Khóa luận Đánh giá tình hình tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty TNHH MTV Cà phê 734 - Kon Tum

Khóa luận tốt nghiệp  
1. Lý do chọn đề tài  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ  
Từ những năm 1870, cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam và đã trải qua  
hơn 100 năm hình thành và phát triển. Hiện nay, ngành cà phê đã đạt được nhiều thành  
tựu to lớn và đang trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn mang tính chiến lược trong  
cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, Việt Nam xuất khẩu cà  
phê Robusta lớn nhất thế giới và là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, chỉ sau  
Brasil. Với sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn trong năm 2011, cà phê Việt Nam dành 95%  
cho xuất khẩu và chỉ 5% sản lượng cho tiêu thụ nội địa. 95% sản lượng trên được bán  
cho các nhà buôn chính ở London (Anh), New York (Mỹ) và từ đây sẽ được phân phối  
đến các nhà máy rang, xay. Tuy nhiên, theo Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng  
cho biết, chất lượng cà phê lại không đồng đều, đặc biệt cà phê bị loại thải còn chiếm  
tỷ lệ cao (80%) trong tổng số cà phê bị loại thải của thế giới. Điều này không những  
gây thiệt hại về kinh tế cho các doanh nghiệp xuất khẩu mà còn làm giảm uy tín và sức  
cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thế giới nếu không có giải pháp khắc phục.  
Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng cà phê như kỹ thuật trồng trọt và thu hái chưa  
tốt; cơ sở vật chất phục vụ sơ chế bảo quản cà phê còn thiếu thốn; cơ chế giá thu mua  
cà phê tươi chưa khuyến khích người sản xuất quan tâm đến chất lượng, nhất là khâu  
thu hoạch, phơi sấy, phân loại. Mặt khác, hầu hết cà phê của Việt Nam hiện nay đều  
dựa trên sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán; việc phân loại chất lượng theo tỷ lệ  
hạt đen, hạt vỡ là cách phân loại đơn giản và lạc hậu mà hầu hết các nước xuất khẩu cà  
phê trên thế giới không còn áp dụng.  
Công ty TNHH MTV cà phê 734 cũng không ngoại lệ, theo ông Cao Kiến  
Quốc, trưởng phòng Kế hoạch sản xuất – kinh doanh, cho biết: trong quá trình hoạt  
động của công tác tạo nguồn và thu mua, Công ty cũng gặp khó khăn như: giá cà phê  
tăng cũng như người dân sợ hái trộm, chi phí thuê nhân công cao nên nên công nhân  
thu hoạch toàn trái xanh làm ảnh hưởng đến chất lượng cà phê, làm giảm sức cạnh  
tranh của Công ty với các đối tác khác. Vì vậy, một trong những bước để nâng cao  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
1
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
chất lượng cà phê đó là nâng cao công tác tạo nguồn và thu mua, từ đó tìm được những  
giải pháp về phía công ty như cơ sở vật chất, chính sách khuyến khích lao động, chính  
sách giá… để khắc phục tình trạng cà phê kém chất lượng.  
Do đó, việc phân tích một cách chính xác, khoa học, đánh giá đúng đắn và tìm  
ra các giải pháp tối ưu để công tác tạo nguồn và thu mua cà phê được thực hiện ngày  
càng hiệu quả hơn là điều rất cần thiết. Chính vì vậy, trong thời gian thực tập cuối  
khóa tại Công ty TNHH MTV Cà phê 734- Kon Tum tôi đã chọn đề tài “Đánh giá tình  
hình tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty TNHH MTV Cà phê 734- Kon Tum”  
làm kkhóa luận tốt nghiệp của mình.  
2. Câu hỏi, mục tiêu và đối tượng nghiên cứu  
2.1. Câu hỏi nghiên cứu  
Quá trình tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty TNHH MTV Cà phê 734  
đã thực hiện hiệu quả chưa?  
2.2. Mục tiêu nghiên cứu  
-
-
Đánh giá tình hình thực hiện công tác tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty  
Đánh giá hiệu quả hoạt động của công tác tạo nguồn và thu mua cà phê của  
Công ty.  
-
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác tạo  
nguồn và thu mua cà phê của Công ty trong tương lai.  
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
-
Đối tượng nghiên cứu: Công tác tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty  
TNHH MTV Cà phê 734 – Kon Tum.  
-
Đối tượng điều tra:  
Những người cung cấp cà phê cho Công ty, cụ thể là những công nhân của Công ty.  
Dữ liệu thứ cấp về công tác tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty.  
-
-
Phạm vi không gian: Trên địa bàn huyện Đăk Hà, Tỉnh Kon Tum.  
Phạm vi thời gian: từ ngày 01/2 đến ngày 08/05/2012  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
2
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước:  
Nghiên cứu định tính  
-
-
Nghiên cứu định lượng  
3.1. Nghiên cứu định tính  
Nghiên cứu định tính để khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát  
dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu. Đầu tiên, tôi sẽ phỏng vấn các chuyên gia  
mà cụ thể ở đây là các nhà quản lý của Công ty TNHH MTV Cà Phê 734 về các chính  
sách của Công ty trong hoạt động tạo nguồn và thu mua cà phê, sản lượng cà phê bình  
quân, thời gian bán cà phê cũng như thời gian bắt đầu trồng cà phê của nhà cung cấp  
cà phê cho Công ty.  
Tiếp theo, tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu (n=5). Kết hợp với nội dung  
đã được chuẩn bị trước : lý do bán cà phê cho Công ty và khó khăn của họ trong công  
tác tạo nguồn và thu mua, tôi phỏng vấn 5 nhà cung cấp cà phê bất kỳ cho Công ty. Từ  
đó đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty.  
Kếtquảnghiêncứusơbộlàcơsởchothiếtkếbảngcâuhỏiđưavàonghiêncứuchínhthức.  
3.2. Nghiên cứu định lượng  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tình hình tạo nguồn và thu mua cà phê  
của Công ty.  
Về dữ liệu sử dụng, tôi sử dụng hai nguồn dữ liệu chính:  
3.2.1. Nguồn dữ liệu thứ cấp  
-
Các dữ liệu thu thập  
Các dữ liệu liên quan đến các hoạt động tạo nguồn và thu mua cà phê của Công  
ty (Số liệu về lao động thu mua, chính sách đối với nhà cung cấp, tình hình tiêu thụ cà  
phê, tình hình thu mua cà phê....) từ các phòng ban của Công ty mà cụ thể là phòng Kế  
hoạch sản xuất – kinh doanh.  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
3
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
3.2.2. Nguồn dữ liệu sơ cấp  
-
Các dữ liệu thu thập  
Thông tin về đối tượng được điều tra : Giới tính, thu nhập, độ tuổi, thời gian  
trồng cà phê, diện tích trồng cà phê, sản lượng cà phê tươi thu hoạch hàng năm, sản  
lượng bán cà phê hàng năm.  
Lý do bán cà phê cho Công ty.  
Đánh giá của người cung cấp cà phê về chính sách, về công tác tạo nguồn và  
thu mua của Công ty  
Những khó khăn gặp phải trong công tác tạo nguồn và thu mua của người cung cấp.  
Phương pháp thu thập: Thu thập dữ liệu bằng cách phỏng vấn có sử dụng  
-
bảng hỏi (bảng hỏi cấu trúc) với số lượng người tham gia nhiều (mẫu được chọn) và thời  
gian trả lời bảng hỏi nhanh. Trên cơ sở bảng hỏi mang tính khách quan, phương pháp điều  
tra ngẫu nhiên nhằm suy rộng cho tổng thể các nhà cung cấp cà phê cho Công ty.  
3.3. Xác định kích thước mẫu và phương pháp thu thập, xử lý số liệu  
3.3.1. Xác định kích thước mẫu  
Nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu tôi xác định cỡ mẫu  
nghiên cứu thông qua công thức:  
Sau khi điều tra thử với 30 mẫu, xác định được phương sai mẫu  
lớn nhất là  
0,595. Ta tính cỡ mẫu với độ tin cậy là 90%, thông qua tra bảng : Z=1,645 và sai số  
cho phép là e = 9%. Lúc đó mẫu ta cần chọn sẽ có kích cỡ mẫu lớn nhất:  
người  
Đây là mẫu có kích thước khá lớn so với quy mô mẫu và do điều kiện thời gian  
và tài chính không cho phép, dựa vào công thức tính mẫu điều chỉnh ta tính được số  
mẫu cần điều tra là 140 mẫu. Với công thức:  
người  
Vì >5%  
Với  
là mẫu đã điều chỉnh  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
4
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
Để đảm bảo độ chính xác cũng như loại trừ các bảng hỏi sau khi điều tra không  
đủ chất lượng, tôi tiến hành nghiên cứu 150 mẫu.  
3.3.2. Phương pháp thu thập  
Có 7 đội trồng cà phê, tổng cộng là 475 công nhân thuộc Công ty.  
Phương pháp nghiên cứu: chọn mẫu phân tầng. Dựa vào số người cung cấp cà  
phê của từng đội và mẫu được tính là 150 người. Từ đó tính tỷ lệ số người được điều  
tra của từng đội qua công thức:  
Số người cần điều tra = Số công nhân của đội i* 150/475  
Sau đó tính hệ số bước nhảyk=n/N cho từng đội để suyra những người được điều tra.  
Thực hiện:  
Tính hệ số bước nhảy ki=ni/Ni  
-
Bốc được số 2. Quyước rằng các đội đều điều tra từ công nhân có số thứ tự là 2 trở đi.  
-
Bảng 1 : Danh sách số công nhân điều tra ở mỗi đội  
Đội  
Số công nhân Sô người điều tra phỏng vấn Hệ số bước nhảy ki  
(Người)  
67  
(Người)  
21  
1
3
3
3
3
3
3
3
2
56  
18  
3
55  
17  
4
85  
27  
5
92  
29  
6
56  
18  
10  
64  
20  
Tổng  
475  
150  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
5
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
3.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu  
Sau khi mã hóa và làm sạch, các kết quả được xử lí và phân tích bằng phần  
mềm SPSS 16.0.  
Tìnhhìnhhoạtđộngtạonguồnvàthu muacà phêcủaCôngtyđược đánhgiáthôngqua:  
Thống kê tần số, tính toán giá trị trung bình.  
-
-
Kiểm định One Sample T- test được sử dụng để kiểm định về mức độ hài lòng  
trung bình của người cung cấp cà phê về công tác tạo nguồn và thu mua của Công ty.  
Giả thuyết H0: Đánh giá của người cung cấp về công tác tạo nguồn và thu mua cà phê  
của Công ty = Giá trị kiểm định (Test value).  
H1: Đánh giá của người cung cấp về công tác tạo nguồn và thu mua cà phê của  
Công ty ≠ Giá trị kiểm định (Test value).  
-
Kiểm định phương sai một yếu tố (One – way ANOVA)  
Giả thuyết H0: Không có sự khác biệt về thời gian bán cà phê khi đánh giá sự hài lòng đối  
với công tác tạo nguồn và thu mua của người cung cấp cà phê cho Công ty.  
H1: Có sự khác biệt về thời gian bán cà phê khi đánh giá sự hài lòng đối với  
công tác tạo nguồn và thu mua của người cung cấp cà phê cho Công ty.  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
6
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
Phần II: NỘI DUNG VÀ KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. Khái niệm về nguồn hàng, tổ chức công tác tạo nguồn và mua hàng  
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nhiệm vụ cơ bản là bảo đảm cho hoạt  
động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao. Điều đó đồng nghĩa là đảm  
bảo sản xuất và tiêu dùng những hàng hoá cần thiết: đủ về số lượng, tốt về chất lượng, kịp  
thời gian yêu cầu, thuận lợi cho khách. Để thực hiện được nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu đó các  
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải tổ chức tốt công tác tạo nguồn hàng.  
Theo PGS.TS Hoàng Minh Đường – Nguyễn Thừa Lộc (2005): Nguồn hàng  
của doanh nghiệp là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng hoá thích hợp với nhu cầu của  
khách hàng đã và có khả năng mua được trong kỳ kế hoạch (thường là kế hoạch năm).  
Để có nguồn hàng tốt và ổn định, doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác tạo  
nguồn. Tổ chức công tác tạo nguồn và mua hàng là toàn bộ những hoạt động nghiệp  
vụ nhằm tạo ra nguồn hàng để doanh nghiệp bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng  
bộ, đúng quy cách, cỡ loại, màu sắc… cho các nhu cầu của khách hàng  
Trong hoạt động kinh doanh, tạo nguồn là toàn bộ các hình thức, phương thức  
và điều kiện của doanh nghiệp tác động đến lĩnh vực sản xuất, khai thác hoặc nhập  
khẩu để tạo ra nguồn hàng phù hợp với nhu cầu của khách hàng, để doanh nghiệp thu  
mua, sản xuất và cung ứng cho khách hàng.  
Theo TS Hoàng Hữu Hòa (2005): Mua hàng là hoạt động của doanh nghiệp khi  
xem xét chất lượng hàng hóa, giá cả chào hàng cùng với người bán thỏa thuận điều  
kiện mua bán, giao nhận, thanh toán bằng hợp đồng hoặc trao đổi hàng – tiền.  
Trong điều kiện biến động nhanh, mạnh và không kém phần gay gắt của nền  
kinh tế như hiện nay, các nhu cầu trên thị trường cũng theo đó không ổn định, việc tạo  
nguồn và mua hàng của doanh nghiệp đòi hỏi phải nhanh nhạy, có tầm nhìn chiến lược  
và phải thấy được xu thế phát triển của khách hàng. Tức là các doanh nghiệp cần phải  
làm tốt các nội dung (Hoàng Hữu Hòa, 2005) sau:  
-
Xác định nhu cầu của khách hàng về khối lượng, cơ cấu mặt hàng, quy cách, cỡ  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
7
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
loại màu sắc, thời gian, giá cả mà khách hàng có thể chấp nhận.  
Chủ động nghiên cứu và tìm hiểu khả năng của các đơn vị cung ứng, để đặt  
hàng, ký kết hợp đồng mua hàng.  
Đồng thời cần có các biện pháp cần thiết để tạo điều kiện và tổ chức thực hiện  
-
-
tốt công tác tạo nguồn thu mua, vận chuyển, giao nhận, đưa hàng về doanh nghiệp sao  
cho có lợi nhất.  
1.2. Phân loại nguồn hàng  
Phân loại nguồn hàng của doanh nghiệp là việc phân chia, sắp xếp các loại hàng  
mua được theo các tiêu thức cụ thể, riêng biệt để doanh nghiệp có chính sách, biện  
pháp thích hợp nhằm khai thác tối đa lợi thế của mỗi loại nguồn hàng, để bảo đảm ổn  
định nguồn hàng.  
Các nguồn hàng của doanh nghiệp (Hoàng Hữu Hòa, 2005) thường được phân  
loại dựa trên các tiêu thức sau:  
1.2.1. Theo khối lượng hàng hóa mua được  
-
Nguồn hàng chính: là nguồn hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối  
lượng hàng mà doanh nghiệp mua được để cung ứng cho các khách hàng trong kỳ.  
Nguồn hàng chính quyết định về khối lượng hàng mà doanh nghiệp sẽ cung ứng hoặc  
về doanh thu cung ứng hàng của doanh nghiệp nên phải có sự quan tâm thường xuyên.  
-
Nguồn hàng phụ, mới: là nguồn hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối lượng hàng  
mua được. Khối lượng thu mua của nguồn hàng này không ảnh hưởng lớn đến khối  
lượng hoặc doanh số bán của doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chú ý tới  
khả năng phát triển của các nguồn hàng này, nhu cầu của khách hàng (thị trường) đối  
với mặt hàng, cũng như những thế mạnh khác của nó để phát triển trong tương lai.  
-
Nguồn hàng trôi nổi: là nguồn hàng trên thị trường mà doanh nghiệp có thể  
mua được do các đơn vị tiêu dùng không dùng đến hoặc do các đơn vị kinh doanh  
thương mại khác bán ra. Với nguồn hàng này, cần xem xét kỹ chất lượng hàng hoá, giá  
cả hàng hoá cũng như nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá. Nếu có nhu cầu của khách  
hàng, doanh nghiệp cũng có thể mua để tăng thêm nguồn hàng.  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
8
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
1.2.2. Theo nơi sản xuất ra hàng hóa  
-
Nguồn hàng hoá sản xuất trong nước: bao gồm tất cả các loại hàng hoá do các  
doanh nghiệp sản xuất đặt trên lãnh thổ đất nước sản xuất ra được doanh nghiệp mua  
vào. Người ta có thể chia nguồn hàng sản xuất trong nước theo ngành sản xuất như:  
nguồn hàng do các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sản xuất ra (công nghiệp khai  
thác, công nghệ chế biến, gia công lắp ráp, tiểu thủ công nghiệp...) hoặc công nghiệp  
trung ương, công nghiệp địa phương, công nghiệp có yếu tố nước ngoài. Nguồn hàng  
do các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp sản xuất ra (bao gồm doanh  
nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, các trang trại và hộ gia đình)...  
-
Nguồn hàng nhập khẩu: Những hàng hoá trong nước chưa có khả năng sản xuất  
được hoặc sản xuất trong nước còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng thì cần phải  
nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn hàng nhập khẩu có thể có nhiều loại: tự doanh nghiệp  
nhập khẩu, nhập khẩu từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chuyên doanh, nhận hàng  
nhập khẩu từ các đơn vị thuộc tổng Công ty ngành hàng, Công ty cấp 1 hoặc Công ty  
mẹ; nhận đại lý hoặc nhận bán hàng trả chậm cho các hãng nước ngoài hoặc các doanh  
nghiệp xuất nhập khẩu trong nước; nhận từ các liên doanh, liên kết với các hãng nước  
ngoài.  
-
Nguồn hàng tồn kho: là nguồn hàng còn lại của kỳ trước hiện còn tồn kho.  
Nguồn hàng này có thể là nguồn theo kế hoạch dự trữ quốc gia (dự trữ của Chính phủ)  
để điều hoà thị trường, nguồn hàng tồn kho của các doanh nghiệp; nguồn hàng tồn kho  
ở các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh (hàng đã sản xuất ra và nhập kho đang nằm  
chờ tiêu thụ) và các nguồn hàng tồn kho khác  
1.2.3. Theo điều kiện địa lý  
-
Theo các miền của đất nước: Miền Bắc, miền Trung, miền Nam. Các vùng có  
đặc điểm khác nhau về tiêu dùng, xa gần khác nhau, giao thông vận tải khác nhau  
(đường sắt, đường ôtô, đường hàng không, đường thuỷ...)  
-
Theo cấp tỉnh, thành phố: ở các đô thị có công nghiệp tập trung, có các trung  
tâm thương mại, có các sàn giao dịch, sở giao dịch và thuận lợi thông tin mua bán  
hàng hoá - dịch vụ.  
-
Theo các vùng: nông thôn, trung du, miền núi (hải đảo).  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
9
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
- Dựa vào đặc điểm kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cà phê 734, nguồn  
hàng của Công ty được phân chia theo tiêu chí: khối lượng hàng hóa mua được.  
1.3. Hệ thống kho hàng  
Theo khái niệm được trình bày trong tài liệu :Quản trị doanh nghiệp thương  
mại của PGS.TS Hoàng Hữu Hòa (2005). Kho hàng là:  
-
Đứng trên giác độ kỹ thuật và hình thái tự nhiên của nó, là những công trình  
kiến trúc dùng để chứa đựng, bảo quản sản phẩm, hàng hóa trong một thời gian nhất  
định. Kho hàng là điều kiện tất yếu để thực hiện được nhiệm vụ dự trữ hàng hóa của  
nó. Kho hàng ở đây bao gồm các nhà xưởng, bãi chứa hàng hóa. Tuy nhiên xét về quy  
mô, kiến trúc kết cấu, trình độ kỹ thuật của các nhà kho thì phụ thuộc vào mức độ và  
điều kiện hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp khác nhau.  
-
Đứng trên giác độ kỹ thuật xã hội được xem như là một đơn vị kỹ thuật- một bộ  
phận cấu thành của quá trình tái sản xuất. Chức năng chung của kho hàng là đảm bảo lưu  
kho hợp lý các loại hàng hóa nhằm đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của sản xuất kinh doanh.  
Trong cơ chế thị trường, kho hàng ở các doanh nghiệp cũng là một lĩnh vực  
kinh doanh, kho hàng thực hiện các chức năng: Chức năng nhập – xuất, Chức năng sản  
xuất, Chức năng kiểm tra. Ngoài ra, kho hàng còn có nhiệm vụ sau:  
-
-
Thực hiện việc dự trữ, bảo quản các loại hàng hóa trong kho.  
Tổ chức các loại hàng hóa giao nhận chính xác, kịp thời, đáp ứng đầy đủ mọi  
nhu cầu của khách hàng, nắm vững những loại hàng hóa trong kho.  
1.4. Các hình thức tạo nguồn và mua hàng  
1.4.1. Các hình thức tạo nguồn: có 3 cách thức tạo nguồn hàng (Hoàng Hữu Hòa,  
2005). Đó là:  
-
Liên doanh, liên kết tạo nguồn hàng  
Có những doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh có sẵn các cơ sở sản xuất, có sẵn  
công nhân... nhưng do điều kiện thiếu vốn, thiếu nguyên nhiên vật liệu, phụ liệu, thiếu  
thị trường tiêu thụ... làm cho doanh nghiệp không thể nâng cao được khối lượng và  
chất lượng mặt hàng sản xuất ra. Có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đã và  
đang tạo ra nhiều sản phẩm, nguyên vật liệu... nhưng lại không có vốn, không có công  
nghệ để chế biến thành sản phẩm có thể xuất khẩu được...  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
10  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
Đây là một nguồn tiềm năng rất lớn chưa được khai thác, còn bị lãng phí...  
doanh nghiệp có thể tận dụng ưu thế của mình về vốn, về nguyên vật liệu, về công  
nghệ, về thị trường tiêu thụ... có thể liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp sản xuất  
kinh doanh để tổ chức sản xuất, tạo ra nguồn hàng lớn, chất lượng tốt hơn để cung ứng  
ra thị trường. Liên doanh liên kết bảo đảm lợi ích của cả hai bên. Bằng hợp đồng liên  
kết hoặc xây dựng thành xí nghiệp liên doanh, hai bên cùng góp vốn, góp sức theo  
nguyên tắc có lợi cùng hưởng, “lỗ cùng chịu” theo điều lệ doanh nghiệp.  
-
Gia công đặt hàng và bán nguyên liệu thu mua thành phẩm  
Gia công đặt hàng là hình thức bên đặt gia công có nguyên vật liệu giao cho bên  
nhận gia công thực hiện việc gia công hàng hoá theo yêu cầu và giao hàng cho bên đặt  
gia công. Bên nhận gia công được hưởng phí gia công. Bên đặt gia công có hàng hoá  
để bán cho khách hàng trên thị trường. Nội dung của gia công đặt hàng trong thương  
mại gồm: sản xuất, chế biến, chế tác, sửa chữa, tái chế, lắp ráp, phân loại, đóng gói  
hàng hoá theo yêu cầu và bằng nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công (Điều 129 -  
Luật Thương Mại).  
Bán nguyên liệu và thu mua thành phẩm là hình thức tạo nguồn hàng chủ động  
hơn của người sản xuất (nguồn hàng). Người sản xuất mua nguyên vật liệu và chủ  
động tiến hành sản xuất ra hàng hoá và ký hợp đồng bán hàng hoá cho người đã bán  
nguyên liệu cho mình. Quan hệ giữa bán nguyên liệu và thu mua thành phẩm vẫn có,  
nhưng đã có sự độc lập hơn giữa người sản xuất và người cung ứng nguyên vật liệu.  
-
Tự sản xuất, khai thác hàng hoá  
Để chủ động trong tổ chức tạo nguồn hàng, khai thác các nguồn lực và thế  
mạnh của doanh nghiệp, cũng như đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp  
có thể tự tổ chức các xưởng (xí nghiệp) sản xuất ra hàng hoá để cung ứng cho khách  
hàng. Tự tổ chức sản xuất ra hàng hoá, doanh nghiệp đã đầu tư nguồn lực vào lĩnh vực  
sản xuất - cung ứng, sản xuất ra hàng hoá để cung ứng cho khách hàng. Đầu tư vào  
lĩnh vực sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp cần có nguồn vốn lớn, phải chú trọng đến các  
yếu tố sản xuất - kỹ thuật - công nghệ, nguyên vật liệu, phụ liệu...  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
11  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
1.4.2. Các hình thức mua hàng: có 4 hình thức mua hàng (Hoàng Hữu Hòa, 2005) là:  
-
Mua theo đơn đặt hàng và hợp đồng mua bán hàng hoá  
Đơn đặt hàng là việc xác định các yêu cầu cụ thể mặt hàng về số lượng, chất  
lượng, quy cách, cỡ loại, màu sắc... và thời gian giao hàng mà người mua (doanh  
nghiệp) lập và gửi cho người bán (nhà sản xuất kinh doanh).  
Đơn hàng là yêu cầu cụ thể mặt hàng mà doanh nghiệp cần mua và thời gian  
cần nhập hàng. Các yêu cầu cụ thể mặt hàng là tên hàng, ký mã hiệu, nhãn hiệu, quy  
cách, cỡ loại, màu sắc... số lượng, trọng lượng theo đơn vị tính (hiện vật, giá trị); theo  
tiêu chuẩn kỹ thuật mặt hàng, chất lượng, bao bì, giá cả, thời gian giao hàng... mà  
người ta không thể nhầm lẫn sang mặt hàng khác được. Nếu cùng mặt hàng có nhiều  
quy cách, cỡ loại khác nhau thì có thể lập thành bản kê chi tiết từng danh điểm mặt  
hàng với số lượng và thời gian giao hàng tương ứng.  
-
Mua hàng không theo hợp đồng mua bán  
Trong quá trình kinh doanh, tìm hiểu thị trường và khảo sát thị trường nguồn  
hàng, có những loại hàng hoá khách hàng có nhu cầu, giá cả phải chăng, doanh nghiệp  
có thể mua hàng không theo hợp đồng mua bán ký trước. Mua hàng theo hình thức  
mua đứt bán đoạn, mua bằng quan hệ hàng - tiền hoặc trao đổi hàng - hàng. Đây là  
hình thức mua bán hàng trên thị trường không có kế hoạch trước, mua không thường  
xuyên, thấy rẻ thì mua...  
-
Mua hàng qua đại lý  
Ở những nơi tập trung nguồn hàng, doanh nghiệp có thể đặt mạng lưới mua trực  
tiếp. Ở những nơi (khu vực) nguồn hàng nhỏ lẻ, không tập trung, không thường xuyên,  
doanh nghiệp có thể mua hàng thông qua đại lý. Tuỳ theo tính chất kỹ thuật và đặc  
điểm của mặt hàng thu mua, doanh nghiệp có thể chọn các đại lý theo các hình thức  
đại lý độc quyền, đại lý rộng rãi, hoặc đại lý lựa chọn.  
Mua hàng qua đại lý thì doanh nghiệp không phải đầu tư cơ sở vật chất, nhưng  
cần phải giúp đỡ điều kiện vật chất cho đại lý thực hiện việc thu mua và giúp đỡ huấn  
luyện cả về kỹ thuật và nghiệp vụ. Doanh nghiệp phải ký kết hợp đồng với đại lý, xác  
định rõ quyền lợi và trách nhiệm của đại lý.  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
12  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
- Nhận bán hàng uỷ thác và bán hàng ký gửi  
Doanh nghiệp có mạng lưới bán hàng rộng rãi, quy mô lớn hoặc có cả bộ phận  
xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài, có thể nhận bán hàng uỷ thác và bán hàng ký gửi.  
Về thực chất, hàng uỷ thác và hàng ký gửi là loại hàng hoá thuộc sở hữu của  
đơn vị khác. Các đơn vị đó không có điều kiện bán hàng nên uỷ thác hoặc ký gửi cho  
doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng. Doanh nghiệp bán hàng uỷ thác theo hợp  
đồng uỷ thác và khi bán được hàng được nhận phí uỷ thác. Doanh nghiệp bán hàng ký  
gửi theo điều lệ nhận hàng ký gửi và khi bán được hàng được hưởng tỷ lệ phí ký gửi.  
Như vậy, khi nhận bán hàng uỷ thác hoặc bán hàng ký gửi, doanh nghiệp có thêm các  
nguồn hàng mới, phong phú hơn, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng và  
tận dụng được cơ sở vật chất và lao động; đồng thời, lôi kéo được nhiều khách hàng  
đến với doanh nghiệp.  
1.5. Vai trò và ý nghĩa của công tác tạo nguồn và mua hàng  
Thứ nhất, nguồn hàng là một điều kiện quan trọng của hoạt động kinh doanh.  
Nếu không có nguồn hàng, doanh nghiệp không thể tiến hành kinh doanh được.  
Vì vậy, doanh nghiệp phải chú ý đến tác dụng của nguồn hàng và phải đảm bảo công  
tác tạo nguồn và mua hàng đúng vị trí của nó và phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:  
-
Tạo nguồn và mua hàng phải phù hợp với nhu cầu của khách hàng về số  
lượng, chất lượng, quy cách, cỡ loại, màu sắc... và phù hợp với thời gian và đúng nơi  
giao có yêu cầu.  
-
-
Phải bảo đảm nguồn hàng ổn định, vững chắc, phong phú và ngày càng tăng.  
Phải đảm bảo đa dạng hoá nguồn hàng và phù hợp với xu hướng tiêu dùng  
của khách hàng.  
Phải bảo đảm sự linh hoạt và đổi mới nguồn hàng theo sát nhu cầu thị trường.  
Thứ hai, tạo nguồn và mua hàng phù hợp với nhu cầu của khách hàng, giúp cho  
-
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành thuận lợi, kịp thời, đẩy mạnh được  
tốc độ lưu chuyển hàng hoá, rút ngắn được thời gian lưu thông hàng hoá (T-H-T': Tiền  
– Hàng - Tiền’). Bên cạnh đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán hàng nhanh, vừa  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
13  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
đảm bảo uy tín với khách hàng, vừa bảo đảm thực hiện được việc cung ứng hàng hoá  
liên tục, ổn định, không bị đứt đoạn.  
Thứ ba, tạo nguồn và mua hàng làm tốt giúp cho các hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp bảo đảm tính ổn định, chắc chắn, hạn chế được sự bấp bênh; đặc biệt  
hạn chế được tình trạng thừa, thiếu, hàng ứ đọng, chậm luân chuyển, hàng kém mất  
phẩm chất, hàng không hợp mốt, hàng không bán được...  
Thứ tư, tạo nguồn và mua hàng làm tốt còn có tác dụng lớn giúp cho hoạt động  
tài chính của doanh nghiệp thuận lợi. Thu hồi được vốn nhanh, có tiền bù đắp các  
khoản chi phí kinh doanh, có lợi nhuận để mở rộng và phát triển kinh doanh, tăng  
thêm thu nhập cho người lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước  
(thuế) và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.  
1.6. Nội dung của nghiệp vụ tạo nguồn và mua hàng  
Trong Bài giảng Quản trị kinh doanh thương mại của Bùi Thị Thanh Nga,  
(2008), quy trình tạo nguồn và mua hàng của doanh nghiệp gồm các bước sau:  
-
Xác định nhu cầu của khách hàng.  
Tạo nguồn và mua hàng của doanh nghiệp phải nhằm mục đích là thoả mãn nhu  
cầu của khách hàng, tức là phải bán được hàng. Bán hàng được nhanh, nhiều, tăng  
được lợi nhuận và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả. Thực chất của kinh doanh  
thương mại là mua để bán, chứ không phải mua cho chính mình. Vì vậy, vấn đề đầu  
tiên và hết sức quan trọng đối với bộ phận tạo nguồn và mua hàng ở doanh nghiệp là  
phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng về tất cả các mặt: số lượng, trọng lượng hàng  
hóa; cơ cấu mặt hàng; quy cách, cỡ loại; kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc; thời gian, địa  
điểm bán hàng; giá cả hàng hoá và dịch vụ; xu hướng của khách hàng đối với mặt  
hàng đang kinh doanh; các mặt hàng tiên tiến hơn, hiện đại hơn và hàng thay thế; khả  
năng đáp ứng nhu cầu trên thị trường của các đối thủ cạnh tranh...  
-
Nghiên cứu và lựa chọn nhà cung cấp.  
Nguồn hàng của doanh nghiệp là do các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp,  
tiểu thủ công nghiệp, các doanh nghiệp nông lâm ngư nghiệp, các trang trại, hộ gia  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
14  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
đình, hợp tác xã... sản xuất ra. Tuỳ theo loại mặt hàng kinh doanh là mặt hàng tư liệu sản  
xuất hay mặt hàng tư liệu tiêu dùng, kinh doanh chuyên doanh hay kinh doanh tổng  
hợp mà doanh nghiệp phải tìm nguồn hàng từ các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng  
tương ứng từ trong nước hoặc từ nước ngoài (nhập khẩu).  
Đối với các nguồn hàng sản xuất trong nước, cần phải đến tận nơi, có sự kiểm  
tra bằng chuyên môn. Đối với các đối tác nước ngoài, cần thông qua thương vụ hoặc  
tham tán thương mại, các tổ chức hỗ trợ thương mại như Phòng thương mại và công  
nghiệp Việt Nam (VCCI), các hiệp hội ngành hàng...Khó khăn nhất là doanh nghiệp  
phải tìm hiểu thị trường nước ngoài, vì mỗi loại sản phẩm có rất nhiều nước sản xuất.  
Mỗi nước lại có nhiều hãng sản xuất khác nhau, mỗi hãng lại làm ra nhiều sản phẩm.  
Trên cơ sở nghiên cứu về thị trường nguồn hàng, doanh nghiệp sẽ tiến hành lựa  
chọn nhà cung cấp phù hợp nhất. Lựa chọn nhà cung cấp là khâu quyết định đối với sự  
chắc chắn và ổn định của nguồn hàng. Thiết lập mối quan hệ truyền thống, trực tiếp,  
lâu dài với các bạn hàng tin cậy là một trong những yếu tố tạo sự ổn định trong nguồn  
cung ứng đối với doanh nghiệp.  
Có nhiều phương pháp nghiên cứu phát triển thị trường nguồn hàng, đặc biệt  
nguồn hàng mới. Thông qua nghiên cứu, khảo sát thực tế; thông qua hội chợ - triển  
lãm thương mại; thông qua internet; thông qua quảng cáo và xúc tiến thương mại;  
thông qua các trung tâm giới thiệu hàng hoá, các báo chí, tạp chí thương mại và  
chuyên ngành;... Việc lựa chọn bạn hàng tuỳ thuộc rất lớn vào mối quan hệ truyền  
thống, tập quán và sự phát triển kinh tế - thương mại ở trong nước và nước ngoài.  
-
Tổ chức giao dịch, đàm phán để ký kết hợp đồng mua hàng.  
Đàm phán, thương lượng là quá trình gặp gỡ đối tác là các nhà cung ứng để đạt được sự  
thỏa thuận về đơn hàng. Quá trình này vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính nghệ thuật. Doanh  
nghiệp cần tìm hình thức giao dịch, đàm phán phù hợp với khả năng của doanh nghiệp.  
Hai bên mua bán cần có sự thương thảo và ký kết được với nhau bằng các hợp đồng  
mua bán hàng hoá. Hợp đồng kinh tế mua bán hàng hoá chính là cam kết của hai bên về  
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong mối quan hệ trao đổi hàng hoá. Đây cũng chính là căn  
cứ để phân xử trách nhiệm của mỗi bên khi có tranh chấp và xử lý vi phạm hợp đồng.  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
15  
Khóa luận tốt nghiệp  
Theo dõi và thực hiện việc giao hàng.  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
-
Để tạo sự tin tưởng lẫn nhau, trong mua bán hàng hoá, hai bên có thể cho phép  
kiểm tra ngay từ khi hàng hoá được sản xuất ra, ở nơi đóng gói và ở các cơ sở giao  
hàng. Bên mua hàng có thể cử người đến nơi sản xuất xem xét quy trình công nghệ,  
chất lượng hàng hoá và quy cách đóng gói... Việc kiểm tra chất lượng hàng hóa ở các  
cơ quan kiểm tra có thể chỉ kiểm tra xác suất theo mẫu.  
Việc thực hiện nghiêm túc các hợp đồng mua bán hàng hoá đã được ký kết là  
điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự đầy đủ, kịp thời và ổn định của nguồn hàng;  
đồng thời cũng giúp cho đơn vị sản xuất có thị trường tiêu thụ vững chắc.  
-
Đánh giá kết quả mua hàng.  
Để rút ra các kết luận chính xác về thực hiện họat động mua hàng, người ta  
thường so sánh các chỉ tiêu sau:  
Số lượng và cơ cấu hàng hóa thực hiện được so với kế hoạch và so với hợp  
đồng đã ký với người cung ứng.  
Tiến độ nhập hàng về doanh nghiệp so với hợp đồng đã ký và với nhu cầu thị trường.  
Chi phí tạo nguồn mua hàng so với định mức, so với kế hoạch và so với cùng  
kỳ năm trước.  
Lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch và năm trước.  
Ngoài ra, phải xem xét các yếu tố về sự ổn định, độ tin cậy và sự thỏa mãn nhu  
cầu của nguồn hàng so với nhu cầu thị trường để có kết luận toàn diện.  
-
Xử lý các tổn thất nếu có.  
Khi gặp các tổn thất như: thiếu hụt về số lượng, hao hụt, hư hỏng nhiều hơn so  
với tỷ lệ cho phép, chất lượng không đúng với hợp đồng,...cần báo ngay cho các bên  
có liên quan như: người bán, người vận chuyển, bốc dỡ,...Từ đó tìm phương án giải  
quyết phù hợp, với thái độ ôn hòa, thân thiện để chia sẻ trách nhiệm.  
Để triển khai có hiệu quả kinh doanh mua hàng, khai thác tốt nhất các nguồn  
hàng phục vụ cho kinh doanh, các nhà quản trị mua hàng cần thực hiện tốt các bước  
triển khai mua hàng. Có thể tóm tắt qui trình mua hàng qua sơ đồ sau:  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
16  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
Xác định  
nhu cầu  
Lựa chọn nhà  
cung cấp  
Thương lượng  
và đặt hàng  
Theo dõi và thực  
hiện giao hàng  
Xử lý tổn thất  
Thỏa mãn  
Không thoả mãn  
Đánh giá kết quả mua hàng  
(Nguồn: Hoàng Minh Đường, Nguyễn Thừa Lộc, 2002, Giáo trình quản trị doanh  
nghiệp thương mại, tập I)  
Sơ đồ 1: Quá trình triển khai mua hàng trong doanh nghiệp thương mại  
1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tạo nguồn và mua hàng  
1.7.1. Nhân tố cung cầu thị trường  
Thị trường là môi trường trong đó diễn ra quá trình người bán và người mua tác  
động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá tiêu thụ. Nó có vai trò  
quan trọng trong định hướng sản xuất kinh doanh, bởi căn cứ vào cung cầu và giá cả  
thị trường để giải quyết những vấn đề cơ bản như : sản xuất cái gì? Sản xuất như thế  
nào? Sản xuất cho ai? Chính thị trường đã kết hợp các yếu tố sản xuất như:đất đai,  
máy móc, nhiên liệu, quặng mỏ… để sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của  
người tiêu dùng, đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, có hai loại thị trường tác  
động mạnh mẽ, trực tiếp đến doanh nghiệp, đó là thị trường cung ứng (hay thị trường  
đầu vào) và thị trường tiêu thụ sản phẩm (hay thị trường đầu ra), hai thị trường này có  
quan hệ mật thiết với nhau. Thị trường tiêu thụ với các yếu tố quy mô, độ ổn định của  
cơ cấu hàng hoá, chất lượng, giá cả, thị hiếu sử dụng, và phương thức mua bán có vai  
trò định hướng cho thị trường cung ứng hàng hoá. Trong cơ chế thị trường với mức độ  
cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp cần phải “bán cái thị trường cần, chứ  
không bán cái mình có”. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến công tác tạo  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
17  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
nguồn - mua hàng. Việc tạo nguồn mua hàng cũng cần phải tính đến nhu cầu thị  
trường, tiêu thụ về số lượng, chất lượng, giá cả hàng hoá…để từ đó doanh nghiệp tìm  
kiếm thị trường cung ứng nguyên vật liệu có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu đó. Bên  
cạnh đó, quan hệ cung cầu hàng hoá cũng tác động đến công tác tạo nguồn - mua hàng  
(về giá cả, quy mô, tính ổn định của hàng hoá) làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh  
doanh. Vì vậy, việc nắm bắt tình hình cung cầu trên thị trường một cách thường xuyên  
và khoa học giúp công tác tạo nguồn - mua hàng được thường xuyên và ổn định.  
1.7.2. Phương thức mua và giá cả  
Ngày nay, trong cơ chế thị trường thì cạnh tranh là vấn đề không thể tránh khỏi.  
Các doanh nghiệp cạnh tranh nhau về chất lượng sản phẩm, về chất lượng dịch vụ, về  
giá cả…Để góp phần nâng cao tính cạnh tranh thì các doanh nghiệp cần phải tìm cách  
hoà nhập vào thị trường để huy động được nguồn hàng bảo đảm về số lượng, chất  
lượng phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Để làm được điều đó thì doanh  
nghiệp cần có cách xâm nhập hợp lý, có phương thức mua và giá cả phù hợp, có cách  
mua phù hợp với từng đối tượng cung ứng là việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với  
công tác tạo nguồn-mua hàng.  
Giá cả cũng là yếu tố cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xác định  
chính sách giá cả đúng đắn là điều quan trọng đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh  
doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao và tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường. Tuy  
nhiên, việc xác định giá cả phải lấy chi phí sản xuất kinh doanh làm cơ sở, điều quan  
trọng là với mức giá bao nhiêu thì mang lại hiệu quả lớn nhất cho doanh nghiệp. Chính  
vì vậy, chính sách giá cả phù hợp là điều kiện thuận lợi cho công tác mua hàng, đảm  
bảo nguồn nguyên liệu ổn định, kịp thời và chất lượng cao cho doanh nghiệp.  
1.7.3. Nhân tố vốn, cơ sở vật chất – kỹ thuật  
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì điều kiện đầu tiên là doanh  
nghiệp phải có vốn, vốn quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhờ có  
vốn mà doanh nghiệp phát huy sức mạnh của các nguồn tiềm năng hiện tại của doanh  
nghiệp để mở rộng thị trường và tạo đà phát triển cho doanh nghiệp. Nếu doanh  
nghiệp dồi dào về vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại thì đó là một trong những  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
18  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
yếu tố giúp doanh nghiệp không ngừng lớn mạnh. Tuy nhiên điều đó còn phụ thuộc  
vào mục tiêu của việc sử dụng vốn, cách huy động vốn của doanh nghiệp.  
1.7.4. Nhân tố cơ chế chính sách  
Hiện nay ở bất kỳ một quốc gia nào, cơ chế chính sách của nhà nước là công cụ  
quản lý có hiệu quả trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, tạo  
ra môi trường thuận lợi và hành lang pháp lý an toàn cho kinh doanh. Điều mà các chủ  
thể kinh tế hay các doanh nghiệp quan tâm là việc đưa các chính sách vĩ mô của nhà  
nước có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Tuy nhiên  
trong những năm gần đây, nhà nước ta đã có những chính sách phù hợp với từng  
ngành, từng cơ sở sản xuất kinh doanh. Đặc biệt với lĩnh vực thương mại từ cuối năm  
1998, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều quyết định quan trọng theo hướng khuyến  
khích mở rộng lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ xuất nhập khẩu, khuyến khích  
đầu tư trong và ngoài nước, hạn chế thủ tục rườm rà, đặc biệt là để các doanh nghiệp  
tự do lựa chọn phương án kinh doanh của mình mà không có sự can thiệp quá sâu của  
nhà nước. Chính điều đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn các  
công đoạn của quá trình kinh doanh nói chung và công tác-tạo nguồn mua hàng nói  
riêng.  
Bên cạnh đó, công tác tạo nguồn - mua hàng của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng  
của các yếu tố khác như môi trường tự nhiên, yếu tố công nghệ, văn hoá xã hội…  
1.7.5. Mối liên hệ với các nhà cung ứng  
Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của TQC (Total Quality Control –  
Kiểm tra chất lượng toàn diện) – cách tốt nhất để duy trì chất lượng của hàng hóa hay  
dịch vụ là phải duy trì chất lượng ở các khâu từ dưới lên trên, từ đầu đến cuối; phải tổ  
chức tốt mối quan hệ giữa Công ty với nhà cung cấp.  
Làm thế nào để mối quan hệ liên kết với các nhà cung cấp ngày nay ngày càng  
hoàn thiện và cải thiện tốt đã trở thành một lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong khái niệm  
KAIZEN. Trên cơ sở chiến lược kinh doanh của Công ty, bộ phận tạo nguồn – mua hàng  
luôn chú trọng cải thiện mối quan hệ với các nhà cung ứng. Và để mối quan hệ này càng  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
19  
Khóa luận tốt nghiệp  
GVHD : Th.S Hoàng Thị Diệu Thúy  
cải thiện tốt hơn, bộ phận tạo nguồn – mua hàng cần chú ý quan tâm đến việc: cải tiến đặt  
hàng, cải tiến chất lượng thông tin cung cấp cho các nhà cung ứng; cải tiến hệ thống phân  
phối hàng được tốt hơn; tìm hiểu kỹ các yêu cầu của các nhà cung cấp;...  
Một trong những công việc mà Công ty quan tâm khi thực hiện mua hàng là  
hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu nhằm đánh giá và kiểm soát được thế mạnh của các nhà  
cung cấp trên các mặt: giá cả, chất lượng, giao hàng, công nghệ, mức độ hợp tác và  
khả năng quản lý toàn diện.  
Để tạo lập mối quan hệ tốt đẹp giữa Công ty mua hàng và các nhà cung cấp thì  
cần phải trải qua nhiều giai đoạn với niềm tin tăng dần. Có ba giai đoạn trong mối  
quan hệ giữa các nhà sản xuất/công ty mua hàng với các nhà cung cấp vật tư/hàng hóa.  
Trong giai đoạn 1, nhà sản xuất/mua hàng kiểm tra chất lượng toàn bộ vật tư/hàng hóa.  
Giai đoạn 2, chỉ kiểm tra xác suất một số mẫu vật tư/ hàng hóa. Và trong giai đoạn  
cuối, nhà sản xuất/ mua hàng nhận tất cả những gì nhà cung cấp gửi đến mà không cần  
kiểm tra, giai đoạn này có thể nói mối quan hệ giữa Công ty mua hàng và nhà cung  
cấp đã được thiết lập một cách đáng tin cậy.  
1.8. Một số chỉ tiêu liên quan đến công tác tạo nguồn và mua hàng  
1.8.1. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh  
-
Doanh thu: đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh , doanh thu được hình thành  
từ các hoạt động bán hàng là chủ yếu, ngoài ra còn có các nguồn thu khác  
DT=∑PiQi  
Trong đó  
DT: tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng  
Pi : giá cả 1 đơn vị hàng hoá thứ i  
Qi : khối lượng hàng hoá thứ i bán ra trong kỳ  
-
Chi phí kinh doanh: là tất cả các khoản chi phí từ khi mua hàng cho đến khi bán hàng.  
Có thể chia thành:  
Chi phí mua hàng: là khoản tiền doanh nghiệp phải trả cho các đơn vị nguồn hàng về  
số lượng đã mua  
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Ái  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang yennguyen 16240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá tình hình tạo nguồn và thu mua cà phê của Công ty TNHH MTV Cà phê 734 - Kon Tum", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_tinh_hinh_tao_nguon_va_thu_mua_ca_phe_cua.pdf