
Aspergillus…  
Endo-1,4-glucanase (hay CMC-ase, Cx, EC 3.2.1.4) thủy phân liên kết ß-  
1,4-glucoside và tác động vào chuỗi xenlulo một cách tùy tiện, sản phẩm của  
quá trình thủy phân là cellobiose và glucose. Do thủy phân CMC hoặc xenlulo  
theo kiểu tùy tiện nên endo-1,4-glucanase làm giảm nhanh chiều dài chuỗi  
xenlulo và tăng chậm các nhóm khử, enzyme tác dụng mạnh lên cellodextrin.  
Enzyme này hoạt động mạnh ở vùng vô định hình nhưng lại hoạt động yếu ở  
vùng kết tinh của cellulose.  
Exo-1,4-gluconase (hay cellobiohydrolase, C1 EC 3.2.1.91) giải phóng  
cellobiose hoặc glucose từ đầu không khử của cellulose, tác dụng yếu lên  
CMC nhưng tác dụng mạnh lên xenlulo vô định hình hoặc xenlulo đã bị phân  
6
giải một phần. Tác dụng lên xenlulo kết tinh không rõ nhưng khi có mặt  
endoglucanase thì có tác dụng hiệp đồng rõ rệt.  
ß-1,4-glucosidase (hay cellobiase, EC 3.2.1.21) thủy phân cellobiose và  
các cellodextrin khác hòa tan trong nước sinh ra, chúng có hoạt tính cao trên  
cellobiase, còn cellodextrin thì hoạt tính thấp và giảm khi chiều dài của chuỗi  
tăng lên. Chức năng của ß-glucosidase có lẽ là điều chỉnh sự tích lũy các chất  
cảm ứng của cellulase.  
2.1.1.2. Cơ chế tác dụng của enzyme cellulase  
Cellulase là một hệ enzyme phức tạp xúc tác sự thủy phân xenlulo thành  
cellobiose và cuối cùng thành glucose.  
Sự phân giải xenlulo dưới tác dụng của hệ enzyme cellulase xảy ra theo  
3 giai đoạn chủ yếu sau:  
Trong giai đoạn thứ nhất, dưới tác dụng của tác nhân C1, xenlulo bị thủy  
phân thành xenlulo hòa tan. Trong giai đoạn thứ hai, xenlulo hòa tan sẽ bị  
thủy phân dưới tác dụng xúc tác của hệ enzyme Cx tạo thành đường  
cellobiose.  
Ở giai đoạn cuối cùng, dưới tác dụng của enzyme ß-1,4-glucosidase (hay  
cellobiase, EC 3.2.1.21), cellobiose bị thủy phân thành glucose.  
Hình 2.1. Cơ chế tác dụng của xenlulo tới cellulose.  
 
7
Các loài vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp cellulase trong điều kiện  
tự nhiên thường bị ảnh hưởng bởi tác động nhiều mặt của các yếu tố ngoại  
cảnh nên có loài phát triển rất mạnh, có loài phát triển yếu. Chính vì thế, việc  
phân hủy xenlulo trong tự nhiên được tiến hành không đồng bộ, xảy ra rất chậm.  
2.1.1.3. Ứng dụng của emzym cellulose  
Hiện nay, enzyme cellulase được ứng dụng mạnh mẽ trong các ngành  
công nghiệp khác nhau như: công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất  
bia rượu, công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, công nghiệp dệt, sản xuất bột  
giặt, sản xuất giấy, trong nông nghiệp ...  
Trong công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy, bổ sung các loại enzyme  
trong khâu nghiền bột, tẩy trắng và xeo giấy có vai trò rất quan trọng. Nguyên  
liệu ban đầu chứa hàm lượng cao các chất khó tan là lignin và một phần  
hemicellulose, nên trong quá trình nghiền để tách riêng các sợi gỗ thành bột  
mịn gặp nhiều khó khăn.  
Trong công nghiệp xử lý rác thải và sản xuất chế phẩm vi sinh. Rác thải  
là nguồn chính gây nên ô nhiễm môi trường dẫn tới mất cân bằng sinh thái và  
phá hủy môi trường sống, đe dọa tới sức khỏe và cuộc sống con người. Thành  
phần hữu cơ chính trong rác thải là cellulose, nên việc sử dụng công nghệ vi  
sinh trong xử lý rác thải cải thiện môi trường rất có hiệu quả. Enzyme này có  
khả năng thủy phân chất thải chứa cellulose, chuyển hoá các hợp chất kiểu  
lignoxenlulo và xenlulo trong rác thải tạo nên nguồn năng lượng thông qua  
các sản phẩm đường, ethanol, khí sinh học hay các các sản phẩm giàu năng  
lượng khác.  
Trong công đoạn nghiền bột giấy, bổ sung endoglucanase sẽ làm thay  
đổi nhẹ cấu hình của sợi cellulose, tăng khả năng nghiền và tiết kiệm khoảng  
20% năng lượng cho quá trình nghiền cơ học. Trước khi nghiền hóa học, gỗ  
được xử lý với endoglucanase và hỗn hợp các enzyme hemicellulase,  
pectinase sẽ làm tăng khả năng khuếch tán hóa chất vào phía trong gỗ và hiệu  
quả khử lignin. Trong công nghệ tái chế giấy, các loại giấy thải cần được tẩy  
mực trước khi sản xuất các loại giấy in, giấy viết. Endoglucanase và  
8
hemicellulase đã được dùng để tẩy trắng mực in trên giấy. Enzyme cellulase  
được bổ sung vào nhiều giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất giấy.  
Trong công nghiệp dệt, người ta sử dụng enzyme cellulase để giữ màu  
vải sáng, bền và không bị sờn cũ. Đối với vải jean, cellulase được dùng để  
làm mềm vải jean và tạo ra các vệt “stone washed”. Trước đây các vệt “stone  
washed” được làm thủ công bằng cách dùng đá bọt chà lên vải jean, làm mất  
lớp kiềm trên bề mặt vải và tạo ra những sợi chỉ trắng. Hiện nay người ta sử  
dụng enzyme cellulase trong giai đoạn giặt vải jean thay cho việc sử dụng đá  
bọt. Enzyme cellulase chỉ phân hủy theo các vết kiềm trên vải jean đã nhuộm  
màu để tạo ra các vệt “stone washed”. Các vệt “stone washed” được tạo ra  
bằng phương pháp này bền hơn bằng cách dùng đá bọt. Ngoài ra, người ta có  
thể tăng độ đậm nhạt của các vệt này bằng cách tăng hay giảm hàm lượng  
cellulase sử dụng trong giai đoạn giặt.  
Ngoài việc bổ sung trực tiếp vi sinh vật vào bể ủ để xử lý rác thải thì việc  
tạo ra các chế phẩm vi sinh có chứa các vi sinh vật sinh ra cellulase đã được  
nghiên cứu và sản xuất.  
2.1.2.Khả năng phân hủy các chất tự nhiên của vi sinh vật.  
Các chất hữu cơ sơ cấp - do thực vật tổng hợp từ CO2 liên tục hàng  
triệu năm nay, và các chất hữu cơ thứ cấp bắt nguồn từ đó, luôn luôn được  
phân huỷ song song và gần như cân bằng với sự tạo ra chúng, nên không bị  
tích tụ trên trái đất. Chỉ một phần nhỏ của sinh khối thực vật còn được giữ lại  
dưới dạng các hợp chất cacbon có tính khử mạnh như dầu mỏ, khí mỏ và than  
đá, trong điều kiện kị khí. Còn trong điều kiện có không khí thì mọi chất được  
các cơ thể sống tổng hợp nên đều có khả năng bị phân huỷ nhờ vi sinh vật.  
Mỗi chất hữu cơ đều bị một nhóm vi sinh vật tương ứng phân huỷ một  
phần hay toàn bộ, các sản phẩm phân huỷ này lại được các loài khác phân huỷ  
tiếp, cứ như thế đến tận các chất vô cơ. Như vậy vật chất luôn luôn được tuần  
hoàn bởi hai loại quá trình đối lập nhau: sự tổng hợp chất hữu cơ từ chất vô  
cơ, và phân huỷ chất hữu cơ thành chất vô cơ. Các quá trình phân huỷ này chủ  
yếu do vi sinh vật thực hiện, ở bất kỳ đâu có sự hiện diện của chúng: trong  
đất, trong nước, trong cơ thể các sinh vật khác. Riêng trong đất, sự phân huỷ  
 
9
chất hữu cơ rơi vào đó do nhiều nhóm vi sinh vật và nhiều động vật nhỏ tham  
gia, tạo thành các mạng lưới dinh dưỡng.  
Vi sinh vật phân huỷ các chất hữu cơ tự nhiên để thu nhận vật chất  
(nguồn cacbon, nguồn nitơ…) và năng lượng, cho sinh trưởng của chúng. Trải  
qua quá trình tiến hoá nhiều tỷ năm, chúng đã hoàn thiện được nhiều con  
đường phân huỷ đối với nhiều loại chất khác nhau.Vi sinh vật phân giải  
xenlulo có khả năng phân giải cành khô lá rụng trên mặt đất dưới tán rừng,  
làm giảm nguy cơ cháy rừng, tăng độ phì cho đất. Kết quả là ngày nay, không  
có một chất tự nhiên hữu cơ nào không bị vi sinh vật phân huỷ tạo nên một  
chu trình tuần hoàn khép kín.  
2.1.3. Nấm phân giải xenlulo  
Một số VSV đã được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều về khả năng  
phân giải xenlulo được thể hiện bảng 2.1 .  
Bảng 2.1. Một số VSV sản xuất cellulase  
Nấm sợi  
Xạ khuẩn  
Vi khuẩn  
Aspergillus niger  
A.oryzae  
Actinomyces aureus  
Act.cellulose  
Preudomonas  
Fluorescens  
A.terreus  
Act.diastaticus  
Act. roseus  
B.megaterium  
A.syndovii  
B.mensenteroides  
Clostridium sp.  
Acetobacter xylinum  
Vi khuẩn dạ cỏ  
Ruminoccus albus  
Ruminobacter parum  
Bacteroides  
A. flavus  
Act.griseus  
Fusarium culmorum  
Fusarium oxysporum  
Mucor pusilus  
Act.melamocylas  
Act.coelicolor  
Act.candidus  
Pen. notatum  
Act.chromogenes  
Act. hygroscopicus  
Act.griseofulvin  
Act.ochroleucus  
Act.thermofulcus  
Act.xanthostrums  
Thermonospora curvata  
Penicillium spp  
Trichoderma lignorum  
Trichoderma reesei  
Trichoderma viride  
Trichoderma konongi  
Amylophillus sp.  
Clos.butiricum  
Clos.locheheadil  
Cellulosemonas  
   
10  
Xenlulo là một polime hữu cơ phổ biến nhất, tương ứng khoảng  
1,5x1012 tấn trên tổng số sinh khối thực vật được sản xuất ra hàng năm thông  
qua quang hợp đặc biệt đặc biệt là ở những vùng nhiệt đới và chúng được coi  
là nguồn vật liệu vô tận cho các nghành sản xuất khác nhau như công nghiệp  
chế biến giấy,công nghiệp chế biến thực phẩm, nhiên liệu sinh học cũng như  
ứng dụng trong lĩnh vực Nông-Lâm nghiệp. Hệ VSV có khả năng phân hủy  
xenlulo bao gồm nấm,vi khuẩn và xạ khuẩn Giới Nấm (tên khoa học: Fungi)  
bao gồm những sinh vật nhân chuẩn dị dưỡng có thành tế  
bào bằng kitin (chitin). Phần lớn nấm phát triển dưới dạng các sợi đa  
bào được gọi là sợi nấm (hyphae) tạo nên hệ sợi (mycelium), một số nấm  
khác lại phát triển dưới dạng đơn bào. Quá trình sinh sản (hữu tính hoặc vô  
tính) của nấm thường qua bào tử, được tạo ra trên những cấu trúc đặc biệt  
hay quả thể.Một số loài lại mất khả năng tạo nên những cấu trúc sinh sản đặc  
biệt và nhân lên qua hình thức sinh sản sinh dưỡng.  
Vậy những loài nấm nào là Vi nấm (Microfungi)? Đó là tất cả các nấm  
không có mũ nấm (quả thể, fruit-body) có thể thấy rõ bằng mắt thường.Người  
ta gọi những nấm có mũ nấm là các nấm bậc cao. Tuy nhiên khi nuôi cấy sợi  
nấm của các nấm bậc cao để nghiên cứu hoặc để sản xuất sinh khối thì chúng  
cũng được coi như vi nấm và là đối tượng nghiên cứu của ngành vi sinh vật  
(giống như các loài vi nấm khác). Để nghiên cứu vi nấm bắt buộc phải quan  
sát dưới kính hiển vi và phải nuôi cấy trong các điều kiện vô khuẩn. Căn cứ  
vào hình thái người ta chia vi nấm thành hai nhóm khác nhau: nhóm Nấm  
men (Yeast) và nhóm Nấm sợi (Filamentous fungi). Chúng chỉ khác nhau về  
hình thái chứ không phải là những taxon phân loại riêng biệt.Nhiều nấm men  
cũng có dạng sợi và rất khó phân biệt với nấm sợi.  
Các loài nấm mốc có khả năng sinh nhiều xenlulo thuộc các giống  
Allernaria, Trichoderma, Myrothecium, Aspergillus, Penicillium...Chúng  
được tách ra từ đất xung quanh vùng rễ cây, từ các mẫu thực vật, từ than bùn  
11  
và các nguồn tự nhiên khác có quá trình phân hủy cellulose. Ngoài ra các  
chủng nấm lớn thuộc lớp Basidomycetes cũng được đánh giá có khả năng sinh  
xenlulo mạnh.  
Có rất nhiều loài nấm phân giải xenlulo mạnh trong đó nấm có hoạt  
tính phân giải xenlulo đáng chú ý Trichoderma bao gồm hầu hết các loại sống  
hoại sinh trong đất, những đại diện tiêu biểu Trichoderma reesei,  
Trichoderma viride chúng phân hủy tàn dư thực vật trong đất góp phần  
chuyển hóa lượng hữu cơ khổng lỗ thành các chất dễ tiêu có lợi cho thực vật  
và tạo lớp mùn cho đất. Một số loài nấm khác cũng có hoạt tính phân giải  
xenlulo khá cao là Aspergillus niger, A.oryzae, Fusarium solani,  
Penicillium pinophinum và Sclerotium rolfsii. Các loài nấm khác nhau thì  
khả năng phân giải xenlulo mạnh yếu khác nhau. Để cho quá trình phân  
hủy xenlulo diễn ra nhanh hơn người ta thường bổ sung thêm các chất dễ  
đồng hóa như glucoza, xenlobioza vào môi trường nuôi cấy có thể làm  
cho pH của môi trường giảm nhanh chóng và do đó hoạt tính xenlulaza  
của các chủng nấm Trichoderma giảm.  
Thường các loài nấm phân giải xenlulo ở độ ẩm cao và nhiệt độ: 20-  
300C, pH trong khoảng 3,5-3,6. Các loài nấm ưa nhiệt sinh trưởng và phân  
giải nhanh nhưng có hoạt tính xenlulo trong dịch nuôi cấy lại thấp.  
Nấm không có khả năng ăn các chất dinh dưỡng nhưng lại tiết ra  
enzym vào môi trường xung quanh để phân hủy các phân tử phức tạp thành  
các chất hòa tan để nấm có thể hấp thu được. Nhiều nấm sống hoại sinh, có  
nghĩa là chúng dinh dưỡng trên phần còn lại của chất hữu cơ đã chết. Số khác  
là những sinh vật ký sinh và kiếm thức ăn trực tiếp từ các cơ thể sống trong  
các mô của vật chủ sống, nấm ký sinh tùy ý có khả năng sống hoại sinh và  
thường gây chất các vật chủ của chúng và gồm nhiều nấm bệnh quan trọng  
của thực vật.  
12  
Vi nấm đóng vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái, chúng phân hủy  
các vật chất hữu cơ và không thể thiếu được trong chu trình chuyển hóa và  
trao đổi vật chất. Một số loài nấm có thể nhận thấy được khi ở dạng quả thể  
như nấm lớn và nấm mốc. Nấm được ứng dụng rất rộng rãi trong đời sống lẫn  
sản xuất. Nhiều loài được sử dụng trong công nghệ thực phẩm, sử dụng làm  
thức ăn hoặc trong quá trình lên men. Nấm còn được dùng để sản xuất chất  
kháng sinh, hoóc môn trong y học và nhiều loại enzym.Tuy vậy, nhiều loại  
nấm lại có chứa các chất hoạt động sinh học được gọi là mycotoxin,  
như ancaloit và polyketit-là những chất độc đối với động vật lẫn con người.  
Một số loại nấm được sử dụng để kích thích hoặc dùng trong các nghi lễ  
truyền thống với vai trò tác động lên trí tuệ và hành vi của con người. Vài loại  
nấm có thể gây ra các chứng bệnh cho con người và động vật, cũng như bệnh  
dịch cho cây trồng, mùa màng và có thể gây tác động lớn lên an ninh lương  
Tất cả những sinh vật nhỏ như vi nấm, vi khuẩn, xạ khuẩn tạo thành thế  
giới vi sinh vật vô cùng phong phú, chúng phân bố ở khắp mọi nơi trên hành  
tinh chúng ta. Chúng tham gia vào các quá trình chuyển hoá vật chất, khép  
kín các vòng tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, làm cho sự cân bằng vật  
chất được ổn định và từ đó bảo vệ sự cân bằng sinh thái. Người ta có thể sử  
dụng nhiều nhóm vi sinh vật vào mục đích bảo vệ môi trường. Ví dụ như  
nhóm vi sinh vật phân huỷ chất hữu cơ trong rác thải, nhóm vi sinh vật phân  
huỷ các chất độc hại thành chất không độc. Trong công nghệ xử lý chất thải  
bằng phương pháp sinh học có sử dụng rất nhiều nhóm vi sinh vật khác nhau.  
Vi sinh vật còn được ứng dụng trong nhiều ngành sản xuất như chế tạo phân  
bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học ... nhằm mục đích thay thế các  
chất hoá học độc hại với môi trường. Sự phân bố rộng rãi của vi sinh vật trong  
các môi trường tự nhiên đóng vai trò quyết định vào khả năng tự làm sạch  
môi trường đó, cùng với những yếu tố lý học, hoá học và sinh học khác. Vi  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 52 trang yennguyen 18380 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Phân lập, tuyển chọn vi nấm phân hủy xenlulo dưới tán rừng Thông tại Đại Lải, Vĩnh Phúc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_phan_lap_tuyen_chon_vi_nam_phan_huy_xenlulo_duoi_t.pdf