Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
------------  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT VÀ  
CHẾ BIẾN THUỐC LÀO TẠI XÃ QUẢNG THỌ,  
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
Tên sinh viên  
: TRỊNH THỊ THỦY  
Lớp  
: K56 KTC  
Chuyên ngành đào tạo : KINH TẾ  
Niên khóa : 2011 - 2015  
Giảng viên hướng dẫn : THS. TRẦN THẾ CƯỜNG  
CN. BÙI VĂN QUANG  
HÀ NỘI, 2015  
 
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là  
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã  
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn  
gốc.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2015  
Sinh viên  
Trịnh Thị Thủy  
i
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp vừa qua, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt  
tình của cá nhân, tập thể để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.  
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu nhà trường Học Viện  
Nông Nghiệp Hà Nội, toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kinh Tế và Phát  
triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng đã truyền cho tôi những kiến thức  
cơ bản và tạo điều kiện giuos đỡ tôi hoàn thành luận văn này.  
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới hai thầy – ThS. Trần Thế  
Cường & CN. Bùi Văn Quang – Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và  
Phát triển nông thôn đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận  
tình cho tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này.  
Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn toàn thể cán bộ UBND xã Quảng Thọ,  
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa và nhân dân trong xã trong thời gian qua  
tôi về thực tập nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập  
thông tin cần thiết cho đề tài.  
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè, những người đã  
động viên giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực  
hiện đề tài.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Hà Nội, ngày  
tháng năm 2015  
Sinh viên  
Trịnh Thị Thủy  
ii  
 
TÓM TẮT  
Thanh Hóa là một trong những trung tâm thuốc lào của cả nước. Trong đó  
huyện Quảng Xương, xã Quảng Thọ là một trong những xã thuộc huyện Quảng  
Xương nổi tiếng với nghề trồng thuốc lào. Cả xã có gần 1000 hộ dân đều gắn bó  
với cây thuốc lào từ lâu đời, diện tích thuốc lào chiếm 12,98% diện tích đất nông  
nghiệp. So với trồng các cây hoa màu, cây lương thực khác thì việc trồng cây  
thuốc lào mang lại thu nhập cao hơn cho người nông dân. Loại cây trồng này  
không chỉ thúc đẩy cải thiện đời sống nhân dân nơi đây ngày càng đi lên mà còn  
là một nghề truyền thống mà cha ông để lại. Với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu  
thuận lợi, huyện Quảng Xương đã nổi tiếng với những vùng thuốc lào bạt ngàn  
xanh. Xã Quảng Thọ là nơi có điều kiện thích hợp cho sản xuất và chế biến thuốc  
lào và đang được chú trọng đầu tư, tuy nhiên tiềm năng và thế mạnh chưa được  
khai thác triệt để, người sản xuất với quy mô nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả chưa thực  
sự cao. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh  
tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng Xương, tỉnh  
Thanh Hóa”  
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài đánh giá hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc  
lào của các nông dân xa Quảng Thọ. Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa lý luận và  
thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả trong sản xuất và chế biến  
thuốc lào nói riêng. Thứ hai, tìm hiểu thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất và chế  
biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ. Thứ ba, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu  
quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã và đề ra giải pháp nhằm nâng cao  
hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào của các hộ nông dân xã Quảng Thọ trong  
các vụ tiếp theo.  
Phương pháp được sử dụng trong đề tài chủ yếu là phương pháp phân tích,  
trong đó thống kê mô tả và so sánh là hai phương pháp được sử dụng nhiều nhất.  
Thống kê mô tả sử dụng các chỉ tiêu phân tích như số tuyệt đối, tương đối, tăng  
giảm, bình quân để làm rõ mức độ, biến động sản xuất và chế biến thuốc lào. Bên  
iii  
 
cạnh đó, phân tích SWOT cũng được áp dụng để phân tích thuận lợi khó khăn tìm  
ra cơ hội cho phát triển cây thuốc lào tại xã Quảng Thọ.  
Tại xã Quảng Thọ hình thức sản xuất và chế biến thuốc lào chủ yếu là sản  
xuất theo hộ gia đình. Đất canh tác của các hộ được giao lâu dài và ổn định. Thời  
gia gần đây, diện tích trồng thuốc lào không ngừng tăng lên, tốc độ bình quân tăng  
0,5%. Năm 2012, DT trồng thuốc lào là 34ha, năm 2014 tăng lên 43ha. Do cây  
thuốc lào là cây trồng chủ đạo của xã vào vụ đông xuân nên sản xuất và chế biến  
thuốc lào của hộ nông dân được sự quan tâm rất nhiều của chính quyền địa phương  
như đưa ra nhiều chính sách ưu đãi cho hộ nông dân vay vốn sản xuất...  
Theo kết quả điều tra, năm 2014, diện tích trồng thuốc lào của 60 hộ là 201  
sào, trong đó có 75,5 sào đất màu và 131,5 sào đất lúa, bình quân mỗi hộ có 3,35  
sào thuốc lào. Mỗi hộ có ít nhất hai  
lần chế biến thuốc lào với mỗi lần từ 0,5 – 1 sào thuốc, 100% đánh giá chất  
lượng thuốc đều đảm bảo chất lượng và quy trình chế biến tốt. Sản lượng thuốc lào  
khô của các hộ điều tra được là 17,3 tấn thuốc khô với năng suất 85 kg/sào.  
Năm 2014, diện tích thuốc lào của cả xã đạt 43ha, sản lượng đạt 47,3 tấn  
thuốc khô, năng suất trung bình 11 tạ/ha. Giá bán thuốc từ 220.000 – 280.000  
đ/kg, mỗi năm thuốc lào xã Quảng Thọ thu được từ 220 – 280 triệu đồng/ha.  
Trong các cách thức đầu tư thì chi phí lao động luôn chiếm tỷ lệ cao trong  
tổng chi phí sản xuất và chế biến thuốc lào của các hộ nông dân (lao động làm cỏ,  
chăm sóc, phun thuốc, tưới tiêu, bón phân, chi phí lao động chiếm tới 46,3% trong  
tổng chi phí sản xuất và chế biến thuốc lào). Tiếp theo chi phí lao động là chi phí  
phân bón cũng chiếm tỷ lệ rất cao trông tổng chi phí là 33%. So với nhiều loại cây  
trồng khác, công lao động dùng cho trồng thuốc lào là rất cao, với 1 sào công lao  
động phải bỏ ra trên 24 công.  
Hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào đạt được khá cao. Bình quân  
mỗi sào các hộ thu về 24,7 triệu đồng giá trị sản xuất và 19,5 triệu đồng giá trị thu  
nhập hỗn hợp. Một đồng vốn bỏ ra có thể đem lại 9,4 đồng giá trị sản xuất, 8,4  
đồng giá trị gia tăng, 7,7 đồng giá trị thu nhập hỗn hợp. Mỗi công lao động tham  
iv  
gia sản xuất và chế biến thuốc lào có thể thu về 1000,9 nghìn đồng giá trị sản xuất,  
819,1 nghìn đồng giá trị thu nhập hỗn hợp.  
Hiệu quả kinh tế khi trồng thuốc lào theo nhóm hộ nghèo, trung bình, khá  
thì hộ nghèo đạt hiệu quả cao hơn 2 nhóm hộ còn lại. Hộ nghèo khi trồng thuốc  
lào thu về 24,8 triệu đồng GO, 20,7 triệu đồng MI; nhóm hộ tiếp theo là nhóm  
hộ khá đạt 24,3 triệu đồng GO, 20,1 triệu đồng MI; nhóm hộ thấp nhất là trung  
bình với 20,7 triệu đồng GO, 19,1 triệu đồng MI. Về hiệu quả sử dụng vốn thì  
hộ nghèo vẫn đạt cao nhất, với 1 đồng vốn hộ nghèo thu về 10,6 đồng GO, 9,6  
đồng VA, 8,9 đồng MI; hộ tiếp theo là hộ khá đạt được 10,1 đồngGO, 9,1 đồng  
VA, 8,4 đồng MI khi bỏ ra 1 đồng vốn; nhóm hộ trung bình là thấp nhất với 9,7  
đồng GO, 8,6 đồng VA, 7,9 đồng MI khi bỏ ra một đồng vốn.  
Hiệu quả khi trồng thuốc lào cao hơn rất nhiều so với trồng lúa. Trồng thuốc  
lào thu lại được giá trị sản xuất cao gấp 6,8 lần so với trồng lúa, tương đương cao  
hơn 21,1 triệu đồng/sào; thu nhập hỗn hợp cũng cao hơn 6,7 lần, tương đương với  
16,6 triệu đồng/sào. Về hiệu quả sử dụng vốn, một đồng vốn khi trồng thuốc lào có  
thể thu về 9,4 đồng giá trị sản xuất,8,4 đồng giá trị gia tăng và 7,7 đồng thu hập hỗn  
hợp. Trong khi nếu trồng lúa là 7,1; 6,1 ;5,8 đồng. Như vậy hiệu quả sử dụng vốn  
của cây thuốc lào cũng cao hơn cây lúa. Về hiệu quả sử dụng lao động lại chênh  
lệch khá cao 655,6 nghìn đồng/công; trong khi đó nếu trồng thuốc lào 1 công lao  
động thu về 819,1 nghìn đồng thu nhập hỗn hợp, nếu trồng lúa thì chỉ đạt được  
163,5 nghìn đồng/công.  
Qua đánh giá, đề tài đã đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh  
tế sản xuất và chế biến thuốc lào: thời tiết, trình độ học vấn của chủ hộ, sâu bệnh  
hại và quá trình bảo quản sau thu hoạch, kỹ thuật thâm canh. Dựa vào việc phân  
tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào của  
các hộ nông dân trong xã, đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu  
quả kinh tế như: nâng cao trình độ học vấn cho chủ hộ, nâng cao vai trò của cán bộ  
khuyến nông, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm.....  
v
MỤC LỤC  
vi  
 
vii  
viii  
DANH MỤC BẢNG  
ix  
 
x
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU  
HQKT:  
GTSX:  
UBND:  
DT  
Hiệu quả kinh tế  
Giá trị sản xuất  
Ủy ban nhân dân  
Diện tích  
GO:  
Gía trị sản xuất  
Gía trị gia tăng  
Chi phí trung gian  
Thu nhập hỗn hợp  
Đơn vị tính  
VA:  
IC:  
MI:  
ĐVT:  
BQ:  
Bình quân  
SL:  
Số lượng  
LĐ:  
Lao động  
BVTV:  
THKT  
THCS  
THPT  
HĐND  
MTTQ  
CSHT  
TX  
Bảo vệ thực vật  
Tập huấn kĩ thuật  
Trung học cơ sở  
Trung học phổ thông  
Hội đồng nhân dân  
Mặt trận tổ quốc  
Cơ sở hạ tầng  
Thị xã  
TP  
Thành phố  
TDTT  
Thể dục thể thao  
xi  
   
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Thanh Hóa là một trong những trung tâm trồng cây thuốc lào của cả nước.  
Hàng chục năm qua, cây thuốc lào đã và đang khẳng định là cây trồng xóa đói,  
giảm nghèo, nâng cao đời sống cho hàng vạn hộ nông dân, góp phần thúc đẩy  
phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, làm thay đổi bộ mặt nông thôn các  
huyện trung du miền núi và các huyện ở đồng bằng tỉnh Thanh Hóa (Thuốc lào  
Thanh Hóa). Chính vì vậy, việc bảo đảm ổn định và phát triển cây thuốc lào là  
nhiệm vụ hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với đời sống nhân dân ở  
Thanh Hóa. Thế nhưng, hiện nay do giá thuốc lào giảm, khối lượng tồn kho lớn  
dẫn đến sản xuất thuốc lào nói chung và Thanh Hóa nói riêng đứng trước nhiều khó  
khăn, thách thức. Ðiều này cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh và thu  
nhập của các hộ nông dân.  
Cây thuốc lào được sản xuất chủ yếu dưới hình thức là hộ nông dân. Trong  
hoạt động kinh tế nông hộ có thể tiến hành tất cả các khâu sản xuất và tái sản xuất.  
Hiện nay, tại một số địa phương mô hình kinh tế hộ đang phát triển mạnh và đem  
lại lợi ích cho người dân và xã hội. Góp phần nâng cao thu nhập của người dân  
đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Có rất nhiều lựa chọn  
trong sản xuất nông nghiệp như các hộ có thể trồng ngô, lúa, rau.... Tuy nhiên đối  
với các hộ tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương , tỉnh Thanh Hóa thì họ lại chọn  
cây thuốc lào là cây trồng có thu nhập chính cho họ. Bởi bao đời nay nơi đây gắn  
liền với cây thuốc này, góp phần làm nên thương hiệu “ Thuốc lào Quảng Xương”  
và phát triển kinh tế của hộ nông dân.  
Xã Quảng Thọ có 12 thôn thì có hơn 6 thôn đều gắn bó với cây thuốc lào.  
Với gần 1000 hộ gắn bó với cây thuốc, diện tích gần 40 ha, nhà ít thì trồng 800 cây,  
nhiều thì tới hàng nghìn cây, hiện xã được coi là nơi có diện tích trồng thuốc lào  
lớn gần nhất tỉnh. So với việc trồng lúa thì việc trồng cây thuốc lào mang lại thu  
nhập cao hơn rất nhiều lần.  
1
 
Với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi, tỉnh Quảng Xương đã nổi tiếng  
với những vùng thuốc lào bạt ngàn xanh. Cây thuốc lào được trồng chủ yếu ở các  
tỉnh như Nghệ An, Hải Phòng,Thanh Hóa là một trong những tỉnh có diện tích đất  
trồng thuốc lào lớn nhất cả nước, cây thuốc lào được chú trọng đầu tư phát triển  
mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao. Xã Quảng Thọ là nơi có điều kiện thích  
hợp cho sản xuất và chế biến thuốc lào và đang được chú trọng đầu tư, tuy nhiên  
tiềm năng và thế mạnh chưa được khai thác triệt để, người sản xuất với quy mô nhỏ  
lẻ, manh mún, hiệu quả chưa thực sự cao.  
Trước tình hình đó đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra những  
hạn chế và tồn tại của sản xuất và chế biến thuốc lào ở xã Quảng Thọ, huyện  
Quảng Xương,tỉnh Thanh Hóa để từ đó nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và  
chế biến thuốc lào trên địa bàn. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “ Đánh giá hiệu  
quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng  
Xương, tỉnh Thanh Hóa “  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Tìm hiểu thực trạng hiệu quả kinh tế trong sản xuất và chế biến thuốc lào  
tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, phân tích các yếu tố  
ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã. Từ đó đưa ra các  
giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ  
trong thời gian tới.  
1.2.2 Mục tiêu cụ thể  
Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả  
trong sản xuất và chế biến thuốc lào.  
Tìm hiểu thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã  
Quảng Thọ.  
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến  
thuốc lào tại xã và đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và chế biến  
thuốc lào tại xã trong thời gian tới.  
2
     
1.3 Câu hỏi nghiên cứu  
Những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế sản  
xuất và chế biên thuốc lào như thế nào?  
Thực trạng sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ như thế nào?  
Các hộ gia đình sản xuất và chế biến thuốc lào trên địa bàn xã Quảng Thọ  
có đạt hiệu quả kinh tế hay không?  
Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và chế biến thuốc lào là gì?  
Có những biện pháp chủ yếu nào để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và  
chế biến thuốc lào?  
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động sản xuất và chế biến thuốc  
lào của các hộ nông dân trên địa bàn xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương,tỉnh  
Thanh Hóa.  
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng sản xuất  
chế biến thuốc lào và đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất thuốc lào.  
Bên cạnh đó, đề tài còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh  
tế sản xuất thuốc lào của các hộ trên địa bàn nghiên cứu.  
- Phạm vi về không gian: đề tài nghiên cứu tại xã Quảng Thọ, huyện  
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.  
- Phạm vi về thời gian:  
+ Đề tài thu thập số liệu thống kê từ năm 2011 đến năm 2014; số liệu điều  
tra khảo sát thực trạng năm 2014  
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 1 – 2015 đến tháng 6- 2015  
3
       
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  
2.1 Cơ sở lý luận  
2.1.1 Lý luận cơ bản về hiệu quả kinh tế  
2.1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế  
a, Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế  
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đến  
phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Nó được đo  
bằng các chi phí và lời lãi. Nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem  
như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên  
một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường  
là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi  
kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh.  
Các quan điểm truyền thống trên chưa thật sự toàn diện khi xem xét hiệu quả  
kinh tế. Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ  
xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chi tiêu rất quan trọng  
không những cho chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét  
trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên  
phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng đầy đủ được. Thứ hai, nó  
không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất  
kinh doanh. Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế theo quan điểm này  
thường chưa tính đủ và chính xác. Thứ 3, hiệu quả theo quan điểm truyền thống chỉ  
bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến  
yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả.  
Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ  
đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yếu tố khác nữa.  
b, Quan điểm mới về hiệu quả kinh tế  
Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các  
yếu tố: Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Về mối quan hệ  
4
     
này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật ( Technical efficiency) ;  
hiệu quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế  
(Economic efficiency).  
• Hiệu quả kỹ thuật  
Hiệu quả kỹ thật được xác định như khả năng của người nông dân có thể  
đạt mức sản lượng nào đó so với mức sản lượng tối đa với các điều kiện kỹ thuật  
đầu vào hiện đại.  
• Hiệu quả phân bổ  
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả, trong đó các yếu tố giá sản phẩm và  
giá đầu vào được tính để xác định giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi  
phí tăng thêm về đầu vào. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có  
tính đến yếu tố giá đầu vào và giá đầu ra, vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá.  
• Hiệu quả kinh tế  
Farell (1957) đã khẳng định rằng : “Hiệu quả kinh tế của một hãng bao  
gồm hai bộ phận cấu thành, đó là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.”  
Hiệu quả kỹ thuật được xác định như là khả năng của người nông dân có  
thể đạt được một mức sản lượng nào đó so với mức sản lượng tối đa với điều  
kiện các yếu tố đầu vào và kỹ thuật hiện đại.  
Hiệu quả phân bổ là việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ  
nhằm đạt được lợi nhuận tối đa khi biết cụ thể các giá trị đầu vào.  
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật × Hiệu quả phân bổ  
2.1.1.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế  
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi  
phối:  
Thứ nhất là: Quy luật cung – cầu  
Thứ hai là: Quy luật năng suất cận biên giảm dần  
Hiệu quả kinh tế là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết quả hữu ích  
được tạo ra như thế nào, chi phí là bao nhiêu, trong điều kiện sản xuất cụ thể  
nào, có được chấp nhận hay không? Như vậy, hiệu quả kinh tế liên quan trực  
5
tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.  
Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện  
kinh tế thị trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:  
Thứ nhất là khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao,  
phân bổ chi phí, hoạch toán chi phí.... Yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ.  
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát  
triển kinh tế xã hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của  
mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Muốn như vậy thì quá trình sản xuất phải  
phát triển không ngừng cả về chiều sâu và chiều rộng như: Vốn, kỹ thuật, tổ  
chức sản xuất sao cho phù hợp nhất để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế  
của quá trình sản xuất. Vì bất kỳ quá trình sản xuất nào đều liên quan đến hai  
yếu tố cơ bản đó là kết quả thu được và chi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất,  
nhưng để làm rõ được bản chất của hiệu quả kinh tế cần phải phân định sự khác  
nhau về mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả.  
- Kết quả là một đại lượng vật chất phản ánh về quy mô số lượng của  
sản xuất.  
- Hiệu quả là đại lượng để xem xét kết quả đạt được tạo ra như thế nào,  
nguồn chi phí vật chất bỏ ra bao nhiêu để đạt được kết quả đó.  
2.1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế  
a, Phân loại hiệu quả kinh tế theo nội dung  
Theo nội dung của hiệu quả, người ta chia thành: hiệu quả kinh tế, hiệu  
quả xã hội và hiệu quả môi trường.  
Hiệu quả kinh tế được biểu thị bởi quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt  
được và lượng chi phí bỏ ra trong sản xuất. Một phương án, một giải pháp có  
hiệu quả kinh tế cao là phải đạt được tương quan tương đối tối ưu giữa kết quả  
đạt được và chi phí đầu tư. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là tối đa hóa về kết  
quả sản xuất và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn.  
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội  
và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế  
6
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người. Tuy nhiên, do việc lượng  
hóa các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn nên hiệu quả  
xã hội chủ yếu phản ánh qua các chỉ tiêu định tính như: xóa đói giảm nghèo, tạo  
việc làm......  
Hiệu quả môi trường đang là vấn đề bức bách được nhiều cấp, ngành, nhà  
quản lý và nhà khoa học quan tâm. Nếu chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà  
không quan tâm đến hiệu quả môi trường có thể dẫn đến những tổn thất lớn hơn  
nhiều so với lợi ích kinh tế mang lại đồng thời khắc phục hậu quả rất khó khăn.  
Hiệu quả môi trường được phân tích bằng các chỉ tiêu định tính như bảo vệ sự  
đa dạng sinh học, tạo ra sự cân bằng sinh thái...  
Trong các loại hiệu quả trên thì hiệu quả kinh tế đóng vai trò trọng tâm,  
mang tính quyết định. Tuy vậy, hiệu quả kinh tế chỉ được đánh giá đầy đủ và  
đúng đắn khi có sự liên kết chặt chẽ với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.  
b, Phân loại hiệu quả kinh tế theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu  
Cách phân loại này đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hội như  
nghành sản xuất, vùng sản xuất, đơn vị, cơ sở sản xuất hoặc phương án sản xuất.  
Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộ nền  
sản xuất xã hội.  
Hiệu quả kinh tế nghành: là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng nghành  
sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ...  
Trong nông nghiệp được chia thành hiệu quả kinh tế của các ngành hàng  
như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lương thực....  
Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: tính riêng cho từng vùng, từng khu  
vực và địa phương.  
Hiệu quả kinh tế của từng quy mô sản xuất và loại hình doanh nghiệp  
như: doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân, trang trại hoặc kinh tế hộ...  
c, Phân loại hiệu quả kinh tế theo cá yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất  
Hiệu quả sử dụng vốn  
Hiệu quả sử dụng lao động  
7
Hiệu quả sử dụng đất đai  
Hiệu quả sử dụng công nghệ - kỹ thuật mới...  
2.1.1.4 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế  
Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất hiệu quả  
kinh tế, đó là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để  
đạt được kết quả đó, hay đó là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào.  
Mối tương quan đó cần so sánh cả về giá trị tuyết đối và tương đối giữa hai đại  
lượng. Có nhiều công thức xác định hiệu quả kinh tế, bài khóa luận sử dụng  
công thức sau đây vì tính đơn giản và hợp lý của nó:  
Công thức 1:  
Trong đó:  
H = Q – C  
H: Hiệu quả kinh tế  
Q: Kết quả thu được  
C: Chi phí bỏ ra  
Chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng chi  
phí, chi phí trung gian, chi phí lao động... Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả càng  
cao. Tuy nhiên ở cách tính này quy mô sản xuất lớn hay nhỏ chưa được tính đến,  
không so sánh được hiệu quả kinh tế của các đơn vị sản xuất có quy mô của hiệu  
quả chứ không chỉ rõ được mức độ hiệu quả kinh tế, do đó chưa giúp cho nhà  
sản xuất có những tác động cụ thể vào các yếu tố đầu vào để giảm chi phí nguồn  
lực, nâng cao hiệu quả kinh tế.  
Công thức 2:  
H = hoặc ngược lại H =  
Khi so sánh hiệu quả thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết bởi nó nói  
lên mặt chất lượng của hiện tượng. Cách tính này có ưu điểm là phản ánh được  
mức độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực mang lại kết  
quả là bao nhiêu. Vì vậy nó giúp cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế của các đơn  
vị sản xuất một cách rõ nét. Tuy nhiên, cách tính này cũng có nhược điểm đó là  
chưa thể hiện được quy mô hiệu quả kinh tế vì trên thực tế những quy mô khác  
nhau nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn là như nhau.  
8
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 128 trang yennguyen 19660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • dockhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_san_xuat_va_che_bien_thu.doc