Khóa luận Nghiên cứu hiện trạng và tăng cường sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng tại xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
TRꢀN THꢁ NGUYꢂN  
NGHIÊN CỨU HIꢂN TRẠNG VÀ TĂNG CƯỜNG SINH KẾ  
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ SỐNG DỰA VÀO RỪNG  
TẠI XÃ THANH ĐꢁNH, HUYꢂN ĐꢁNH HOÁ,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIꢂP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
:
:
:
:
Chính quy  
Quản lý tài nguyên rừng  
Lâm nghiệp  
Khóa học  
2015 - 2019  
Thái Nguyên - Năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
TRꢀN THꢁ NGUYꢂN  
NGHIÊN CỨU HIꢂN TRẠNG VÀ TĂNG CƯỜNG SINH KẾ  
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ SỐNG DỰA VÀO RỪNG  
TẠI XÃ THANH ĐꢁNH, HUYꢂN ĐꢁNH HOÁ,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIꢂP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn  
: TS. Trần Công Quân  
Thái Nguyên - Năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu hiện trạng và  
tăng cường sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng tại xã  
Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu  
của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trần  
Công Quân. Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được  
nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình  
bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót  
gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa  
và nhà trường đề ra.  
Thái Nguyên, ngày..…tháng 5 năm 2019  
Xác nhận GV hướng dẫn  
Người viết cam đoan  
TS. TRꢀN CÔNG QUÂN  
TRꢀN THꢁ NGUYꢂN  
Xác nhận của GV phản biện  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành chương trình đào tạo, mỗi sinh viên đều phải thực hiện  
khóa luận tốt nghiệp. Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý  
của giáo viên hướng dẫn, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, Ban giám hiệu  
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu  
hiện trạng và tăng cường sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa  
vào rừng tại xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”  
Trong quá trình thực hiện, tôi nhận được sự hướng dẫn tận tình của các  
thầy cô trong khoa, đặc biệt thầy giáo TS. Trần Công Quân là người trực tiếp  
hướng dẫn tôi thực hiện đề tài.  
Cùng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của các quý  
thầy cô, đến nay tôi hoàn thành khóa luận này. Cũng nhân dịp này cho phép  
tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới tất cả sự giúp đỡ đó.  
Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên  
khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi kính mong nhận được  
sự góp ý của các thầy cô để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày…..tháng 5 năm 2019  
Sinh viên  
Trần Thꢃ Nguyện  
 
iii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
Nguyên nghĩa  
An toàn khu  
ATK  
BHYT  
BQL  
Bảo hiểm y tế  
Ban quản lý  
DTTS  
KH  
Dân tộc thiểu số  
Kế hoạch  
THCS  
PTNT  
SKBV  
Trung học cơ sở  
Phát triển nông thôn  
Sinh kế bền vững  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1
Phần 1  
MỞ ĐꢀU  
1.1. Đặt vấn đề  
Rừng là tài nguyên quý của mỗi quốc gia, là lá phổi xanh của nhân loại.  
Tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội đều có liên quan đến rừng. Vì thế có  
thể nói: "Rừng là nguồn của nước, nước là nguồn của sự sống". Rừng có vai  
trò quan trọng, ngoài việc cung cấp các sản phẩm hữu hình như gỗ, củi, lâm  
sản ngoài gỗ, rừng còn có chức năng sinh thái vô cùng quan trọng, như: Bảo  
vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, chắn sóng, chắn  
cát bay, đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, du lịch....và tham gia điều hòa  
khí hậu toàn cầu bằng cách hấp thụ CO2, tích lũy cacbon và cung cấp oxi.  
ATK Định Hóa có 90% diện tích rừng phủ kín núi, đồi, chỉ có 10%  
diện tích đồng ruộng, bảo tồn, tôn tạo Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt  
ATK Định Hóa phải đi đôi với bảo vệ, gìn giữ không gian văn hóa, môi  
trường sinh thái các xã, toàn huyện Định Hóa với diện tích đất lâm nghiệp  
30.267 ha rừng đặc dụng 7.539 ha, rừng phòng hộ 8.947 ha, rừng sản xuất  
13.779 ha được UBND tỉnh Thái Nguyên, huyện Định Hóa, Ban Quản lý Khu  
rừng đặc dụng ATK và Ban Quản lý Khu Di tích Lịch sử - Sinh thái ATK  
Định Hóa, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa được thành lập theo Quyết định  
số 51/QĐ-UBND ngày 13-1-2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở tổ  
chức, sắp xếp lại 3 đơn vị là: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Định Hóa;  
Ban Quản lý khu rừng cảnh quan ATK Định Hóa và Hạt Kiểm lâm huyện  
Định Hóa.  
Ban Quản lý rừng ATK là tổ chức trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh  
Thái Nguyên (Sở Nông nghiệp và PTNT). Ban có tư cách pháp nhân, con dấu  
và tài khoản riêng để hoạt động theo quy định của pháp luật. Những nhiệm vụ  
chủ yếu của Ban Quản lý gồm: Quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng các loại  
     
2
rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất trên địa bàn huyện Định Hóa;  
thực hiện các biện pháp nhằm phát triển bền vững các nguồn lợi tài nguyên  
thiên nhiên; tăng cường các hoạt động truyền thông để tuyên truyền, giáo dục  
nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về tài nguyên rừng; tham  
gia giải quyết các tranh chấp về rừng và đất rừng theo quy định. Ban có trụ sở  
tại xóm Dốc Châu, thị trấn Chợ Chu, Định Hóa. Sự thành lập Ban quản lý  
rừng ATK Định Hóa được sự giúp đỡ của tổ chức Lâm nghiệp Việt Đức GTZ  
thông qua việc hỗ trợ chuyên gia tư vấn về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức  
năng các phòng ban và tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng lực chuyên  
Ở khía cạnh tích cực, du lịch góp phần quảng bá những giá trị đặc trưng  
của di tích đến với công chúng, tăng cường nguồn lực để tái đầu tư bảo tồn di  
tích, tạo việc làm cho nhiều người, đặc biệt là người dân sở tại. Ở khía cạnh  
khác, du lịch càng phát triển càng tạo sức ép lên di tích: Lượng người tăng sẽ  
nảy sinh vấn đề ô nhiễm môi trường, sự xâm hại di tích, xâm hại tài nguyên  
rừng do tác động của con người...  
Hiện nay đời sống của nhân dân cùng ATK tuy có được cải thiện nhưng  
vẫn còn nhiều khó khăn. Vì vậy đầu tư bảo vệ và phát triển rừng là một giải pháp  
quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thể hiện  
đạo lý uống nước nhớ nguồn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối  
với đồng bào vùng ATK; đặc biệt là người dân thuộc đồng bào dân tộc thiểu số  
có cuộc sống dựa vào rừng ở các xã do Ban quản lý rừng ATK Định Hóa quản  
lý, trong đó có người dân xã Thanh Định, huyện Định Hóa.  
Những năm qua công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã được tỉnh  
và Sở NN&PTNT Thái Nguyên quan tâm và chỉ đạo thực hiện. Việc nghiên  
cứu đánh giá hiện và sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng  
tại khu vực là chưa được nghiên cứu, nhằm tìm ra các giải pháp ổn định cuộc  
sống của người dân trong khu vực có cuộc sống dựa vào rừng, để họ không tác  
3
động xấu đến rừng, góp phần phát triển tài nguyên rừng bền vững. Để góp phần  
giải quyết những vấn đề nêu trên, việc thực đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và  
tăng cường sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng tại xã  
Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” thực sự có ý nghĩa cả về  
khoa học và thực tiễn.  
1.2. Mục tiêu đề tài  
Đề tài giải quyết các mục tiêu sau:  
- Đánh giá được thực trạng sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống  
dựa vào rừng tại xã Thanh Định vùng đệm ATK Định Hoá, huyện Định Hoá.  
- Xác định nguồn thu từ tài nguyên rừng ảnh hưởng đến sinh kế của  
đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng tại khu vực nghiên cứu.  
- Đề xuất được một số giải pháp tăng cường sinh kế của đồng bào dân  
tộc thiểu số sống dựa vào rừng tại xã Thanh Định, huyện Định Hoá, tỉnh Thái  
Nguyên  
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học  
Góp phần nghiên cứu đánh giá được thực trạng tình hình sản xuất, cuộc  
sống của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng, nhằm đề xuất một số  
giải pháp tăng cường sinh kế của người dân sống dựa vào rừng tại xã Thanh  
Định, huyện Định Hoá.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Trên cơ sở thực tiễn đề tài đã đề xuất được một số giải pháp tăng cường  
sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Thanh Định, huyện Định Hoá,  
tỉnh Thái Nguyên.  
   
4
Phần 2  
TỔNG QUAN TÀI LIꢂU  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn nghiên cứu  
2.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài  
Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ. Nó phản ánh bức tranh  
tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo  
phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như  
trồng trọt nông nghiệp, lâm nghiệp). Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng  
đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài (external supporters) cơ hội  
thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt  
hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo Lê Diên Dực (2002) [6].  
Vì mục tiêu này chúng ta xem xét khái niệm sinh kế và phân tích sinh  
kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng đệm khu ATK Định Hoá, huyện  
Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.  
a) Khái niệm vùng đệm  
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực  
từ 01/01/2019) thì nội dung này được quy định như sau: Vùng đệm là vùng  
rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có  
tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng.  
Theo Lê Diên Dực (2002)[6] cho rằng: Vùng đệm được xây dựng chính  
là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống cho các cộng  
đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho họ để họ giảm bớt  
sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên họ tích cực tham  
gia vào công tác bảo tồn. “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới  
rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và  
được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng  
đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều  
       
5
này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể,  
đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của các cư dân  
sống trong vùng đệm”.  
b) Dân tộc thiểu số là gì  
Lê Diên Dực (2002) [6], cho rằng: Dân tộc thiểu số được định nghĩa tại  
Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc như  
sau:“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số  
trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  
Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng  
sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam.  
Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10.000 người.  
Hiện nay dân tộc đa số là dân tộc Kinh (Việt), 53 dân tộc còn lại là dân  
tộc thiểu số. Theo Tổng điều tra năm 2016, dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số  
toàn quốc; 6 dân tộc có số dân gần một triệu trở lên là Tày, Thái, Mường,  
Khơme, Nùng, H’mông; 16 dân tộc thiểu số ít người có số dân dưới 10.000 là  
La hủ, La ha, Pà thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô lô, Mảng, Cờ lao, Bố y, Cống, Si  
la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, Ơ đu.  
c) Sinh kế của người dân địa phương  
Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài  
nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống. Có quan  
điểm khác cho rằng:  
Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), một sinh kế  
baogồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được,  
chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.  
Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng.  
Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời  
6
sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn  
an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên (dẫn  
theo Lê Văn Kỳ, Ngô Đức Thịnh và Nguyễn Quang Lê 2007), [9].  
d) Sinh kế bền vững của người dân địa phương  
Hướng phát triển sinh kế cho người dân tại các khu bảo tồn thiên nhiên,  
vườn quốc gia trong và ngoài nước là sinh kế bền vững. Trước khi xem xét  
vấn đề sinh kế bền vững chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm về phát triển  
bền vững.  
Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền  
vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả  
năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”.  
Hội nghị môi trường toàn cầu Rio De Janerio (6/1992) đưa ra thuyết  
phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài  
nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển  
kinh tế.  
Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích  
kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của  
những lợi ích tương tự trong tương lai [15].  
Phát triển là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết  
kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người  
thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau [14].  
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng  
con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải  
có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ.  
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi  
trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó  
nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các  
thế hệ tương lai [9].  
7
Sinh kế bền vững nếu theo nghĩa này phải hội đủ những nguyên tắc  
sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân.  
Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ  
bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác,  
bền vững và năng động.  
Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và  
những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc  
nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây  
tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên [9].  
2.1.2. Phân tích sinh kế bền vững của người dân  
a) Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững  
Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh) [6], một sinh kế  
bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được,  
chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. Các nguồn lực và khả năng mà con  
người có, được xem là các vốn hay tài sản sinh kế bao gồm 5 loại sau:  
- Nguồn lực con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của  
từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả  
năng làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế.  
- Nguồn lực xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các  
tổ chức xã hội và các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người  
tham gia để từ đó được những cơ hội và lợi ích khác nhau.  
- Nguồn lực tự nhiên: Là các cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộ  
hoặc một cộng đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa  
màng, vật nuôi, rừng, nước và các nguồn tài nguyên ven biển.  
- Nguồn lực tài chính: Là các nguồn lực tài chính mà con người có  
được như nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín  
dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân  
gửi về hay những trợ cấp của nhà nước.  
 
8
- Nguồn lực vật chất: Bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản  
và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như giao thông, hệ thống cấp  
nước và năng lượng, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình.  
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử  
dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống  
cũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ. Những lựa chọn và quyết  
định của người dân cụ thể như là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay  
tài sản sinh kế; quy mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi;  
cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế; cách thức họ thu nhận và  
phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống; họ đối phó như  
thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng  
khác nhau; và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế  
nào để làm được những điều trên;...[6].  
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế đó là  
những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu  
dài, bao gồm: Sự hưng thịnh hơn; thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc  
làm tốt hơn; kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng  
lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng [6].  
- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng  
tiền, người ta còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật  
chất khác. Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất  
nhiều các yếu tố, ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành  
viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các  
dịch vụ tốt, sự an toàn của đời sống vật chất... [6].  
- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải luôn sống  
trong trạng thái dể bị tổn thương. Do vậy sự ưu tiên của họ có thể là tập trung  
cho việc bảo vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa  
9
những cơ hội của mình. Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá  
cả thị trường, an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia  
súc,... [9].  
- An ninh lương thực được cũng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi  
trong sự tổn thương và đói nghèo. Việc tăng cường an ninh lương thực có thể  
được thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng  
cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực...  
- Sử dụng bền vững hơn cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên: Sự bền  
vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ  
cho các kết quả sinh kế khác. [9].  
b) Các chiến lược sinh kế và kết quả  
Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để  
kiếm sống. Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà  
con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình.  
Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng,  
nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn  
định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm, và sử dụng bền  
vững hơn nguồn tài nguyên [8].  
c) Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân  
Tài nguyên rừng bao gồm đất rừng, bãi chăn thả gia súc, cây cối, động  
vật rừng, các nguồn lâm sản khác và dược liệu, nguồn gen, nguồn nước,...  
được xem là tài sản sinh kế (vốn tự nhiên) của mỗi hộ dân và cả cộng động.  
Xét trong mối quan hệ với các nguồn lực khác tài nguyên rừng là  
nguồn lực tạo ra các nguồn lực khác: Bán sản phẩm thu lượm từ rừng sẽ cho  
những khoản tiền mặt, bổ sung cho nguồn lực tài chính; quản lý và sử dụng  
tài nguyên rừng dưới hình thức cộng đồng làm tăng mối liên kết và quan hệ  
giữa các cá nhân, bổ sung cho nguồn vốn xã hội [7].  
10  
Rừng là trung tâm sự sống của con người chừng nào con người còn  
sống trên trái đất. Rừng mang lại nhiều lợi ích không những cho địa phương  
mà còn cho quốc gia và cả thế giới.  
Rừng là nơi sinh sống cho hơn 200 triệu người ở vùng nhiệt đới. Họ có  
thể là những người dân sống ở vùng rừng qua nhiều thế hệ, mới chuyển đến  
như là người đến định cư hoặc là sống tạm, hoặc là người nơi khác đến để  
khai thác rừng [7].  
Theo báo cáo của tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc, rừng cung cấp  
gỗ và năng lượng cho con người. Giá trị các loại sản phẩm gỗ được buôn bán  
trên thị trường thế giới hàng năm lên đến 36000 triệu USD. Lượng tiêu thụ  
củi đốt và than củi của cả thế giới lên đến 1800 triệu m3. Rừng cung cấp các  
sản phẩm ngoài gỗ bao gồm thực phẩm, thảo dược, nhựa, sợi, thức ăn cho gia  
súc và những sản phẩm cần thiết khác. Động vật rừng chiếm từ 70 - 90% tổng  
lượng protêin động vật được tiêu thụ [11].  
Người dân nông thôn dùng lâm sản để ăn (măng tre nứa, lá một số loại  
cây, cá suối và thịt chim thú), làm vật liệu xây dựng (mây tre, cây quanh nhà, lá  
lợp), công cụ săn bắn và canh tác. Có nhiều vùng dân cư sống ở vùng nông  
thôn có đến 50% thu nhập của các hộ dân nông thôn là từ lâm sản ngoài gỗ [3].  
Rừng mang lại những lợi ích về môi trường cho con người. Rừng có  
chức năng bảo vệ môi trường không những ở địa phương mà còn cả khu vực.  
Ở những vùng có độ dốc cao, rễ cây rừng có tầm quan trọng trong việc ngăn  
chặn xói mòn, sạt lở đất. Rừng giúp ngăn cản gió, giữ và điều hòa lượng nước  
mưa và nước ngầm. Trong hệ thống canh tác nông nghiệp, rừng giúp duy trì  
độ màu mở của đất thông qua chu trình dinh dưỡng của cây rừng. Rừng tạo  
bóng mát, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm không khí [11].  
Rừng là nơi phát triển các dịch vụ khác như du lịch sinh thái, khu nghỉ  
mát, địa điểm giải trí,... Nó còn là nơi chứa đựng nguồn gen không những có  
giá trị kinh tế mà còn có giá trị khoa học và xã hội. Nguồn gen này luôn luôn  
được tái tạo và nó có thể được sử dụng mãi mãi nếu như được quản lý tốt [3].  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 96 trang yennguyen 16561 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu hiện trạng và tăng cường sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng tại xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_hien_trang_va_tang_cuong_sinh_ke_cua_do.pdf