Khóa luận Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong giảm nghèo tại xã Thành Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC
MƯỜNG TRONG GIẢM NGHÈO TẠI XÃ THÀNH MINH,
HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
Tên sinh viên
: HỒ HỮU LƯỢNG
Chuyên ngành đào tạo : PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Lớp
: K56 PTNTA
: 2011 - 2015
Niên khóa
Giảng viên hướng dẫn : CN. HOÀNG THỊ HẰNG
GS.TS. NGUYỄN VĂN SONG
HÀ NỘI, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài nghiên cứu này là của riêng tôi và không
trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào của tác giả khác. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được
sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
HỒ HỮU LƯỢNG
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn
nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong
trường nói chung, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn nói riêng đã truyền
đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong thời gian tôi tham gia
học tập tại trường. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới CN.
HOÀNG THỊ HẰNG và GS.TS. NGUYỄN VĂN SONG đã tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và
hoàn thiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, các chú, các anh, các chị làm
việc tại UBND xã Thành Minh, các chủ nhiệm, phó chủ nhiệm các Hợp tác xã
cùng các hộ dân đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tạo điều kiện để tôi tiếp cận được
những số liệu, thông tin cần thiết để hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã
luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.
Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng khóa luận của tôi không tránh
khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của thầy cô cùng toàn thể bạn đọc.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
HỒ HỮU LƯỢNG
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan..........................................................................................................
Lời cảm ơn .............................................................................................................
Mục lục.............................................................................................................iv
Danh mục từ viết tắt.............................................................................................vii
Danh mục bảng..................................................................................................viii
Danh mục đồ thị...................................................................................................ix
Dóm tắt khóa luận .................................................................................................x
PHẦN I. MỞ ĐẦU............................................................................................1
1.2.1 Mục tiêu chung......................................................................................2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể......................................................................................3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu............................................................................3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu...............................................................................4
Cơ sở lý luận .........................................................................................5
2.1.1 Một số khái niệm liên quan...................................................................5
giảm nghèo..........................................................................................13
Cơ sở thực tiễn ....................................................................................24
iv
2.2.3 Bài học kinh nghiệm ...........................................................................29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên...............................................................................31
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội....................................................................34
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu...................................................................45
giảm nghèo..........................................................................................47
động kinh tế hộ....................................................................................54
đồng.....................................................................................................62
v
4.2.2 Nhóm yếu tố bên ngoài .......................................................................66
giữa nam và nữ....................................................................................72
4.3.3 Cải thiện chính sách ............................................................................73
Kết luận...............................................................................................78
Kiến nghị.............................................................................................79
5.2.1 Với Nhà nước......................................................................................79
PHỤ LỤC........................................................................................................84
vi
DANH MỤC BẢNG
phát triển........................................................................................52
phát triển........................................................................................53
Bảng 4.9 Các loại vật nuôi chính..................................................................58
viii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, từ những
thành tựu to lớn của công tác giảm nghèo đã góp phần tăng trưởng kinh tế và
thực hiện công bằng xã hội cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn rất
nhiều hạn chế: thu nhập của người dân chủ yếu là xoay quanh mức cận nghèo,
kết quả giảm nghèo thì không được bền vững, đặc biệt với những vùng cao,
vùng dân tộc thiểu số thì giảm nghèo lại chưa đạt được kết quả như mong
muốn. Nguyên nhân chính của kết quả đó là do sự tham gia của cộng đồng
vào giảm nghèo còn quá hạn chế. Họ gần như chỉ tham gia một cách thụ động
chứ chưa tham gia một cách toàn diện và chủ động. Vậy vấn đề đặt ra là phải
làm cách nào để tăng cường sự tham gia của người dân vào giảm nghèo, để họ
tham gia một cách chủ động và đầy đủ. Vì chỉ có như thế thì công tác giảm
nghèo với đạt được hiệu quả và bền vững.
Thành minh là xã khó khăn về nhiều mặt, sản xuất nông nghiệp vẫn là
ngành chính, trong đó chủ yếu độc canh cây lúa, kinh tế chưa phát triển tỷ lệ
hộ nghèo xã Thành Minh năm 2014 giảm xuống còn 25,15% . Tuy nhiên,
trong xã dân cư chủ yếu là đồng bào người Kinh và người Mường sinh sống
và chiếm đa số là dân tộc Mường. Đời sống bà con còn rất nhiều khó khăn,
những nhu cầu tối thiếu như ăn, mặc… vẫn chưa được đáp ứng. Cái nghèo đã
thành vòng luẩn quẩn và theo bám họ suốt những năm tháng qua cho đến tận
bây giờ vẫn chưa có những giải pháp hiệu quả và bền vững. Đặc biệt công tác
xóa đói giảm nghèo triển khai xuống xã còn quá hạn chế, chưa tập trung vào
các nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, chưa huy động được sự tham gia một
cách tích cực của người dân. Bên cạnh đó là trình độ của cán bộ còn thấp,
nhận thức của người dân còn chậm, giao thông đi lại khó khăn cũng làm cho
công tác giảm nghèo của xã đạt hiệu quả chưa cao.
x
Qua nghiên cứu trên địa bàn xã, ta có thể thấy rằng sự tham gia của
người dân vào giảm nghèo trong các chương trình mục tiêu quốc gia là còn
quá thấp. Nguyên nhân chính là do trình độ cán bộ triển khai chính sách hạn
chế và một số công trình CSHT là không phù hợp. Về các hoạt động phát
triển kinh tế hộ thì người dân tham gia hết sức tích cực tuy nhiên kết quả lại
chưa đáng kể. Nguyên nhân cần phải kể đến đó trình độ dân trí còn thấp, giao
thông đi lại phức tạp, chưa kiên cố đã dẫn đến việc trồng trọt, chăn nuôi
không đạt hiệu quả. Ngoài ra cũng cần kể đến các hoạt động như hoạt động
giữ gìn phong tục tập quán, hoạt động tương trợ cộng đồng thì cộng đồng dân
tộc Mường đã nỗ lực rất nhiều để có thể tạo điều kiện tốt nhất cho công tác
giảm nghèo. Cụ thể họ tham gia hội xuân để có động lực về tinh thần sau một
năm lao động vất vả, họ đổi công cho nhau vừa làm tăng hiệu quả sản xuất,
vừa tăng tính đoàn kết dân tộc. Khi được hỏi thì gần như 100% người dân ở
đây cho rằng: họ sẵn sàng đóng góp và tham gia các lễ hội truyền thống của
dân tộc vừa để vui vẻ, vừa giữ gìn được phong tục tập quán của dân tộc mình.
Qua đây ta có thể thấy rằng bộ phận lớn người dân ở đây rất muốn
mình được tham gia một cách đầy đủ và toàn diện, tuy nhiên đã có rất nhiều
nguyên nhân làm giảm sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong các
hoạt động giảm nghèo. Vậy vấn đề cấp thiết được đặt ra đó là: các cấp chính
quyền từ trung ương đến đại phương cần đưa ra các giải pháp để tăng cường
sự tham gia của người dân trong các hoạt động giảm nghèo. Cụ thể: đối với
nhà nước cần tiếp tục thực hiện các CT, DA đang có, cải cách cách thức thực
hiện cũng như huy động nguồn lực cho phù hợp với từng địa phương, từng
hạng mục công trình. Cần tăng cường các hỗ trợ PTKT, XĐGN cho các vùng
kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Hỗ trợ cơ bản cho đối tượng chính là hộ
nghèo, dân tộc thiểu số, những người gặp rủi ro, người không có khả năng cải
thiện đời sống của mình xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của họ - tức là hỗ trợ cái
họ cần thiết nhất. Đối với cấp xã, thônđẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng
xi
cao nhận thức cho cán bộ và các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội về mục
đích, vai trò và ý nghĩa của việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào các
hoạt động kinh tế để giảm nghèo. Đối với cộng đồng phải nhận thức đúng đắn
xóa đói giảm nghèo không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng mà phải có sự nỗ
lực tự giác vươn lên của chính bản thân hộ nghèo.
xii
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo của nước ta là 12,6%(Lưu Thị Tho, 2012), đến
cuối năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,8-2%/năm (từ 7,8% xuống còn
5,8- 6%); riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm (từ
38,20% năm 2013 xuống còn 33,20% năm 2014). Điều kiện sống tốt hơn, chế
độ dinh dưỡng đầy đủ, trình độ học vấn được nâng cao. Bên cạnh những
thành tựu to lớn đã đạt được nước ta cũng còn rất nhiều huyện, xã chưa giải
quyết tận gốc vấn đề nghèo đói, những kết quả đạt được chưa mang tính bền
vững. Nguyên nhân bởi vì thu nhập của người dân hầu hết đều xoay quanh ở
mức cận nghèo, do vậy rất dễ rơi vào tình trạng tái nghèo khi gặp những tác
động không thuận lợi tới đời sống và sản xuất của họ.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số,
với hơn 12 triệu người, chiếm tỉ lệ 14% dân số cả nước. Trong những năm
qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nhiều chính sách, chương trình,
dự án đã được triển khai nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói
giảm nghèo vùng DTTS, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, đến
nay đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chiếm đến 70% nhóm đối tượng nghèo.
Một vấn đề nữa đó là giảm nghèo là hướng tới cộng đồng, cộng đồng phải
tham gia một cách tích cực thì hiệu quả với đạt đến mức cao nhất. Tuy nhiên
thực tế lại cho thấy rằng: sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động giảm
nghèo còn quá hạn chế. Họ gần như chỉ tham gia một cách thụ động chứ chưa
tham gia một cách toàn diện và chủ động. Vậy để giảm nghèo một cách bền
vững cho đồng bào dân tộc thiểu số thì Đảng, Nhà nước và các tổ chức có liên
quan cần đẩy mạnh hơn nữa sự tham gia của người dân vào các hoạt động
giảm nghèo và lấy con người làm trung tâm của giảm nghèo. Bên cạnh đó, tư
tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước ở một bộ phận cán
1
bộ và dân cư còn nặng nên đã hạn chế phát huy nội lực và sự nỗ lực vươn lên.
Nhận thấy, việc phát huy sự tham gia của người dân là vô cùng cần thiết. Bởi
người dân là người hưởng lợi trực tiếp từ dự án giảm nghèo và sự tham gia
tích cực của họ quyết định đến thành công của dự án giảm nghèo cũng như
giảm nghèo trong chính cuộc sống của chính họ
Tỉnh Thanh Hóa là địa phương có tổng số hộ nghèo đông nhất Việt
Nam, với 182.439 hộ nghèo, chiếm 20,37% trên tổng số 895.816 hộ được
khảo sát trên toàn tỉnh. Thạch Thàch là một huyện miền núi của tỉnh Thanh
Hoá, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ nghèo đói còn cao so
với tỉnh cũng như so với cả nước, hiện tượng thiếu ăn, đứt bữa của người dân
trong huyện còn nhiều. Và xã Thành Minh là một xã còn nhiều khó khăn của
huyện Thạch Thành chủ yếu có hai dân tộc sinh sống đó là người Kinh và
người Mường. Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Từ
những thành tựu to lớn của công tác giảm nghèo đã góp phần tăng trưởng
kinh tế và thực hiện công bằng xã hội cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó
vẫn còn rất nhiều hạn chế: thu nhập của người dân chủ yếu là xoay quanh
mức cận nghèo, kết quả giảm nghèo thì không được bền vững, đặc biệt với
những vùng cao, vùng dân tộc thiểu số thì giảm nghèo lại chưa đạt được kết
quả như mong muốn. Vậy vấn đề đặt ra là phải làm cách nào để tăng cường
sự tham gia của người dân vào giảm nghèo, để họ tham gia một cách chủ
động và đầy đủ. Xuất phát từ thực tế đó tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
“ Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong giảm
nghèo tại xã Thành Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong giảm nghèo
trên địa bàn xã Thành minh, huyện Thạch thành, tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề
2
xuất giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường
trong giảm nghèo.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của
cộng đồng dân tộc trong giảm nghèo.
• Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong
giảm nghèo tại xã Thành Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
• Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng dân
tộc Mường trong giảm nghèo.
• Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tham gia của
cộng đồng dân tộc Mường trong giảm nghèo tại xã Thành Minh trong thời
gian tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1. Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường là như thế nào?
2. Thực trạng nghèo đói của đồng bào dân tộc Mường tại địa phương
tiến hành nghiên cứu?
3. Thực trạng sự tham gia của đồng bào dân tộc Mường trong giảm
nghèo tại xã Thành minh như thế nào?
4. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng dân tộc
Mường trong giảm nghèo?
5. Địa phương có những biện pháp nào để tăng cường sự tham gia của
đồng bào dân tộc Mường trong giảm nghèo?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong
giảm nghèo tại xã Thành minh, huyện Thạch thành, tỉnh Thanh Hóa; Các cán bộ
cơ quan lãnh đạo, quản lý và thực thi các chính sách giảm nghèo, các bên liên
3
quan (chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, đoàn thể xã hội) trong giảm
nghèo tại địa phương.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong
giảm nghèo tại xã Thành minh.
- Phạm vi thời gian:
+ Thời gian thực hiện đề tài: 14-1-2015 đến 2-6-2015
+ Thời gian nghiên cứu: thu thập số liệu từ 2012- 2014
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Thành
Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
4
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm cộng đồng, dân tộc, cộng đồng dân tộc, xóa đói giảm
nghèo
*Cộng đồng
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về
cộng đồng, có nhiều định nghĩa về cộng đồng khác nhau.
Người đặt nền móng đầu tiên cho các lý thuyết xã hội về cộng đồng là
nhà xã hội học người Đức Ferdinand Toennies. Toennies cho rằng cộng đồng
là một thực thể xã hội có độ gắn kết và bền vững hơn hiệp hội, được đặc trưng
bởi sự đồng thuận về ý chí của các thành viên trong cộng đồng (Toennies,
1887). Theo định nghĩa này thì trong cộng đồng, các thành viên có mối liên
hệ, gắn kết chặt chẽ với nhau (thông qua tình hàng xóm láng giềng, họ tộc,…)
và có cùng chung một ý chí để cùng hướng tới một mục đích chung.
Trên phương diện về quy mô của cộng đồng, Arunagrawal và Clack C.
Gibson định nghĩa cộng đồng một đơn vị quần cư nhỏ, là cấu trúc xã hội đồng
nhất, có chung một mục đích và quy tắc (Arunagrawal và Clack C. Gibson
(1999)). Hai ông cho rằng cộng đồng thường có quy mô nhỏ cả về dân số lẫn
không gian sống, cộng đồng thường trong phạm vi một làng, sự gần gũi như
vậy làm cho mọi người gắn bó với nhau.
Về mặt kinh tế, cộng đồng được xem là một loại vốn xã hội (Robert D.
Putnan, 2000). Theo ông, hai yếu tố tạo nên cộng đồng bao gồm tinh thần gắn
kết và mạng lưới xã hội (chúng được xem như là vốn xã hội), trong đó từng
người cảm thấy yên tâm, an toàn khi ở trong mạng lưới và do đó sẵn sàng
đóng góp, hy sinh vì cộng đồng, bảo vệ lợi ích của cộng đồng trong môi
trường cạnh tranh khốc liệt.
5
Phạm Hồng Tung (2009) cho rằng cộng đồng là nhóm người có sức bền
cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử
chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng
đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết giữa họ
với cộng đồng và với các thành viên trong cộng đồng.
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã
hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người
cùn0 chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết
lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên.
Tổng hợp từ những khái niệm trên có thể thấy: cộng đồng là một tập
hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ cùng sống
chung trong một khu vực, có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế,
xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong đời sống gắn
bó với nhau.
*Dân tộc
Theo A.M.Ru-mi-an-txép, 1986, dân tộc là một cộng đồng vững chắc
về mặt lịch sử của những con người, là hình thức phát triển xã hội được
hình thành trên cơ sở cùng có chung đời sống kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ
và những đặc điểm về văn hóa, ý thức, tâm lý xã hội.
Theo Sách triết học (2010), khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất là;
Thứ nhất: Dân tộc chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền
vững, có sinh hoạt kinh tế riêng, có ngôn ngữ riêng, văn hoá có những đặc
thù; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và
thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.
Thứ hai: Dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một
nước, có lãnh thổ quốc gia, nên kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý
thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh
6
tế, truyền thống văn hoá và đấu tranh chung. Nghĩa thứ nhất, dân tộc là một
bộ phận của quốc gia, ví dụ: dân tộc Kinh, Tày…. Với nghĩa thứ hai, dân tộc
là toàn bộ nhân dân quốc gia đó, ví dụ: dân tộc Ấn Độ, Việt Nam…
Một số học thuyết khác cho rằng dân tộc là được phân chia theo vùng,
biên giới, phong tục… Người dân cùng tộc có chung lối sống, quy tắc, có
trách nhiệm với các thành viên khác và hành động của những người cùng tộc.
Một dân tộc trải qua nhiều thế hệ, cả những người đã chết và các thế hệ tương
lai cũng được tính là cùng tộc. Không xác định rõ thời gian nhưng dân tộc có
cả trăm tuổi. Như vậy tộc người xác định dựa trên quan hệ huyết thống, ngôn
ngữ, lãnh thổ và phong tục. Tuy nhiên, thuật ngữ "dân tộc" cũng thường chỉ
"người thiểu số" hay "thiểu dân". Dân tộc là nhân tố quan trọng xác định đặc
trưng văn hóa, xã hội của thành viên.
*Cộng đồng các dân tộc
Các cộng đồng mang tính tộc người; họ có sự liên kết gắn bó, chung bản
sắc văn hóa, nguồn gốc sắc tộc, ngôn ngữ, trang phục và sự tương đồng về
phong tục tập quán gọi chung là cộng đồng các dân tộc. Những cộng đồng tộc
người có thể có hoặc không có chung địa bàn, nhưng dù sinh sống cách xa, họ
vẫn chia sẻ đặc trưng văn hóa, phong tục tập và các yếu tố khác với nhau.
Cộng đồng các dân tộc có thể được hiểu là: Tập hợp các dân tộc trong
cùng một quốc gia hay bao gồm các quốc gia dân tộc khác nhau trong một
vùng lãnh thổ nào đó, hoặc cũng có thể hiểu là toàn thể các dân tộc trong một
nước hay các dân tộc trên toàn thế giới. Cộng đồng các dân tộc được xem như
một tổ chức xã hội, hoặc tập hợp nhiều tổ chức xã hội khác nhau. Cộng đồng
cũng có vai trò rất quan trọng trong các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội và
môi trường đối với quốc gia đó và toàn thế giới. Phát huy sức mạnh của cộng
đồng tham gia các hoạt động PTKT trong các chương trình, dự án chính sách
PTKT cũng như các mục tiêu khác là vấn đề mang tính nhạy bén, và nhanh
đạt mục đích nhất.
7
Như vậy: cộng đồng các dân tộc là một tập thể có tổ chức, ngôn ngữ,
đặc điểm văn hóa riêng, có ý thức dân tộc và sống trong một môi trường mà
trong đó quan hệ xã hội và chuẩn mực phản ánh những đặc trưng cơ bản của
dân tộc đó.
*Xóa đói giảm nghèo
Là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay của
chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể
tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập, không đáp ứng được những nhu
cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo địa phương, khu vực,
quốc gia.
Quá trình phát triển của xã hội loài người kể từ khi có sự phân chia giai
cấp luôn hình thành và tồn tại người giàu và người nghèo ở mọi miền đất
nước dù là nước phát triển, đang phát triển hay kém phát triển và do có sự
khác nhau về thể lực, trí tuệ, kinh nghiệm sản xuất, về điều kiện sản xuất. Cho
nên đã dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các hộ nông dân
tạo ra khoảng cách lớn giữa hộ giàu và hộ nghèo. Một số người giàu thì ngày
càng giàu còn một số người nghèo thì ngày càng nghèo. Bất kỳ một đất nước
nào cũng đều muốn đất nước mình trở nên giàu có, xã hội ổn định và bền
vững. Do đó, xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng để thực
hiện ước mong đó bởi vì:
Xóa đói giảm nghèo tạo cho con người những điều kiện sống, sinh hoạt
đồng bộ và đầy đủ hơn cho từng cá nhân và cộng đồng.
Xóa đói giảm nghèo góp phần làm tăng thêm thu nhập của hộ gia đình
và làm tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, giảm khoảng cách thu nhập của
hộ giàu nghèo và sự bất bình đẳng trong xã hội.
Bản thân của công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đem lại sự cải thiện cho
các hộ nông dân nghèo và mục tiêu của nó là làm như thế nào để phát triển
phù hợp với nhu cầu của nông dân và cuộc sống hàng ngày. Việc xóa đói
8
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường trong giảm nghèo tại xã Thành Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khoa_luan_danh_gia_su_tham_gia_cua_cong_dong_dan_toc_muong_t.doc

