Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động nuôi trồng thủy sản của nông hộ trên địa bàn xã Quảng An

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ở Việt Nam ngành Thủy sản nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng đóng  
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ta có thể ví đây  
như là một “ngành xương sống” bởi các lý do sau: Thứ nhất, cung cấp thực phẩm, tạo  
nguồn dinh dưỡng cho người dân Việt Nam. Thứ hai, đảm bảo an ninh lương thực,  
thực phẩm và xoá đói giảm nghèo. Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông  
thôn. Ngoài ra, đây còn là một ngành có lợi thế xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam,  
đóng góp một phần lớn giúp cân bằng cán cân thương mại.  
Hàng năm, cùng với xu thế phát triển chung của các ngành, lĩnh vực trong cả  
nước, ngành thủy sản cũng đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận. Cụ thể, tốc  
độ tăng trưởng của Việt Nam về xuất khẩu Thủy sản là ao nhất thế giới, đạt 18% năm  
giai đoạn 1998-2008. Năm 2010, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt trên 4,9 tỷ  
USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2009. Tuy nhiên, có thể nói đây là một năm đầy  
sóng gió đối với xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, khi phải đối mặt với hàng loạt khó  
khăn từ nội tại cho đến thị trường xuất khẩu. Theo dự kiến năm 2011, xuất khẩu thủy  
sản Việt Nam của năm sẽ đạt mức 53 tỉ đô la Mỹ. Theo đó chúng ta càng có cơ sở để  
nhìn thấy một tương lai tốt đẹp hơn cho việc mở rộng và phát triển ngành, nghề nuôi  
trồng thủy sản trong cả nư
NTTS đối với tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và địa bàn các huyện, xã nói  
riêng đã từng là một hiện tượng, nó chính là một công cụ xóa đói giảm nghèo “ siêu  
tốc” một ghề siêu lợi nhuận”, nó đã thực sự bùng nỗ và mang lại những kết quả  
đáng ghi n vào những năm 2002 trở về trước. Thế nhưng theo thời gian, nuôi trồng  
thủy sản cũng chính là nhân tố cốt lõi khiến rất nhiều hộ nuôi phải rơi vào cảnh khó  
khăn, nợ nần. Vấn đề đặt ra là, nguyên nhân chính dẫn đến điều này xuất phát từ đâu?  
Ta biết rằng, hầu hết đối tượng nuôi được ưu tiên lựa chọn hàng đầu là tôm sú, bởi nó  
có thời gian nuôi tương đối ngắn nhưng giá trị mang lại cực kỳ cao, ngoài ra nó còn là  
một đặc sản được người tiêu dùng nhiều nước trên thế giới yêu chuộng. Thế nhưng  
đây cũng là đối tượng có yêu cầu về kỹ thuật và điều kiện sống rất nghiêm ngặt. Việc  
bùng nỗ quá mức về NTTS đã khiến môi trường nước ngày càng trở nên ô nhiễm, mà  
1
tác nhân chính xuất phát từ thức ăn dư thừa, dư lượng thuốc hóa học, nguồn nước xã  
thải của các hồ nuôi, đặc biệt hơn đối với các hộ nuôi chắn sáo và lưới làm cho vấn đề  
ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Chính những điều này làm cho kết quả mang lại từ  
NTTS ngày càng thấp hơn, người dân càng nuôi thì càng lỗ, và dường như không còn  
ai mặn mà với công việc này như thời gian trước đây nữa.  
Quảng An là một xã bãi ngang nghèo, thuộc đối tượng vùng đặc biệt khó khăn  
của tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên đây lại có diện tích mặt nước khá rộng, đồng thời  
NTTS cũng là nghề truyền thống có từ rất lâu, chính điều này là cơ scho việc phát  
triển nghề NTTS tại địa phương. Cũng như tình hình chung, NTTS với đối tượng  
chính là tôm sú đã mang lại những kết quả tốt trong thời gian đầu nhưng sau đó vấn đề  
ô nhiễm môi trường nước làm cho hầu hết các hộ nuôi trồng đều phải lâm cảnh nợ nần.  
Thực hiện sự chỉ đạo của Chi cục NTTS tỉnh Thừa Thiên Huế cùng với sự hướng dẫn  
của Trung tâm khuyến nông huyện Quảng Điền về việc thay đổi cơ cấu, đối tượng  
nuôi. UBND mà cụ thể là cán bộ khuyến nông đã yêu cầu nông dân thực hiện thay  
nuôi chuyên tôm bằng việc áp dụng mô hình nuôi xen ghép với ba đối tượng nuôi  
chính là tôm, cá và cua. Đặc biệt hơn, trên địa bàn xã đã tiến hành thực hiện dự án thí  
điểm về nuôi trồng thủy sản với công nghệ mới. Với việc ứng dụng chế phẩm sinh học  
chiết xuất từ bã trầu, dự án bước đầu đã thu được những tín hiệu rất đáng mừng. Xuất  
phát từ thực tiễn vấn đề tạịa phương tôi đề xuất đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế  
hoạt động nuôi trồng thủy sản của nông hộ trên địa bàn xã Quảng An” làm khóa luận  
tốt nghiệp của mình.  
c đích nghiên cứu của đề tài:  
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động nuôi trồng thủy sản của nông hộ trên địa bàn xã  
Quảng An.  
-Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động nuôi trồng thủy sản tại địa phương; so  
sánh hiệu quả giữa hình thức nuôi bán thâm canh có sử dụng chế phẩm với các hình  
thức nuôi khác.  
2
- Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả của hoạt động nuôi  
trồng thủy sản.  
- Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt  
động nuôi trồng thủy sản.  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:  
Hoạt động nuôi trồng thủy sản của các nông hộ ở xã Quảng An, huyện Quảng  
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế  
Phạm vi nghiên cứu:  
- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu sự biến động của hoạt động nuôi  
trồng thủy sản trở địa phương giai đoạn 2008 - 2010, trng đó tập trung chủ yếu vào  
năm 2010.  
- Về không gian: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ở địa bàn xã Quảng An, huyện  
Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Giới hạn của đề tài: do khó khăn về thời gian cũng như tình hình thực tiễn  
tại địa phương, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu vào mô hình xen ghép tôm - cá  
- cua ở điều kiện nước lợ.  
Phương pháp nghiên cứu:  
- Phương pháp thu thập số liệu  
+ liệsơ cấp: được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 75 hộ trên địa  
bàn xã Qg An.  
+ Số liệu thứ cấp: được thu thập qua Chi cục NTTS tỉnh Thừa Thiên Huế,  
phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Quảng Điền, UBND xã các báo cáo,  
tài liệu, thông tin thu thập trên các trang Web liên quan.  
- Phương pháp phân tích số liệu  
+ Phương pháp phân tích tài liệu: dựa trên cơ sở các số liệu được tổng hợp, vận  
dụng các phương pháp phân tích thống kê, so sánh để đánh giá thực trạng và đề xuất  
giải pháp nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra.  
3
+ Phương pháp phân tổ thống kê: Phân ra các nhóm để tính toán sự ảnh hưởng  
của một số nhân tố như: quy mô đất đai, chi phí trung gian, chi phí thức ăn,… đến kết  
quả và hiệu quả kinh tế và so sánh giữa các nhóm trong cùng một nhân tố đó.  
+ Phương pháp chuyên gia chuyên khảo: Để làm sáng tỏ những vấn đề lí luận  
cũng như các vấn đề kinh tế, kỹ thuật phức tạp, trong quá trình thực hiện đề tài tôi sử  
dụng phương pháp thu thập thông tin từ các chuyên gia, chuyên viên, các nhà quản lý,  
cán bộ khuyến nông của huyện, từ đó đề xuất giải pháp có tính khả thi cao phù hợp với  
thực tế địa phương.  
- Một số phương pháp phân tích khác.  
4
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
CHƯƠNG I  
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. Cơ sở lý luận  
1.1.1. Lý luận về hiệu quả kinh tế  
1.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế  
Trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế là mục tiêu, là cái đích mà ai  
cũng muốn đạt tới. Đứng ở mỗi góc độ khác nhau thì cách nhìn nhận về hiệu quả  
kinh tế cũng khác nhau. Ta có thể hiểu rằng: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh  
tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiu sâu, phản ánh trình độ khai  
thác nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm  
đạt những mục tiêu đã đề ra.  
Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Khi đề cập đến hiệu quả  
các tác giả Farrell (1950), Schuhz (1964), Rizzo (1979), Đỗ Kim Chung (1997), Phạm  
Vân Đình, (1997) đều thống nhất cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản là hiệu quả kỹ  
thuật, hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Đó là khả năng thu được kết  
quả sản xuất tối đa với vsử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỉ lệ nhất định.  
Theo Farrell chỉ đạt được HQKT khi và chỉ khi đạt được hiệu quả kỹ thuật và cả hiệu  
quả phân bổ (David Colman, 1994).  
u quả kỹ thuật (Technical Efficiency: TE) là số sản phẩm có thể đạt được  
trên một đn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều  
kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp. Hiệu quả kỹ  
thuật phản ánh trình độ, khả năng chuyên môn, tay nghề trong việc sử dụng các yếu tố đầu  
vào để sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất. Nó  
chỉ ra một nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm.  
Hiệu quả phân bổ (Allocative Efficiency: AE) là chỉ tiêu hiệu quả trong  
các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu  
5
thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu. Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng kết hợp  
các yếu tố đầu vào một cách hợp lý để tối thiểu hóa chi phí với một lượng đầu ra nhất  
định nhằm đạt được lợi nhuận tối đa. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ  
thuật có tính đến giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra nên hiệu quả phân bổ còn được  
gọi là hiệu quả về giá.  
Theo hình 1, các chỉ số hiệu quả của Farrell được đo lường như sau:  
Nếu các điểm P ,Q, Q’ biểu thị các nông trại đang sản xuất ra 1 đơn vị sản  
phẩm, thì các nông trại Q, Q’ có hiệu quả kỹ thuật =1 vì nằm trên đường đồng mức  
SS’, còn hiệu quả kỹ thuật của nông trại P: x2/y  
TE = 0Q/0P (0≤TE≤1)  
S
P
A
Q
Với đường đồng giá AA’ ta có thể tính  
được hiệu quả phân bổ tại điểm P:  
AE = 0R/0Q (0≤AE≤1)  
R
Q’  
S’  
Như vậy, hiệu quả kinh tế tại điểm P:  
EE = TE x AE  
O
A’ x1/y  
Hình 1: Các chỉ số hiệu quả của Farrell  
= 0Q/0P x 0R/0
= 0R/0Q (0≤EE≤1)  
Q’ là điểm đạt ệu quả kinh tế  
ệu quả kinh tế không chỉ đề cập đến kinh tế tài chính mà còn gắn với hiệu  
quả xã hội và môi trường. Mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh là “sinh lời -  
lợi nhuận” (Lê Trọng, 1995). Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế mới chuyển từ cơ  
chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì  
không nên đơn giản hoá coi lợi nhuận như là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá HQKT.  
Các nhà khoa học kinh tế đều thống nhất quan điểm đánh giá HQKT phải dựa trên cả  
ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường.  
6
Hiệu quả kinh tế xã hội là tương quan giữa chi phí mà xã hội bỏ ra với kết quả  
mà xã hội thu được như tăng thêm việc làm, cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, thu  
hẹp khoảng cách giàu nghèo, ổn định xã hội. Phát triển kinh tế và phát triển xã hội có  
mối quan hệ mật thiết với nhau, mục tiêu phát triển kinh tế tạo tiền đề để phát triển xã  
hội và ngược lại.  
Quan niệm về hiệu quả kinh tế NTTS cũng giống như quan niệm về hiệu quả  
kinh tế đã đề cập ở trên. Hiệu quả kinh tế NTTS là tương quan so sánh giữa các yếu tố  
nguồn lực và chi phí đầu vào với kết quả đầu ra trong hoạt động sản uôi trồng thủy  
sản. Quá trình nuôi trồng thủy sản là một quá trình hoạt động kinh doanh, lấy hiệu quả  
kinh tế làm cơ sở để phát triển.  
1.1.1.2. Bản chất của hiệu quả kinh tế  
Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết  
kiệm chi phí xã hội. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt kết quả sản  
xuất ở mức tối đa với chi phí đầu vào nhất định hoặc là, đạt được một kết quả nhất  
định với chi phí là tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, nó bao gồm cả  
chi phí đầu tư nguồn lực và chi phí cơ hội của việc đầu tư, sử dụng nguồn lực.  
Bởi vậy, phân tích hiệu quả của các phương án cần xác định rõ các chiến lược  
phát triển, cũng như mục u của mỗi chủ thể trong từng giai đoạn phát triển. Tuy  
nhiên trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì mục tiêu bao trùm tổng quát nhất là lợi  
nhuận. Cho tới nay, các tác giả đều nhất trí dùng lợi nhuận làm mục tiêu chuẩn cơ  
bản để tích hiệu quả kinh doanh. Nâng cao hiệu quả kinh tế là nhiệm vụ cuối  
cùng của ọi nổ lực sản xuất kinh doanh. Có nâng cao được hiệu quả kinh tế thì chủ  
thể kinh doanh mới có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường. Nâng cao hiệu  
quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh  
tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung. Để đạt được mục tiêu đó, cần tận dụng và  
tiết kiệm những nguồn lực hiện có, thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ, đẩy nhanh  
công nghiệp hoá hiện đại hoá, tuy nhiên cần bảo vệ và gìn giữ những giá trị tinh thần  
truyền thống để đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người.  
7
1.1.1.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả kinh tế  
Nuôi trồng thủy sản cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, hiệu  
quả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu làm cơ sở cho các quyết định đầu tư, phát triển của  
doanh nghiệp và xã hội. Việc đánh giá hiệu quả kinh tế rất có ý nghĩa.Nó giúp cho  
người dân nhận biết được thực trạng quá trình sản xuất nhằm tìm giải pháp thiết thực  
để đạt và duy trì hiệu quả kinh tế cao.  
Nhóm chỉ tiêu đánh giá chi phí sản xuất  
Để đánh giá khả năng và mức độ đầu tư các yếu tố đầu vào của NTTS chúng ta  
sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:  
Chi phí ao hồ, công trình xây dựng cơ bản bình quân trên một đơn vị diện  
tích bao gồm các hạng mục: đê, kè, đập, cống, nhà kho,…và các loại tài sản cố định  
phục vụ công tác NTTS như: phương tiện vận chuyển, máy bơm nước, máy sục khí,  
máy đào,…Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng độ kiên cố và trình độ thâm canh của ao  
nuôi. Đây là phần chi phí cố định ban đầu chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí  
NTTS và được thu lại dưới dạng giá trị khấu hao TSCĐ theo quy định chung hay theo  
ngành chủ quản quy định.  
De = (Gb+ S –Gt)/T  
De: Giá trị khấu hao TSCĐ  
Gb: Giá trị ban đầu của TSCĐ  
phí sửa chữa lớn TSCĐ  
Gt: Giá trị còn lại của TSCĐ  
T: Thời gian sử dụng TSCĐ  
Chi phí ngư y, chi phí xử lý, cải tạo ao nuôi trên một đơn vị diện tích. Chỉ  
tiêu này phản ánh chất lượng giá trị vật tư, dịch vụ đầu tư cho việc xử lý, cải tạo ao hồ,  
tạo môi trường thuận lợi và diệt trừ hại cho ao nuôi tôm.  
8
Chi phí về giống trên một đơn vị diện tích: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu  
tư về con giống trong sản xuất. Đây là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định  
đến kết quả và hiệu quả của hoạt động nuôi trồng.  
Chi phí lao động trên một đơn vị diện tích: Chỉ tiêu này phản ánh mức đầu tư  
lao động sống phục vụ cho NTTS.  
Chi phí thức ăn trên một đơn vị diện tích: Phản ánh giá trị thức ăn đã đầu tư  
trên một đơn vị diện tích, không tính lượng thức ăn có trong tự nhiên.  
Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ mà hộ nuôi  
phải trả bằng tiền  
Tổng chi phí trên một đơn vị diện tích (TC): Gồm hao phí vật tư, dịch vụ và  
hao phí lao động sống đã sử dụng trong quá trình sản xuất.  
Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất  
Diện tích nuôi trồng thủy sản: Là toàn bộ diện tích mặt nước được hộ nuôi sử  
dụng vào nuôi tôm, thường được tính theo vụ trong năm hoặc cả năm. Đây là chỉ tiêu  
phản ánh năng lực sản xuất của hộ nuôi và cũng là căn cứ quan trọng để tính các chỉ  
tiêu khác.  
Sản lượng thủy sản (Q): Là toàn bộ sản phẩm thu được mà hộ nuôi được tạo  
ra trong một kỳ nhất định (ường là một vụ hay một năm).  
Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm thủy sản của hộ nuôi được  
tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một vụ hay một năm).  
GO = ∑Qi * Pi (i = 1,2.....,n)  
Qlượng sản phẩm loại i  
Pi : giá bán sản phẩm loại i  
Giá trị gia tăng (VA): là toàn bộ kết quả cuối cùng của hoạt động NTTS của  
hộ nuôi trong một kỳ nhất định (thường là một vụ hay một năm). Đây là chỉ tiêu phản  
ánh đúng đắn và toàn diện nhất kết quả sản xuất kinh doanh của hộ nuôi, là cơ sở để  
thực hiện tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống người nuôi.  
VA = GO – IC  
9
Thu nhập hỗn hợp (MI): MI = VA - De – lãi vay- thuế, phí, lệ phí  
De: Giá trị khấu hao TSCĐ  
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế  
Năng suất (N): N = Q/S  
Trong đó: N là năng suất; Q là sản lượng; S là diện tích.  
Chỉ tiêu này cho biết sản lượng thu được trên một đơn vị diện tích  
Tổng giá trị sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC): Phản nh một đơn vị  
chi phí trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đơn vị giá trị sản xuất trong một thời kỳ  
nhất định.  
Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): Cho biết một đồng chi phí  
trung gian bỏ ra thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích.  
Thu nhập hỗn hợp trên một đơn vị diện tích (MI/IC): Cho biết một đồng chi  
phí trung gian bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp cho các hộ nuôi.  
1.1.2. Đặc điểm kỹ thuật nuôi trồng thủy sản  
Việc nắm vững đặc điểm của các loài động vật thủy sản là vấn đề quan trọng  
trong NTTS vì chúng là những cơ thể sống có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng.  
Quá trình sinh trưởng và t triển đó lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, mà  
mỗi vùng lại có những điều kiện tự nhiên khác nhau. Chính những điều này nên những  
quy định của hoạt động nuôi trồng thủy sản tương đối phức tạp hơn so với các hoạt  
động sản xuất vt chất khác. Hoạt động nuôi xen ghép cũng là một trong những mãng  
thuộc Do đó, muốn nghiên cứu về hoạt động nuôi xen ghép thì trước tiên ta  
phải tìm hiểu các đặc điểm của nó, cụ thể:  
- Giống là khâu then chốt, quyết định thành bại của hình thức nuôi này:  
Từ thực tế sản xuất, cơ cấu nuôi xen ghép được xác định là 3 đối tượng chủ lực  
bao gồm: tôm sú - cá kình - cua. Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương có  
thể xen thêm các đối tượng khác như: cá dìa, cá nâu, cá đối, cá rô phi, rong câu, tôm  
đất ...  
10  
Khi thả nuôi cá kình, cần chú ý: để tránh gây sốc cho cá kình, cần thuần hóa  
(bằng cách hạ độ mặn) trước khi thả nuôi ở vùng có độ mặn thấp. Đồng thời, ta cần  
phải nghiên cứu các đặc điểm sinh học của cá kình, mùa vụ xuất hiện giống, làm cơ sở  
cho công tác chuyển đổi.  
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi:  
Trước đây, chỉ nuôi tôm sú năng suất từ 2 - 3 tấn/ha thì yêu cầu kỹ thuật đặt ra  
khá chặt chẽ và chi phí cho việc xử lý ao hồ cũng không dưới 10 triệu đồng/ha. Ngày  
nay, khi mọi việc đã thay đổi, người dân có xu hướng thả thưa và nuôi hỗn hợp nhiều  
đối tượng thì việc áp dụng quy trình kỹ thuật cần điều chỉnh để sát với tình hình thực  
tế:  
+ Đối với những ao hồ quá sâu, không có khả năng phơi đáy và khi bơm tát có  
thể làm vỡ đê, giải pháp tốt nhất là dùng sáo để thấy (bắt) hoặc lưới kéo bớt cá tạp rồi  
thả thẳng tôm sú 45 ngày tuổi, cá kình, cua với mật độ thưa.  
+ Đối với những ao hồ có diện tích lớn (từ 2 ha trở lên) không có kinh phí để xử  
lý ao hồ thì nên áp dụng hình thức nuôi QCCT bằng cách: xử lý 1/3 diện tích ao, ương  
tôm P15 đủ nhu cầu của gia đình. Sau 45 ngày bung tôm ra phần diện tích còn lại với  
mật độ 2 con tôm/m2 + 0,5 con cá kình/m2 + 30 kg cua giống/ha.  
+ Với những ao hồ khả năng xử lý, cần tuân thủ nguyên tắc hạn chế tối đa  
đầu vào không cần thiết, chú trọng nhiều đến việc dùng vôi và đúc rút kinh nghiệm của  
gia đình và địa phương để lựa chọn cách nuôi phù hợp với tài chính và quản lý của gia  
đình.  
1.1.3. Tổng quan về chế phẩm sinh học  
Chức năng của vi sinh vật hữu hiệu  
+ Cố định đạm trên không khí  
+ Mùn hóa các chất bã và chất thải hữu cơ  
+ Ngăn ngừa các bệnh sinh ra từ đất  
11  
+ Sử dụng lại và tăng cường khả năng dinh dưỡng của cây trồng  
+ Sản xuất ra các chất kháng sinh và các nguyên tố hoạt động sinh học khác  
+ Sản xuất ra các phân tử hữu cơ đơn giản để cây trồng hấp thụ  
Chức năng của vi sinh vật có hại  
+ Tạo ra các bệnh của cây trồng  
+ Kích thích các bệnh sinh ra từ đất  
+ Không huy động được các chất dinh dưỡng cho cây trồng  
+ Kìm hãm sự nảy mầm của giống  
+ Kìm hãm sự lớn lên của cây trồng và sự tăng trởng của chúng  
+ Sản xuất ra những thành phần có hại  
Phân loại chế phẩm sinh học  
- EM1:  
+ Là dung dịch gốc chứa 5 loại vi sinh vật: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic,  
nấm men, xạ khuẩn, nấm sợi, các vi sinh vật ở dạng ngủ, không phát triển.  
+ Dung dịch có màu nâu, mùi thơm, có mùi chua ngọt.  
+ Độ pH < 3.5  
+ qun nơi nhiệt độ ổn định, tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp dọi vào. Thời  
gian bảo n là 6 tháng kể từ ngày sản xuất.  
- EM THỨ CẤP:  
+ Là chế phẩm lên men sinh khối từ EM1, các vi sinh vật được đánh thức, phát  
triển, nhờ cung cấp thức ăn là rỉ đường và môi trường thích hợp là nước sạch. Số  
lượng vi sinh vật tăng nhiều.  
+ Dung dịch có màu nâu, mùi thơm, vị chua ngọt.  
12  
+ Độ pH < 4.0  
+ Bảo quản nơi nhiệt độ ổn định, tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp dọi vào. Thời  
gian bảo quản là một tháng kể từ ngày lên men xong.  
- EM5 :  
+ Là dung dịch được lên men từ pha chế các nguyên liệu gồm EM1, rỉ đường,  
rượu 40 độ, dấm ăn, nước sạch.  
+ Độ pH < 4.0  
+ Mùi thơm, vị chua ngọt.  
+ Là chế phẩm được sử dụng với mục đích chính bảo vệ thực vật.  
1.1.4. Một số hình thức nuôi trồng thủy sản  
Việc lựa chọn hình thức NTTS có những ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả  
và hiệu quả NTTS. Những hộ khác nhau có điều kiện tài chính khác nhau, sống  
trong những vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau và họ sẽ tự lựa  
chọn cho mình những hình thức NTTS phù hợp. Hiện nay, ở nước ta có 5 hình  
thức nuôi sau đây:  
- Quảng canh: là hình thức nuôi bằng nguồn thức ăn tự nhiên trong các ao, hồ,  
đầm ở nông thôn và các vùng ven biển với diện tích nuôi từ 2 đến vài chục ha, cải tạo  
ao và đầu tư cơ sở hạ tầng hầu như không có và năng suất chỉ đạt từ 0,03 đến 0,3  
tấn/ha.  
ng canh cải tiến: là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống và thức ăn tự  
nhiên nhưg có bổ sung giống nhân tạo ở một mức độ nhất định (1 - 4 con/m2) đồng  
thời có đầu tư cải tạo thủy vực, diện tích nuôi từ 1 đến 10 ha, năng suất đạt từ 0,3 đến  
0,8 tấn/ha.  
- Bán thâm canh: Là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống và thức ăn nhân tạo  
nhưng kết hợp với nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực. Ngoài ra, hệ thống ao hồ  
được đầu tư cơ sở hạ tầng, chủ động nguồn nước cung cấp, diện tích nuôi từ 0,5 đến 5  
ha và năng suất đạt được từ 1 đến 3 tấn/ha.  
13  
- Thâm canh: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân tạo,  
mật độ thả giống dày (25 - 60 con/m2), năng suất cao (>=3 tấn/ha), được đầu tư cơ sở  
hạ tầng đầy đủ và diện tích nuôi ít, chỉ từ 0,5 đến 2 ha.  
- Siêu thâm canh: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân  
tạo với mật độ rất cao, đồng thời sử dụng các máy móc và thiết bị nhằm tạo cho vật  
nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện sống tối ưu, sinh trưởng tốt nhất, không  
phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, đạt các mục tiêu sản xuất và lợi nhuận trong thời  
gian ngắn nhất, năng suất đạt được từ 10 tấn/ha trở lên.  
14  
1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu  
1.2.1. Thực tiễn phát triển sản xuất ngành thủy sản của Việt Nam  
Việt nam là đất nước có bờ biển dài trên 3000 km và nhiều hệ thống sông suối  
ao hồ dày đặt. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy, Việt Nam có tiềm năng lớn về  
phát triển NTTS với những loài có giá trị kinh tế cao như: Cá basa, cá chẽm, cá  
song..tôm sú, tôm thẻ, tôm hùm, tôm càng xanh…Vì thế trong những năm qua Đảng  
và nhà nước ta luôn quan tâm khuyến khích thế mạnh này nhằm tạo nguồn đầu vào  
cho các ngành công nghiệp chế biến thủy sản để xuất khẩu, mang lại nguồn thu ngoại  
tệ lớn cho đất nước, nâng cao đời sống cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.  
Hiện nay vấn đề nâng cao hiệu quả NTTS là điều được người dân sản xuất rất quan  
tâm, trong đó vấn đề lựa chọn đối tượng nuôi mang lại iệu quả kinh tế cao luôn được  
đặt lên hàng đầu.  
Năm 2010, diện tích NTTS cả nước là 1.096.722 ha (đạt 109,68% so với chỉ  
tiêu). Sản lượng NTTS là 2.828.622 tấn, đạt 141,4% so với kế hoạch. Về sản xuất  
giống, cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu nuôi thương phẩm, đặc biệt là giống các đối  
tượng nuôi chủ lực. Ví dụ, giống tôm nước lợ đạt 45 tỷ con, bằng 128,6% so với kế  
hoạch, giống cá tra là 2,36 tỷ con, bằng 337,25% so với kế hoạch, giống của một số  
loài thủy sản kinh tế và gicá nước ngọt truyền thống là 27, 5 tỷ con, bằng 229,2%  
so với kế hoạch. Kim ngạch xuất khẩu từ NTTS đạt 3,5 tỷ USD, bằng 125% so với kế  
hoạch. Phát triển nuôi trồng thủy sản đã giải quyết được 3,5 triệu việc làm cho người  
lao độngng 75% chỉ tiêu đề ra. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng vùng NTTS, vùng sản xuất  
giống tập ng từng bước được đầu tư hoàn thiện. Hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS  
được cải thiện. Hệ thống các trung tâm quốc gia giống thủy sản, trung tâm giống thủy  
sản cấp I, trung tâm giống thủy sản các tỉnh, các khu vực sản xuất giống thủy sản tập  
trung được hình thành và đưa vào sử dụng có hiệu quả.  
Tại Hội nghị tổng kết Chương trình Phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) giai  
đoạn 1999 - 2010 và kế hoạch phát triển đến năm 2020 (ngày 1/4/2011, tại Cát Bà, Hải  
Phòng) các đại biểu đều đánh giá chương trình triển khai trong 10 năm qua đã tạo  
15  
được sự thay đổi rõ nét về tư duy trong phát triển NTTS theo hướng sản xuất hàng hoá  
lớn. Khoa học công nghệ thủy sản đã có nhiều tiến bộ, đóng vai trò quan trọng vào sự  
thành công của Chương trình. Nhiều chính sách đã được ban hành góp phần thúc đẩy  
NTTS phát triển. Bên cạnh những kết quả đạt được, nhiều ý kiến phát biểu đã nêu  
những hạn chế trong quá trình triển khai. Phát triển nuôi biển còn lúng túng trong triển  
khai dẫn đến không đạt chỉ tiêu đề ra. Mức đầu tư cho Chương tình thấp, lại dàn trải  
nên hiệu quả đầu tư không cao. Hệ thống quản lý phát triển NTTS chưa được hoàn  
chỉnh và ổn định từ trung ương đến địa phương. Công tác kiểm tra, kiểm soát chất  
lượng giống và thức ăn còn nhiều bất cập.  
Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Vũ Văn Tám khẳng định, Chương trình 224 đã  
tạo ra bước đột phá, chuyển biến về chất đối với NTTS, là thành tựu đáng tự hào của  
ngành thủy sản Việt Nam. Sản lượng NTTS đã chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản  
lượng thủy sản. Các chỉ tiêu chủ yếu đặt ra đều đạt và vượt. Khoa học công nghệ đã  
đạt nhiều tiến bộ, làm chủ được các yếu tố công nghệ phục vụ NTTS. Nhiều kết quả  
nghiên cứu đã được áp dụng, đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao.  
Nhiều cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời góp phần thúc đẩy NTTS phát triển  
mạnh trong thời gian qua, tạo được nhiều mô hình tổ chức sản xuất, đặc biệt là quản lý  
theo chuỗi sản phẩm. Phát triển NTTS đã tạo động lực cho các lĩnh vực khác phát triển  
như chế biến, xuất khẩu và h vụ NTTS theo hướng xã hội hoá.  
Bên cạnh những thành tựu đạt được, Thứ trưởng Vũ Văn Tám đã nhấn mạnh  
những hạn chế cần khắc phục. Trong thời gian qua, nuôi biển phát triển còn chậm,  
chưa py lợi thế và chưa tương xứng với tiềm năng về mặt nước biển hiện có.  
Hiệu quả của các dự án đầu tư chưa cao như các mô hình nuôi tôm công nghiệp. Nhiều  
đối tượng nuôi đã được thử nghiệm nhưng chưa tạo được khối lượng hàng hóa lớn và  
bền vững. Về tiêu thụ, nhiều đối tượng nuôi chưa tìm được thị trường ổn định, trong  
khi suất đầu tư lớn và nhiều rủi ro. Quá trình phát triển NTTS cũng bộc lộ nhiều yếu tố  
thiếu bền vững như công tác quy hoạch không theo kịp yêu cầu phát triển nuôi trồng  
thuỷ sản; Đầu tư cho NTTS đã được chú trọng hơn nhưng còn dàn trải và chiếm tỷ  
trọng rất thấp trong cơ cấu đầu tư chung của Nhà nước; Nhiều chương trình chưa đạt  
16  
được mục tiêu đề ra do không có nguồn kinh phí; Môi trường tại các vùng nuôi chưa  
được quan tâm đầu tư đúng mức, do đó cũng hạn chế kết quả thực hiện Chương trình.  
Bên cạnh đó, phát triển NTTS chưa thể hiện rõ sự gắn kết giữa công tác nghiên cứu  
khoa học và công nghệ với thực tiễn NTTS và chưa đáp ứng nhu cầu của người nuôi ở  
các lĩnh vực cơ bản như con giống, công nghệ nuôi, quản lý môi trường và dịch bệnh.  
Những bài học kinh nghiệm rút ra từ kết quả thực hiện Chương trình trong giai  
đoạn 2000 - 2010 có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở để thực hiện thành công Chiến  
lược phát triển thủy sản và Đề án phát triển NTTS đến năm 2020, đưa thủy sản nói  
chung và NTTS nói riêng phát triển theo hướng bền vững và hiệu quả, góp phần tích  
cực vào việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng và chủ  
quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.  
1.2.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế  
Thừa thiên Huế có đường bờ biển dài 126 km và hệ đầm phá Tam Giang - Cầu  
Hai kéo dài từ cửa sông Ô Lâu đến chân núi Vĩnh Long, là một tỉnh miền trung có hệ  
đầm phá lớn nhất cả nước. Đây là tềm năng vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban  
tặng cho địa phương để phát triển kinh tế. Ở đây không chỉ phát triển trong lĩnh vực  
nuôi trồng thủy sản mà còn có tiềm năng lớn về du lịch và một số lĩnh vực quan trọng  
khác. Nhờ những ưu thế trong những năm qua tỉnh Thừa Thiên Huế đã không  
ngừng đẩy mạnh phát triển ngành thủy sản, mỗi năm đóng góp nguồn thu lớn cho ngân  
sách của tỉnh. Hiện nay, các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: cá, tôm, cua,  
ốc...đã đưvào nuôi trồng có hiệu quả. Trong đó, nhiều loại cá có giá trị dinh  
dưỡng caược nuôi ở môi trường nước lợ là cá dìa, cá chẽm, cá kình... Các loại thủy  
sản này không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà nó là công cụ hữu hiệu trong công  
cuộc xóa đói giảm nghèo đối với các địa phương trong tỉnh.  
17  
Bảng 1: Tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2008 - 2010  
2008  
CC (%)  
2009  
CC (%)  
2010  
CC (%)  
So sánh (%)  
Chỉ tiêu  
1. Diện tích  
ĐVT  
SL  
SL  
SL  
09/08  
2,79  
10/09  
Ha  
Ha  
5.551  
1.802  
3.749  
2.092  
2.820  
9.895  
4.236  
100  
32,46  
67,54  
37,69  
-
5.706  
1.882  
3.824  
1.610  
2.299  
10.916  
4.542  
100  
32,99  
67,01  
28,21  
-
5.449  
1.836  
3.614  
1.611  
3.958  
11.554  
4.504  
100  
33,68  
66,32  
51,68  
-
-4,60  
-2,47  
-6,49  
0,09  
- Diện tích nuôi nước ngọt  
- Diện tích nuôi nước lợ, mặn  
Trong đó: Nuôi tôm các loại  
- Nuôi cá lồng  
4,45  
Ha  
2,00  
Ha  
-23,05  
-18,44  
10,31  
7,22  
Lồng  
Tấn  
Tấn  
72,09  
5,85  
2. Sản lượng  
100  
100  
100  
- Thủy sản nước ngọt  
42,8  
41,61  
38,98  
-0,85  
- Thủy sản nước lợ  
Tấn  
Tấn  
5.659  
4.63  
57,2  
6.374  
3.486  
58,39  
31,93  
7.051  
5.212  
61,02  
45,11  
12,63  
10,61  
49,51  
Trong đó:Tôm các loại  
46,79  
-24,72  
(Nồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế 2010)  
18  
Quan sát bảng 1 ta nhận thấy rằng, diện tích được đem vào thả nuôi của tỉnh  
năm 2009 tăng so với năm 2008, tăng từ 5.551 ha lên đến 5.706 ha tương ứng với  
1,89%. Thế nhưng đến năm 2010, mặc dù kế hoạch của tỉnh dự kiến đem vào thả nuôi  
5.800 ha thì mức thả lại thấp hơn dự kiến rất nhiều chỉ đạt 93,95% so với kế hoạch và  
so với năm 2009 thì diện tích thả nuôi giảm đi 4,60. Đầu tiên ta thấy rằng, diện tích  
nuôi thủy sản nước ngọt có xu hướng tăng dần qua ba năm, hàng năm diện tích nuôi  
được đưa vào nuôi trồng tăng đáng kể đồng thời tỷ lệ trong cơ cấu diện tích nuôi cũng  
tăng lên. Thứ hai, đối với diện tích nuôi nước mặn, đây là phần chiếm một tỷ trọng lớn  
trong tổng cơ cấu diện tích nuôi trồng thủy sản qua ba năm. Nếu như có sự gia tăng về  
diện tích nuôi trồng thủy sản từ năm 2008 đến năm 2009 từ 3.749 ha lên đến 3.824 ha  
thì sau đó diện tích thả nuôi lại giảm mạnh vào năm 2010, cụ thể giảm so với năm  
2009 là 2,46%. Theo kết quả từ một số nghiên cứu, nguyên nhân một phần do ảnh  
hưởng từ điều kiện khí hậu, nhưng sâu xa hơn đó là sự thất bại từ các hoạt động nuôi  
trồng thủy sản nước lợ. Chính điều này làm cho diện tích thả nuôi giảm, người dân thì  
tìm giải pháp và nghề mới, trong đó nuôi cá lồng là sự lựa chọn của người dân vào lúc  
này. Qua bảng số liệu cũng cho thấy, quy mô cá lồng liên tục tăng qua các năm, nếu  
như năm 2008 là 2.820 lồng thì năm 2010 số lồng được đưa thả nuôi là 3.958 lồng.  
Về mặt sản lượng, kết quả thu được từ hoạt động nuôi trồng nước ngọt cho thấy  
liên tục tăng, chứng tỏ việuôi trồng ở môi trường nước ngọt giảm được rủi ro và là  
hướng lựa chọn đúng đắn. Rất nhiều mô hình nuôi xen ghép ở điều kiện nước ngọt đã  
được ứng dụng thành công, tiêu biểu như mô hình lúa - cá ở địa bàn xã Thủy Phương  
huyện g Thủy, xã Vinh Thái, thị trấn Thuận An huyện Phú Vang. Một tín hiệu  
đáng mừnữa là, mặc dù quy mô thả nuôi có xu hướng giảm đi nhưng việc chuyển  
đổi mô hình nuôi thích hợp đã mang lại kết quả khả quan cho ngư dân ở tỉnh Thừa  
Thiên Huế, cụ thể mức sản lượng thu hoạch thủy sản nước lợ qua ba năm đều tăng  
khá, đây là kết quả từ sự chỉ đạo đúng đắn của các cơ quan, ban, ngành từ phía tỉnh  
cho đến địa phương. Kết quả cụ thể cho thấy mức tăng sản lượng thu hoạch về thủy  
sản nước lợ như sau, năm 2009 kết quả thu được cao hơn 715 tấn hay 12,65% so với  
19  
cùng kỳ năm 2008, năm 2010 cũng có kết quả đáng mừng cụ thể đã tăng 10,61% so  
với năm 2009.  
Nói tóm lại, NTTS tỉnh Thừa Thiên Huế mặc dầu có những khó khăn nhưng nó  
cũng đã dần được tháo gỡ, bằng chứng là hoạt động này đã bắt đầu năng động trở lại  
và chúng ta có quyền hy vọng về những kết quả tốt đẹp hơn trong thời gian tới.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 96 trang yennguyen 25200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động nuôi trồng thủy sản của nông hộ trên địa bàn xã Quảng An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_hoat_dong_nuoi_trong_thu.pdf