Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------------
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT VÀ
CHẾ BIẾN THUỐC LÀO TẠI XÃ QUẢNG THỌ,
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên sinh viên
: TRỊNH THỊ THỦY
Lớp
: K56 KTC
Chuyên ngành đào tạo : KINH TẾ
Niên khóa : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : THS. TRẦN THẾ CƯỜNG
CN. BÙI VĂN QUANG
HÀ NỘI, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn
gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Trịnh Thị Thủy
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp vừa qua, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của cá nhân, tập thể để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu nhà trường Học Viện
Nông Nghiệp Hà Nội, toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kinh Tế và Phát
triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng đã truyền cho tôi những kiến thức
cơ bản và tạo điều kiện giuos đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới hai thầy – ThS. Trần Thế
Cường & CN. Bùi Văn Quang – Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình cho tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này.
Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn toàn thể cán bộ UBND xã Quảng Thọ,
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa và nhân dân trong xã trong thời gian qua
tôi về thực tập nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập
thông tin cần thiết cho đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè, những người đã
động viên giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực
hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng năm 2015
Sinh viên
Trịnh Thị Thủy
ii
TÓM TẮT
Thanh Hóa là một trong những trung tâm thuốc lào của cả nước. Trong đó
huyện Quảng Xương, xã Quảng Thọ là một trong những xã thuộc huyện Quảng
Xương nổi tiếng với nghề trồng thuốc lào. Cả xã có gần 1000 hộ dân đều gắn bó
với cây thuốc lào từ lâu đời, diện tích thuốc lào chiếm 12,98% diện tích đất nông
nghiệp. So với trồng các cây hoa màu, cây lương thực khác thì việc trồng cây
thuốc lào mang lại thu nhập cao hơn cho người nông dân. Loại cây trồng này
không chỉ thúc đẩy cải thiện đời sống nhân dân nơi đây ngày càng đi lên mà còn
là một nghề truyền thống mà cha ông để lại. Với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu
thuận lợi, huyện Quảng Xương đã nổi tiếng với những vùng thuốc lào bạt ngàn
xanh. Xã Quảng Thọ là nơi có điều kiện thích hợp cho sản xuất và chế biến thuốc
lào và đang được chú trọng đầu tư, tuy nhiên tiềm năng và thế mạnh chưa được
khai thác triệt để, người sản xuất với quy mô nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả chưa thực
sự cao. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh
tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng Xương, tỉnh
Thanh Hóa”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài đánh giá hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc
lào của các nông dân xa Quảng Thọ. Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa lý luận và
thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả trong sản xuất và chế biến
thuốc lào nói riêng. Thứ hai, tìm hiểu thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất và chế
biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ. Thứ ba, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã và đề ra giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào của các hộ nông dân xã Quảng Thọ trong
các vụ tiếp theo.
Phương pháp được sử dụng trong đề tài chủ yếu là phương pháp phân tích,
trong đó thống kê mô tả và so sánh là hai phương pháp được sử dụng nhiều nhất.
Thống kê mô tả sử dụng các chỉ tiêu phân tích như số tuyệt đối, tương đối, tăng
giảm, bình quân để làm rõ mức độ, biến động sản xuất và chế biến thuốc lào. Bên
iii
cạnh đó, phân tích SWOT cũng được áp dụng để phân tích thuận lợi khó khăn tìm
ra cơ hội cho phát triển cây thuốc lào tại xã Quảng Thọ.
Tại xã Quảng Thọ hình thức sản xuất và chế biến thuốc lào chủ yếu là sản
xuất theo hộ gia đình. Đất canh tác của các hộ được giao lâu dài và ổn định. Thời
gia gần đây, diện tích trồng thuốc lào không ngừng tăng lên, tốc độ bình quân tăng
0,5%. Năm 2012, DT trồng thuốc lào là 34ha, năm 2014 tăng lên 43ha. Do cây
thuốc lào là cây trồng chủ đạo của xã vào vụ đông xuân nên sản xuất và chế biến
thuốc lào của hộ nông dân được sự quan tâm rất nhiều của chính quyền địa phương
như đưa ra nhiều chính sách ưu đãi cho hộ nông dân vay vốn sản xuất...
Theo kết quả điều tra, năm 2014, diện tích trồng thuốc lào của 60 hộ là 201
sào, trong đó có 75,5 sào đất màu và 131,5 sào đất lúa, bình quân mỗi hộ có 3,35
sào thuốc lào. Mỗi hộ có ít nhất hai
lần chế biến thuốc lào với mỗi lần từ 0,5 – 1 sào thuốc, 100% đánh giá chất
lượng thuốc đều đảm bảo chất lượng và quy trình chế biến tốt. Sản lượng thuốc lào
khô của các hộ điều tra được là 17,3 tấn thuốc khô với năng suất 85 kg/sào.
Năm 2014, diện tích thuốc lào của cả xã đạt 43ha, sản lượng đạt 47,3 tấn
thuốc khô, năng suất trung bình 11 tạ/ha. Giá bán thuốc từ 220.000 – 280.000
đ/kg, mỗi năm thuốc lào xã Quảng Thọ thu được từ 220 – 280 triệu đồng/ha.
Trong các cách thức đầu tư thì chi phí lao động luôn chiếm tỷ lệ cao trong
tổng chi phí sản xuất và chế biến thuốc lào của các hộ nông dân (lao động làm cỏ,
chăm sóc, phun thuốc, tưới tiêu, bón phân, chi phí lao động chiếm tới 46,3% trong
tổng chi phí sản xuất và chế biến thuốc lào). Tiếp theo chi phí lao động là chi phí
phân bón cũng chiếm tỷ lệ rất cao trông tổng chi phí là 33%. So với nhiều loại cây
trồng khác, công lao động dùng cho trồng thuốc lào là rất cao, với 1 sào công lao
động phải bỏ ra trên 24 công.
Hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào đạt được khá cao. Bình quân
mỗi sào các hộ thu về 24,7 triệu đồng giá trị sản xuất và 19,5 triệu đồng giá trị thu
nhập hỗn hợp. Một đồng vốn bỏ ra có thể đem lại 9,4 đồng giá trị sản xuất, 8,4
đồng giá trị gia tăng, 7,7 đồng giá trị thu nhập hỗn hợp. Mỗi công lao động tham
iv
gia sản xuất và chế biến thuốc lào có thể thu về 1000,9 nghìn đồng giá trị sản xuất,
819,1 nghìn đồng giá trị thu nhập hỗn hợp.
Hiệu quả kinh tế khi trồng thuốc lào theo nhóm hộ nghèo, trung bình, khá
thì hộ nghèo đạt hiệu quả cao hơn 2 nhóm hộ còn lại. Hộ nghèo khi trồng thuốc
lào thu về 24,8 triệu đồng GO, 20,7 triệu đồng MI; nhóm hộ tiếp theo là nhóm
hộ khá đạt 24,3 triệu đồng GO, 20,1 triệu đồng MI; nhóm hộ thấp nhất là trung
bình với 20,7 triệu đồng GO, 19,1 triệu đồng MI. Về hiệu quả sử dụng vốn thì
hộ nghèo vẫn đạt cao nhất, với 1 đồng vốn hộ nghèo thu về 10,6 đồng GO, 9,6
đồng VA, 8,9 đồng MI; hộ tiếp theo là hộ khá đạt được 10,1 đồngGO, 9,1 đồng
VA, 8,4 đồng MI khi bỏ ra 1 đồng vốn; nhóm hộ trung bình là thấp nhất với 9,7
đồng GO, 8,6 đồng VA, 7,9 đồng MI khi bỏ ra một đồng vốn.
Hiệu quả khi trồng thuốc lào cao hơn rất nhiều so với trồng lúa. Trồng thuốc
lào thu lại được giá trị sản xuất cao gấp 6,8 lần so với trồng lúa, tương đương cao
hơn 21,1 triệu đồng/sào; thu nhập hỗn hợp cũng cao hơn 6,7 lần, tương đương với
16,6 triệu đồng/sào. Về hiệu quả sử dụng vốn, một đồng vốn khi trồng thuốc lào có
thể thu về 9,4 đồng giá trị sản xuất,8,4 đồng giá trị gia tăng và 7,7 đồng thu hập hỗn
hợp. Trong khi nếu trồng lúa là 7,1; 6,1 ;5,8 đồng. Như vậy hiệu quả sử dụng vốn
của cây thuốc lào cũng cao hơn cây lúa. Về hiệu quả sử dụng lao động lại chênh
lệch khá cao 655,6 nghìn đồng/công; trong khi đó nếu trồng thuốc lào 1 công lao
động thu về 819,1 nghìn đồng thu nhập hỗn hợp, nếu trồng lúa thì chỉ đạt được
163,5 nghìn đồng/công.
Qua đánh giá, đề tài đã đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
tế sản xuất và chế biến thuốc lào: thời tiết, trình độ học vấn của chủ hộ, sâu bệnh
hại và quá trình bảo quản sau thu hoạch, kỹ thuật thâm canh. Dựa vào việc phân
tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào của
các hộ nông dân trong xã, đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế như: nâng cao trình độ học vấn cho chủ hộ, nâng cao vai trò của cán bộ
khuyến nông, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm.....
v
MỤC LỤC
Lời cam đoan..........................................................................................................i
Lời cảm ơn ............................................................................................................ii
Tóm tắt .................................................................................................................iii
Mục lục.................................................................................................................vi
Danh mục bảng.....................................................................................................ix
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu ..................................................................xi
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................1
Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................1
Mục tiêu nghiên cứu..................................................................................2
1.2.1 Mục tiêu chung..........................................................................................2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể..........................................................................................2
Câu hỏi nghiên cứu ...................................................................................3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu................................................................................3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu...................................................................................3
Cơ sở lý luận .............................................................................................4
2.1.1 Lý luận cơ bản về hiệu quả kinh tế ...........................................................4
2.1.2 Một số khái niệm có liên quan ..................................................................9
Cơ sở thực tiễn ........................................................................................23
vi
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên ...................................................................................30
3.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội...........................................................................39
3.1.4 Thuận lợi và khó khăn.............................................................................45
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu..................................................................46
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu ................................................................48
năm 2014.................................................................................................56
tại địa phương..........................................................................................59
điều tra.....................................................................................................60
hộ điều tra................................................................................................65
vii
và chế biến thuốc lào...............................................................................74
4.3.1 Giống cây ................................................................................................74
4.3.2 Quy mô diện tích.....................................................................................74
4.3.4 Kỹ thuật thâm canh .................................................................................81
4.3.5 Thời tiết khí hậu ......................................................................................82
4.3.6 Yếu tố về sâu bệnh ..................................................................................82
4.3.7 Yếu tố về phân bón..................................................................................82
4.3.8 Yếu tố về thuốc BVTV............................................................................90
4.3.9 Yếu tố bảo quản sau chế biến..................................................................92
4.3.10 Yếu tố chất lượng....................................................................................92
4.3.11 Yếu tố thị trường .....................................................................................94
4.4.1 Căn cứ của giải pháp ...............................................................................95
Kết luận .................................................................................................104
Kiến nghị...............................................................................................106
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................108
viii
x
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
HQKT:
GTSX:
UBND:
DT
Hiệu quả kinh tế
Giá trị sản xuất
Ủy ban nhân dân
Diện tích
GO:
Gía trị sản xuất
Gía trị gia tăng
Chi phí trung gian
Thu nhập hỗn hợp
Đơn vị tính
VA:
IC:
MI:
ĐVT:
BQ:
Bình quân
SL:
Số lượng
LĐ:
Lao động
BVTV:
THKT
THCS
THPT
HĐND
MTTQ
CSHT
TX
Bảo vệ thực vật
Tập huấn kĩ thuật
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Hội đồng nhân dân
Mặt trận tổ quốc
Cơ sở hạ tầng
Thị xã
TP
Thành phố
TDTT
Thể dục thể thao
xi
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh Hóa là một trong những trung tâm trồng cây thuốc lào của cả nước.
Hàng chục năm qua, cây thuốc lào đã và đang khẳng định là cây trồng xóa đói,
giảm nghèo, nâng cao đời sống cho hàng vạn hộ nông dân, góp phần thúc đẩy
phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, làm thay đổi bộ mặt nông thôn các
huyện trung du miền núi và các huyện ở đồng bằng tỉnh Thanh Hóa (Thuốc lào
Thanh Hóa). Chính vì vậy, việc bảo đảm ổn định và phát triển cây thuốc lào là
nhiệm vụ hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với đời sống nhân dân ở
Thanh Hóa. Thế nhưng, hiện nay do giá thuốc lào giảm, khối lượng tồn kho lớn
dẫn đến sản xuất thuốc lào nói chung và Thanh Hóa nói riêng đứng trước nhiều khó
khăn, thách thức. Ðiều này cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh và thu
nhập của các hộ nông dân.
Cây thuốc lào được sản xuất chủ yếu dưới hình thức là hộ nông dân. Trong
hoạt động kinh tế nông hộ có thể tiến hành tất cả các khâu sản xuất và tái sản xuất.
Hiện nay, tại một số địa phương mô hình kinh tế hộ đang phát triển mạnh và đem
lại lợi ích cho người dân và xã hội. Góp phần nâng cao thu nhập của người dân
đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Có rất nhiều lựa chọn
trong sản xuất nông nghiệp như các hộ có thể trồng ngô, lúa, rau.... Tuy nhiên đối
với các hộ tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương , tỉnh Thanh Hóa thì họ lại chọn
cây thuốc lào là cây trồng có thu nhập chính cho họ. Bởi bao đời nay nơi đây gắn
liền với cây thuốc này, góp phần làm nên thương hiệu “ Thuốc lào Quảng Xương”
và phát triển kinh tế của hộ nông dân.
Xã Quảng Thọ có 12 thôn thì có hơn 6 thôn đều gắn bó với cây thuốc lào.
Với gần 1000 hộ gắn bó với cây thuốc, diện tích gần 40 ha, nhà ít thì trồng 800 cây,
nhiều thì tới hàng nghìn cây, hiện xã được coi là nơi có diện tích trồng thuốc lào
lớn gần nhất tỉnh. So với việc trồng lúa thì việc trồng cây thuốc lào mang lại thu
nhập cao hơn rất nhiều lần.
1
Với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi, tỉnh Quảng Xương đã nổi tiếng
với những vùng thuốc lào bạt ngàn xanh. Cây thuốc lào được trồng chủ yếu ở các
tỉnh như Nghệ An, Hải Phòng,Thanh Hóa là một trong những tỉnh có diện tích đất
trồng thuốc lào lớn nhất cả nước, cây thuốc lào được chú trọng đầu tư phát triển
mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao. Xã Quảng Thọ là nơi có điều kiện thích
hợp cho sản xuất và chế biến thuốc lào và đang được chú trọng đầu tư, tuy nhiên
tiềm năng và thế mạnh chưa được khai thác triệt để, người sản xuất với quy mô nhỏ
lẻ, manh mún, hiệu quả chưa thực sự cao.
Trước tình hình đó đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra những
hạn chế và tồn tại của sản xuất và chế biến thuốc lào ở xã Quảng Thọ, huyện
Quảng Xương,tỉnh Thanh Hóa để từ đó nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và
chế biến thuốc lào trên địa bàn. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “ Đánh giá hiệu
quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng
Xương, tỉnh Thanh Hóa “
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng hiệu quả kinh tế trong sản xuất và chế biến thuốc lào
tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã. Từ đó đưa ra các
giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ
trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả
trong sản xuất và chế biến thuốc lào.
Tìm hiểu thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã
Quảng Thọ.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến
thuốc lào tại xã và đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và chế biến
thuốc lào tại xã trong thời gian tới.
2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế sản
xuất và chế biên thuốc lào như thế nào?
Thực trạng sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ như thế nào?
Các hộ gia đình sản xuất và chế biến thuốc lào trên địa bàn xã Quảng Thọ
có đạt hiệu quả kinh tế hay không?
Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và chế biến thuốc lào là gì?
Có những biện pháp chủ yếu nào để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và
chế biến thuốc lào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động sản xuất và chế biến thuốc
lào của các hộ nông dân trên địa bàn xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương,tỉnh
Thanh Hóa.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng sản xuất
chế biến thuốc lào và đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất thuốc lào.
Bên cạnh đó, đề tài còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
tế sản xuất thuốc lào của các hộ trên địa bàn nghiên cứu.
- Phạm vi về không gian: đề tài nghiên cứu tại xã Quảng Thọ, huyện
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi về thời gian:
+ Đề tài thu thập số liệu thống kê từ năm 2011 đến năm 2014; số liệu điều
tra khảo sát thực trạng năm 2014
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 1 – 2015 đến tháng 6- 2015
3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận cơ bản về hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
a, Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đến
phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Nó được đo
bằng các chi phí và lời lãi. Nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem
như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên
một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường
là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi
kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh.
Các quan điểm truyền thống trên chưa thật sự toàn diện khi xem xét hiệu quả
kinh tế. Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ
xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chi tiêu rất quan trọng
không những cho chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét
trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên
phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng đầy đủ được. Thứ hai, nó
không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất
kinh doanh. Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế theo quan điểm này
thường chưa tính đủ và chính xác. Thứ 3, hiệu quả theo quan điểm truyền thống chỉ
bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến
yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả.
Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ
đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yếu tố khác nữa.
b, Quan điểm mới về hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các
yếu tố: Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Về mối quan hệ
4
này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật ( Technical efficiency) ;
hiệu quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế
(Economic efficiency).
• Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả kỹ thật được xác định như khả năng của người nông dân có thể
đạt mức sản lượng nào đó so với mức sản lượng tối đa với các điều kiện kỹ thuật
đầu vào hiện đại.
• Hiệu quả phân bổ
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả, trong đó các yếu tố giá sản phẩm và
giá đầu vào được tính để xác định giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi
phí tăng thêm về đầu vào. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có
tính đến yếu tố giá đầu vào và giá đầu ra, vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá.
• Hiệu quả kinh tế
Farell (1957) đã khẳng định rằng : “Hiệu quả kinh tế của một hãng bao
gồm hai bộ phận cấu thành, đó là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.”
Hiệu quả kỹ thuật được xác định như là khả năng của người nông dân có
thể đạt được một mức sản lượng nào đó so với mức sản lượng tối đa với điều
kiện các yếu tố đầu vào và kỹ thuật hiện đại.
Hiệu quả phân bổ là việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ
nhằm đạt được lợi nhuận tối đa khi biết cụ thể các giá trị đầu vào.
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật × Hiệu quả phân bổ
2.1.1.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi
phối:
Thứ nhất là: Quy luật cung – cầu
Thứ hai là: Quy luật năng suất cận biên giảm dần
Hiệu quả kinh tế là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết quả hữu ích
được tạo ra như thế nào, chi phí là bao nhiêu, trong điều kiện sản xuất cụ thể
nào, có được chấp nhận hay không? Như vậy, hiệu quả kinh tế liên quan trực
5
tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện
kinh tế thị trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
Thứ nhất là khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao,
phân bổ chi phí, hoạch toán chi phí.... Yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ.
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát
triển kinh tế xã hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của
mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Muốn như vậy thì quá trình sản xuất phải
phát triển không ngừng cả về chiều sâu và chiều rộng như: Vốn, kỹ thuật, tổ
chức sản xuất sao cho phù hợp nhất để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế
của quá trình sản xuất. Vì bất kỳ quá trình sản xuất nào đều liên quan đến hai
yếu tố cơ bản đó là kết quả thu được và chi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất,
nhưng để làm rõ được bản chất của hiệu quả kinh tế cần phải phân định sự khác
nhau về mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả.
- Kết quả là một đại lượng vật chất phản ánh về quy mô số lượng của
sản xuất.
- Hiệu quả là đại lượng để xem xét kết quả đạt được tạo ra như thế nào,
nguồn chi phí vật chất bỏ ra bao nhiêu để đạt được kết quả đó.
2.1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
a, Phân loại hiệu quả kinh tế theo nội dung
Theo nội dung của hiệu quả, người ta chia thành: hiệu quả kinh tế, hiệu
quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Hiệu quả kinh tế được biểu thị bởi quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong sản xuất. Một phương án, một giải pháp có
hiệu quả kinh tế cao là phải đạt được tương quan tương đối tối ưu giữa kết quả
đạt được và chi phí đầu tư. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là tối đa hóa về kết
quả sản xuất và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn.
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
6
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người. Tuy nhiên, do việc lượng
hóa các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn nên hiệu quả
xã hội chủ yếu phản ánh qua các chỉ tiêu định tính như: xóa đói giảm nghèo, tạo
việc làm......
Hiệu quả môi trường đang là vấn đề bức bách được nhiều cấp, ngành, nhà
quản lý và nhà khoa học quan tâm. Nếu chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà
không quan tâm đến hiệu quả môi trường có thể dẫn đến những tổn thất lớn hơn
nhiều so với lợi ích kinh tế mang lại đồng thời khắc phục hậu quả rất khó khăn.
Hiệu quả môi trường được phân tích bằng các chỉ tiêu định tính như bảo vệ sự
đa dạng sinh học, tạo ra sự cân bằng sinh thái...
Trong các loại hiệu quả trên thì hiệu quả kinh tế đóng vai trò trọng tâm,
mang tính quyết định. Tuy vậy, hiệu quả kinh tế chỉ được đánh giá đầy đủ và
đúng đắn khi có sự liên kết chặt chẽ với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
b, Phân loại hiệu quả kinh tế theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Cách phân loại này đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hội như
nghành sản xuất, vùng sản xuất, đơn vị, cơ sở sản xuất hoặc phương án sản xuất.
Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộ nền
sản xuất xã hội.
Hiệu quả kinh tế nghành: là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng nghành
sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ...
Trong nông nghiệp được chia thành hiệu quả kinh tế của các ngành hàng
như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lương thực....
Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: tính riêng cho từng vùng, từng khu
vực và địa phương.
Hiệu quả kinh tế của từng quy mô sản xuất và loại hình doanh nghiệp
như: doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân, trang trại hoặc kinh tế hộ...
c, Phân loại hiệu quả kinh tế theo cá yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng lao động
7
Hiệu quả sử dụng đất đai
Hiệu quả sử dụng công nghệ - kỹ thuật mới...
2.1.1.4 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất hiệu quả
kinh tế, đó là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để
đạt được kết quả đó, hay đó là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào.
Mối tương quan đó cần so sánh cả về giá trị tuyết đối và tương đối giữa hai đại
lượng. Có nhiều công thức xác định hiệu quả kinh tế, bài khóa luận sử dụng
công thức sau đây vì tính đơn giản và hợp lý của nó:
Công thức 1:
Trong đó:
H = Q – C
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được
C: Chi phí bỏ ra
Chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng chi
phí, chi phí trung gian, chi phí lao động... Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả càng
cao. Tuy nhiên ở cách tính này quy mô sản xuất lớn hay nhỏ chưa được tính đến,
không so sánh được hiệu quả kinh tế của các đơn vị sản xuất có quy mô của hiệu
quả chứ không chỉ rõ được mức độ hiệu quả kinh tế, do đó chưa giúp cho nhà
sản xuất có những tác động cụ thể vào các yếu tố đầu vào để giảm chi phí nguồn
lực, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Công thức 2:
H = hoặc ngược lại H =
Khi so sánh hiệu quả thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết bởi nó nói
lên mặt chất lượng của hiện tượng. Cách tính này có ưu điểm là phản ánh được
mức độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực mang lại kết
quả là bao nhiêu. Vì vậy nó giúp cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế của các đơn
vị sản xuất một cách rõ nét. Tuy nhiên, cách tính này cũng có nhược điểm đó là
chưa thể hiện được quy mô hiệu quả kinh tế vì trên thực tế những quy mô khác
nhau nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn là như nhau.
8
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào tại xã Quảng Thọ, huyên Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_san_xuat_va_che_bien_thu.doc

