Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ nhũ tương sữa dừa đóng lon

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH  
ỔN ĐỊNH CỦA HỆ NHŨ TƯƠNG SỮA DỪA ĐÓNG LON  
Phạm Thị Hồng Thư1, Nguyễn Trường Giang2, Kha Chấn Tuyền3  
1 2 3Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 02/05/2019, Ngày duyệt đăng: 07/09/2019  
Tóm tắt  
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định chế độ đồng hóa, nồng độ hỗn hợp chất nhũ  
hóa sucrose ester và chất ổn định CMC và chế độ tiệt trùng đến tính ổn định của hệ nhũ  
tương sữa dừa. Sữa dừa được đồng hóa ở các tốc độ (0, 8000, 9000, 10000, 11000, 12000  
vòng/phút) và thời gian (1, 3, 5, 7 phút) khác nhau. Hệ nhũ tương sữa dừa được ổn định  
bằng sucrose ester (0; 0,05; 0,1; 0,15 và 0,2%) và CMC (0; 0,4; 0,6; 0,8 và 1%). Sữa dừa  
đóng lon được tính toán chế độ tiệt trùng và thẩm tra sao cho đạt được giá trị tiệt trùng  
thương mại. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ nhũ tương sữa dừa ổn định (độ tách pha,  
kích thước và phân bố hạt) khi đồng hóa ở tốc độ 10.000 vòng/phút trong thời gian 3 phút.  
Sử dụng chất ổn định CMC 1% kết hợp với chất nhũ hóa sucrose ester 0,15% giúp cải  
thiện đáng kể tính ổn định của hệ nhũ tương. Chế độ tiệt trùng 121oC trong 31 phút đã  
được tính toán và thẩm tra đảm bảo an toàn về mặt vi sinh và peroxít, sản phẩm sữa dừa  
đóng lon có độ trắng và giá trị cảm quan cao.  
Từ khóa: sucrose ester, CMC, tiệt trùng, hệ nhũ tương sữa dừa  
Effects of several factors on stability of canned coconut milk emulsion  
Abstract  
The research aimed to determine the most suitable conditions of homogenization, the  
concentration of emulsifier sucrose ester and stabilizer CMC, and sterilization conditions  
for high stability of coconut milk emulsion. The emulsion was homogenized at different  
high speeds (0, 8000, 9000, 10000, 11000 and 12000 rpm) and times (1, 3, 5 and 7  
minutes). Different concentrations of sucrose ester (0, 0.05, 0.1, 0.15 and 0.2%) and CMC  
(0, 0.4, 0.6, 0.8 and 1%) were studied to stabilize the emulsion. The sterilization  
conditions for canned coconut milk were also calculated in order to achieve the  
commercial sterility. The results indicated that the high stability of coconut milk in terms  
of separation index, particle size mean and particle distribution was obtained as  
homogenized at the speed of 10000 rpm for 3 minutes. The concentration of sucrose ester  
(0.15%) and CMC (1%) was found to be the most suitable for the emulsion stabilization.  
Sterilization at 121oC for 31 minutes was validated and confirmed for the high stability of  
canned coconut milk in terms of micro-organism and peroxide value. The resultant  
product had high whiteness index and sensorial characteristics.  
Keywords: sucrose ester, CMC, sterilization, coconut milk emulsion  
146  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
1. Đặt vấn đề  
giảm sức căng bề mặt và hạn chế sự kết  
hợp của các hạt béo do chuyển động va  
chạm. Ariyaprakai và cộng sự (2013), đã  
nghiên cứu so sánh hiệu quả ổn định hệ  
nhũ tương của sữa dừa bổ sung chất nhũ  
hóa Tween 60 và sucrose ester cho thấy  
sucrose ester có khả năng ổn định hệ nhũ  
tương sữa dừa tốt hơn so với Tween 60 ở  
các nhiệt độ khác nhau.  
Sữa dừa hay nước cốt dừa là hệ nhũ  
tương (dầu trong nước) tự nhiên được trích  
ly (bằng phương pháp ép) từ phần cơm dừa  
có hoặc không có thêm nước. Theo  
CODEX STAN 240 (2003), các sản phẩm  
dừa (ở dạng lỏng) được chia thành 4 loại:  
sữa dừa uống (hàm lượng béo 5%), sữa dừa  
(hàm lượng béo 10%), cốt dừa (hàm lượng  
béo 20%) và cốt dừa cô đặc (hàm lượng  
béo 30. Sữa dừa là thành phần nguyên liệu  
quan trọng trong các bữa ăn của người dân  
châu Á cũng như trên thế giới, bởi vì sữa  
dừa có hương vị đặc trưng, trong đó Trung  
Quốc là một thị trường lớn và tiềm năng,  
theo ước tính khoảng 25% sữa dừa được  
trên thế giới được tiêu thụ ở Trung Quốc  
(Tipvarakarnkoon và cộng sự, 2010).  
Hệ nhũ tương sữa dừa thường không  
ổn định, bị tách lớpsau 5 đến 10 giờ ở điều  
kiện môi trường, làm giảm đáng kể giá trị  
cảm quan nói riêng và chất lượng của sản  
phẩm nói chung. Nhiều yếu tố ảnh hưởng  
đến sự ổn định của hệ nhũ được nghiên  
cứu như hàm lượng chất béo, loại và lượng  
chất nhũ hoá, chất ổn định, áp suất và thời  
gian đồng nhất (Phungamngoen và cộng  
sự, 2004). Khi những hạt béo chuyển động  
va chạm và kết hợp lại với nhau thành  
những mảng có kích thước lớn, hoặc do sự  
mất ổn định về hàm lượng và chất lượng  
protein trong sữa dừa nên không đủ để ổn  
định các hạt chất béo (Tansakul và cộng  
sự, 2006). Theo Lê Văn Việt Mẫn (2011),  
đồng hóa là một phương pháp tối ưu để  
giải quyết ổn định các hạt chất béo, trong  
đó phương pháp đồng hóa tốc độ cao là  
đơn giản nhất và chi phí đầu tư thấp. Một  
số nghiên cứu gần đây về hệ nhũ tương  
dầu trong nước cho thấy đồng hóa kết hợp  
sử dụng chất ổn định và chất nhũ hóa giúp  
tăng tính ổn định của hệ nhũ tương do làm  
Sữa dừa có pH là 6,1 thuộc nhóm sản  
phẩm có độ axít thấp, theo quy định của  
FDA (Cơ quan thực phẩm và dược phẩm  
Mỹ) nhóm sản phẩm này cần được xử lý ở  
nhiệt độ lớn hơn 100oC (tiệt trùng), nhằm  
tiêu diệt cả bào tử của vi sinh vật, góp  
phần bảo quản sữa dừa trong thời gian dài.  
Phương pháp Ball là một trong những  
phương pháp tính toán chế độ tiệt trùng  
thực tế được sử dụng phổ biến, thông qua  
việc sử dụng các thông số của quá trình  
thâm nhập nhiệt nhằm xác định thời gian  
cần thiết để đạt được giá trị tiệt trùng F.  
Vì thế, mục tiêu của nghiên cứu là xác  
định nồng độ hỗn hợp chất nhũ hoá  
sucrose ester và chất ổn định CMC  
(Carboxy Methyl Cellulose), chế độ đồng  
hoá tốc độ cao và chế độ tiệt trùng đến tính  
ổn định của hệ nhũ tương sữa dừa đóng  
lon. Nhằm đáp ứng được yêu cầu thị  
trường trong nước và đặc biệt là xuất khẩu,  
quy trình công nghệ chế biến sản phẩm sữa  
dừa cần phải hoàn thiện, cụ thể là các  
thông số quan trọng trong quy trình sản  
xuất cần được nghiên cứu.  
2. Vật liệu và phương pháp  
2.1. Nguyên vật liệu  
Dừa khô được mua ở chợ Đầu mối  
Nông sản Thủ Đức, thành phố Hồ Chí  
Minh. Sucrose ester (DK Ester-F160) và  
CMC được cung cấp bởi công ty cổ phần  
Dai-ichi Kogyo Seiyaku, Nhật Bản. DK  
Ester-F160 sử dụng như chất nhũ hóa, có  
147  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
chỉ số HLB khoảng 15-16. Giá trị dinh  
dưỡng trong 100g sữa dừa thành phẩm sử  
dụng trong nghiên cứu này có hàm lượng  
carbohydrate, protein và chất béo lần lượt  
là 3,62, 1,73 và 17,8%.  
Các thiết bị chính sử dụng trong  
nghiên cứu bao gồm thiết bị đồng hóa tốc  
độ cao (IKA Works GmbH và Co. KG,  
Đức), máy ghép nắp lon (SCIM, Pháp), nồi  
tiệt trùng (Wisd Laboratory instruments,  
Đức) có gắn đầu đo nhiệt độ tâm sản  
phẩm, kính hiển vi (LW Scientific, Mỹ),  
máy đo màu (Minolta Chroma Meter CR –  
400, Nhật), máy đo kích thước và phân bố  
hạt Malvern Mastersizer 3000 (Anh).  
2.2. Chuẩn bị hệ nhũ tương và sữa  
dừa đóng lon  
Dừa sau khi thu mua về tiến hành lột  
vỏ, bổ đôi và tách lấy phần cơm dừa.Cơm  
dừa sau khi chần ở nhiệt độ 80oC trong 10  
phút, làm nguội, xay và ép lấy sữa dừa.  
Sau đó, tiến hành phối chế để sữa dừa  
thuđược có hàm lượng béo 17%, tiến hành  
bổ sung chất nhũ hóa sucrose ester, chất ổn  
định CMC. Hỗn hợp được đồng hóa ở tốc  
độ cao nhằm ổn định hệ nhũ tương. Sau  
khi đồng hóa, nhũ tương sữa dừa được rót  
nóng (70 – 80oC) vào lon 307 (83) với  
khối lượng mỗi lon là 165g. Tiếp đến, lon  
chứa sữa dừa được ghép mí. Sau cùng, sản  
phẩm được tiệt trùng và làm nguội.  
gian 0 phút (đối chứng), 1, 3, 5 và 7 phút.  
Mẫu sữa dừa sau khi đồng hóa và tiệt  
trùng, được theo dõi độ lắng (%) trong 7  
ngày, kích thước của hạt béo (d4,3) và quan  
sát hạt béo dưới kính hiển vi ở độ phóng đại  
400 lần (Tangsuphoom và Coupland, 2008).  
2.4. Ảnh hưởng của chất ổn định và  
chất nhũ hóa đến tính ổn định của hệ  
nhũ tương  
Thí nghiệm một yếu tố với 3 lần lặp  
lại được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Yếu  
tố thí nghiệm chất ổn định là nồng độ  
CMC (carboxyl methyl cellulose), với các  
mức 0; 0,4; 0,6; 0,8; và 1%. Chất nhũ hóa  
sucrose ester với các mức 0; 0,05; 0,1;  
0,15 và 0,2%.  
Mẫu sữa dừa sau khi đồng hoá và tiệt  
trùng, được theo dõi độ lắng (%) trong 7  
ngày, kích thước của hạt béo (d4,3) và quan  
sát hạt béo dưới kính hiển vi ở độ phóng đại  
400 lần (Tangsuphoom và Coupland, 2008).  
2.5. Ảnh hưởng của chế độ tiệt trùng  
đến chất lượng sản phẩm sữa dừa đóng hộp  
2.5.1. Tính toán giá trị tiệt trùng  
Tính toán chế độ tiệt trùng sản phẩm  
sữa dừa bằng phương pháp công thức Ball  
(Stoforos, 2010). Tính toán thời gian tiệt  
trùng cần thiết trên 2 mức nhiệt độ tiệt  
trùng phổ biến là 121oC và 116oC để đạt  
giá trị tiệt trùng Fo(5 phút). Theo dõi nhiệt  
độ ban đầu To(oC), thời gian nâng nhiệt tc  
(phút), nhiệt độ nồi tiệt trùng TR (oC), khác  
biệt giữa nhiệt độ tâm sản phẩm so với  
nhiệt độ nồi tiệt trùng (TR – T) được ghi  
nhận và tính toán ở các khoảng thời gian  
khác nhau. Cắm đầu đò nhiệt độ tâm vào  
lon sản phẩm sao cho cảm biến nhiệt nằm  
cách đáy 1/3 chiều cao lon (truyền nhiệt  
đối lưu) và tiến hành tiệt trùng. Theo dõi  
diễn tiến nhiệt độ nồi tiệt trùng và tâm sản  
phẩm sau mỗi 2 phút. Kiểm tra chế độ tiệt  
trùng vừa tính và so sánh Fthực tế tính được  
2.3. Ảnh hưởng của tốc độ và thời  
gian đồng hoá đến tính ổn định của hệ  
nhũ tương  
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn  
ngẫu nhiên một yếu tố (tốc độ đồng hóa)  
với 3 lần lặp lại. Tốc độ đồng hóa được  
khảo sát là 0 (đối chứng), 8.000, 9.000,  
10.000, 11.000 và 12.000 (vòng/phút).  
Sau khi xác định được tốc độ đồng hóa,  
thời gian đồng hóa được bố trí hoàn toàn  
ngẫu nhiên một yếu tố, với các mức thời  
148  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
với Fo= 5 phút (Phungamngoen và cộng  
sự, 2004). Nếu Fthực tế ≥ Fo thì chế độ tiệt  
trùng đạt.  
2.6. Phân tích các chỉ tiêu  
2.6.1. Hàm lượng chất béo  
Xác định hàm lượng béo trong nguyên  
liệu và sữa dừa đóng lon theo TCVN 6688-  
3: 2007 (ISO 8262-3:2005). Chỉ tiêu này  
được xác định nhằm chuẩn hoá hàm lượng  
béo trong thành phẩm sữa dừa đóng lon.  
2.6.2. Độ tách pha  
Độ tách pha (độ lắng) của các mẫu  
được xác định dựa trên sự khác biệt về tỷ  
trọng giữa các thành phần trong hệ nhũ  
tương, các thành phần có tỷ trọng thấp như  
chất béo có xu hướng phân tách thành lớp  
kem ở phía trên và lớp nước sữa có tỷ  
trọng lớn hơn ở phía dưới. Độ tách pha  
được xác định nhằm đánh giá tính ổn định  
của hệ nhũ tương sữa dừa.  
Theo dõi quá trình tách lớp của hệ nhũ  
bằng cách cho 20 ml sữa dừa vào ống  
nghiệm có nắp đậy và quan sát trong vòng  
7 ngày ở 30oC trong bể kiểm soát nhiệt. Độ  
tách pha được tính bằng độ tách pha (CI =  
100 * HS/HE). Trong đó, HE là tổng chiều  
cao của hệ nhũ và và HS là chiều cao của  
lớp nước sữa (Tangsuphoom và Coupland,  
2008).  
Sử dụng các thông số của quá trình  
thâm nhập nhiệt. Thiết kế quá trình xử lý  
nhiệt là việc xác định thời gian cần thiết  
để đạt được giá trị tiệt trùng nhất định Fo.  
Đánh giá quá trình xử lý nhiệt là việc xác  
định sự đạt được giá trị tiệt trùng (hiệu  
quả tiệt trùng) qua quá trình xử lý. Ball  
đưa ra công thức tính giá trị tiệt trùng cho  
các tình huống mới bằng cách sử dụng các  
giá trị f và j được lấy từ thí nghiệm thực tế  
của các sản phẩm khác nhau. Trong suốt  
thời gian nâng nhiệt tc, tốc độ tiêu diệt vi  
sinh vật luôn luôn thay đổi. Ball đề nghị  
thay thế điều này với một đường cong duy  
trì tại thời gian bắt đầu của thời gian nâng  
nhiệt là 58%. Nếu sử dụng thời gian xử lý  
Ball, phương trình đường cong xử lý nhiệt  
trở thành:  
log(TR – TB) = log[jh*(TR – To)] – tB/fh  
Đặt g = TR– TB là sự khác nhau giữa  
nhiệt độ tối đa của sản phẩm và nhiệt độ  
mội trường xử lý nhiệt thì phương trình (2):  
2.6.3. Kích thước và phân bố hạt  
log(g) = log[jh*(TR – To)] – tB/fh  
Vậy thời gian xử lý nhiệt Ball cần thiết:  
tB=fh*{log[jh*(TR-To)]-log(g)}  
Để đánh giá tính ổn định của hệ nhũ  
tương khi nghiên cứu hiệu quả của chất  
nhũ hoá và chất ổn định, kích thước và  
phân bố hạt của hệ nhũ tương sữa dừa  
được xác định bằng máy phân tán kích  
thước hạt lazer (Mastersizer 3000, Malvern  
Instruments Ltd., UK). Sữa dừa được cho  
vào phễu tiếp liệu tỷ lệ khoảng 15% và  
khuấy 1000 vòng/phút. Độ hấp thu hiệu  
quả là 0,01 và chỉ số khúc xạ của dầu dừa  
và nước lần lượt là 1,45 và 1,33.  
2.5.2. Đánh giá chế độ tiệt trùng  
So sánh 2 chế độ tiệt trùng ở 116oC và  
121oC dựa vào các chỉ tiêu nhằm xác định  
chế độ tiệt trùng phù hợp nhất với sản  
phẩm sữadừa đóng lon. Thí nghiệm được  
bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố với 3  
lần lặp lại. Yếu tố thí nghiệm là chế độ tiệt  
trùng. Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức:  
116oC và 121oC theo thời gian giữ nhiệt  
của nồi tiệt trùng được tính toán. Chỉ tiêu  
theo dõi là độ trắng, điểm cảm quan, chỉ số  
peroxít (PV) và chỉ tiêu vi sinh.  
Mẫu tán xạ dùng để tính kích thước  
hạt là dựa trên các giọt bởi các chỉ số khúc  
xạ tương đối 1,09 (Tangsuphoom và  
Coupland, 2008; Seo và cộng sự, 2018).  
149  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Kích thước hạt được báo cáo bằng đường  
kính trung bình thể tích, trọng lượng:  
Chỉ số PV được xác định nhằm đánh giá  
mức độ oxy hóa của sản phẩm sữa dừa  
đóng lon.  
4
 
 
푛푖푑 푖  
푛푖푑 푖  
d4,3 =  
3
2.6.8. Chỉ tiêu vi sinh vật  
Các chỉ tiêu vi sinh vật được tiến hành  
kiểm tra tại công ty trách nhiệm hữu hạn  
Eurofins Sắc ký Hải Đăng, thành phố Hồ  
Chí Minh. Các chỉ tiêu theo dõi và phương  
pháp kiểm tra tương ứng bao gồm tổng số  
vi sinh vật hiếu khí (ISO 4833-1: 2013),  
tổng số vi sinh vật kỵ khí (ISO 1523:  
2003) và tổng số vi sinh vật kỵ khí sinh  
H2S (ISO 15213: 2003). Chỉ tiêu vi sinh  
được đánh giá nhằm xác định hiệu quả vi  
sinh của thành phẩm sữa dừa đóng lon.  
2.7. Phân tích thống kê  
Tất cả các thí nghiệm của nghiên cứu  
đều được lặp lại 3 lần. Kết quả được trình  
bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch  
chuẩn,được xác định bằng phần mềm  
Excel. Sự khác nhau giữa các nghiệm thức  
được xác định bằng ANOVA với độ tin  
cậy 95% (hay p < 0,05), sử dụng phần  
mềm JMP phiên bản 10.  
ni là số giọt, di là đường kính giọt  
2.6.4. Quan sát hạt béo dưới kính hiển vi  
Quan sát hạt béo dưới kính hiển vi  
được thực hiện bằng cách nhỏ một giọt dung  
dịch sữa dừa lên lam kính, sau đó đặt lamen  
lên trên và tiến hành quan sát dưới kính hiển  
vi quang (OMNI VID, LW Scientific 865,  
Mỹ) với độ phóng đại 400 lần.  
2.6.5. Độ trắng  
Độ trắng của sữa dừa đóng lon được  
xác định bằng máy đo màu Minolta  
Chroma Meter CR-400 nhằm đánh giá  
hiệu quả của quá trình xử lý nhiệt.Sản  
phẩm sau tiệt trùng phải có độ trắng cao.  
Độ trắng được xác định theo công thức  
(Caivano và Buera, 2012):  
WI (White Index) = 100 - (100 − 퐿∗)2 + (푎∗)2 + (푏∗)2  
 
2.6.6. Đánh giá cảm quan cho điểm  
thị hiếu  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1 Ảnh hưởng của tốc độ đồng hóa  
đến sự ổn định của hệ nhũ tương  
Theo Hà Duyên Tư (2000), phép thử  
cho điểm thị hiếu nhằm xác định mức độ  
ưa thích của các cảm quan viên về các chỉ  
tiêu mùi, vị, màu sắc và trạng thái của các  
mẫu thử. Phép thử cho điểm thị hiếu được  
đánh giá nhằm xác định mức độ ưa thích  
của mẫu sữa dừa đóng lon khi xử lý ở các  
chế độ tiệt trùng khác nhau. Người thử sẽ  
được mời nếm thử sản phẩm và đánh giá  
mức độ ưa thích, hài lòng của mình bằng  
thang điểm đã được định nghĩa trước thông  
qua các thuật ngữ mô tả cấp độ hài lòng,  
ưa thích. Phép thử cho điểm thị hiếu được  
đánh giá dựa trên thang điểm 7.  
Hệ nhũ tương sữa dừa sẽ nhanh chóng  
phân lớp sau khoảng 5 đến 10 giờ do  
chuyển động va chạm và kết hợp của các  
hạt cầu béo, hình thành hạt kích thước lớn  
hơn, hiện tượng này làm giảm đáng kể giá  
trị cảm quan và chất lượng của sản phẩm.  
Do đó, sự tách pha của sữa dừa là một  
trong các chỉ tiêu quan trọng để xác định  
tính ổn định của hệ nhũ tương. Tốc độ  
đồng hóa ảnh hưởng đến sự tách pha của  
sữa dừa (Hình 1). Khi tăng tốc độ đồng  
hóa thì sự nổi váng của sữa dừa có xu  
hướng giảm, sau đó gia tăng. Sau một ngày  
theo dõi, dữ liệu ghi nhận được tách pha có  
giá trị cao nhất là 29,9% khi mẫu không  
2.6.7. Chỉ số peroxít  
Chỉ số peroxít (PV) được xác định  
theo TCVN 6121: 2010 (ISO 3960: 2007).  
150  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
đồng hóa (đối chứng) và thấp nhất 7,1% ở  
tốc độ đồng hóa 10.000 vòng/phút, có sự  
khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê (p <  
0,05). Khi tăng tốc độ đồng hóa lên 8.000;  
9.000 và 10.000 vòng/phút,sự tách pha có  
xu hướng giảm và được ghi nhận lần lượt  
là 20,1%; 10,1%; 7,1%. Tuy nhiên, tiếp tục  
tăng tốc độ đồng hóa lên 11.000 và 12.000  
vòng/phút thì nổi váng lại có xu hướng  
tăng trở lại với các giá trị lần lượt là 8,8%  
và 9,3%.  
Hình 1. Ảnh hưởng của tốc độ đồng hoá đến độ tách pha của sữa dừa theo thời gian  
Sự tách pha của sữa dừa có xu hướng  
tăng theo thời gian bảo quản. Sau thời gian  
theo dõi 7 ngày, mẫu sữa dừa bị tách pha  
thấp nhất là khi đồng hóa với tốc độ  
10.000 vòng/phút là 26,8% và cao nhất ở  
nghiệm thức đối chứng là 45,8% (p <  
0,05). Đối với mẫu được đồng hóa ở tốc độ  
8.000; 9.000 và 10.000 vòng/phút có giá trị  
tách pha tương ứng là 39,7%; 34,4% và  
26,8%. Tương tự ở tốc độ 11.000 và  
12.000 vòng/phút với nổi váng sau 7 ngày  
quan sát lần lượt là 32,4% và 37,2%.  
Kết quả ảnh hưởng của tốc độ đồng  
hóa đến sự tách pha của hệ nhũ tương sữa  
dừa có thể giải thích là do đồng hóa ở tốc  
độ cao tạo dòng chảy hỗn loạn trong dung  
dịch và đồng thời lực phá vỡ cũng được  
sinh ra trong quá trình chuyển động của  
dòng chảy. Các dòng chảy rối (hỗn loạn)  
giúp phân tán các hạt béo trong pha liên  
tục được tốt hơn (Lakhotia và cộng sự,  
1992), lực phá vỡ tác động lên bề mặt và  
khi lớn hơn sức căng bề mặt của hạt béo  
làm chúng phân tán thành các hạt có kích  
thước nhỏ hơn. Tuy nhiên, hạt béo càng  
nhỏ thì diện tích bề mặt càng lớn, nếu  
không có đủ chất nhũ hóa để bao phủ  
hoàn toàn bề mặt hạt mới được hình  
thành, làm tăng sức căng bề mặt thì các  
hạt mới có xu hướng kết hợp với nhau do  
chuyển động va chạm vào nhau (Jafari và  
cộng sự, 2008). Sau khi các hạt béo kết  
hợp lại với nhau tạo thành các hạt có kích  
thước lớn hơn, chúng có xu hướng di  
chuyển lên phía trên và tạo nên lớp “kem”  
cho dung dịch, hạt béo có kích thước lớn  
có xu hướng di chuyển lên trên nhanh hơn  
các hạt nhỏ (McClements, 2015). Ảnh  
hưởng của tốc độ đồng hoá đến phân bố  
kích thước hạt béo (Hình 2), và kích  
thước hạt béo quan sát dưới kính hiển vi  
(Hình 3).  
151  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Hình 2. Ảnh hưởng của tốc độ đồng hoá đến phân bố kích thước hạt béo sau một ngày  
Kết quả phân bố kích thước hạt béo  
thể hiện ở Hình 2, tốc độ đồng hóa có  
ảnh hưởng đến kích thước hạt béo ở độ  
tin cậy 95%. Kích thước hạt béo trung  
bình dao động trong khoảng 15,82 -  
59,35 µm. Trong đó, mẫu không đồng  
hóa cho kích thước hạt béo cao nhất và  
kích thước hạt nhỏ nhất khi đồng hóa với  
tốc độ 10.000 vòng/phút với các giá trị  
ghi nhận lần lượt là 59,35 µm và 15,82  
µm. Cụ thể, khi tăng tốc độ đồng hóa  
kích thước hạt béo có xu hướng giảm với  
các giá trị ghi nhận là 37,94 µm; 26,74  
µm; 15,82 µm ở các tốc độ lần lượt là  
8.000, 9.000 và 10.000 vòng/phút. Tuy  
nhiên, kích thước hạt béo chỉ giảm đến  
giới hạn nhất định. Sau đó, khi tiếp tục  
tăng tốc độ đồng hóa kích thước hạt lại  
có xu hướng gia tăng trở lại. Ngoài ra,  
khi quan sát dưới kính hiển vi quang học  
cũng cho kết quả tương tự và được thể  
hiện ở Hình 3.  
Hình 3. Ảnh hưởng của tốc độ đồng hoá đến kích thước hạt béo quan sát dưới  
kính hiển vi sau một ngày theo dõi ở độ phóng đại 400 lần  
Kết quả ở Hình 3 cho thấy, ở mẫu đối  
chứng kích thước của hạt béo không đồng  
đều với nhau, hạt béo có kích thước rất lớn  
và phân bố khá nhiều. Đối với mẫu đồng  
152  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
hóa với các tốc độ 8.000; 9.000; 10.000  
vòng/phút, kích thước của hạt béo quan sát  
được giảm đáng kể. Nhưng khi tiếp tục  
tăng tốc độ lên 11.000 và 12.000 vòng/  
phút thì kích thước hạt béo và sự phân bố  
của các hạt béo lớn có xu hướng tăng. Như  
vậy, khi đồng hóa với tốc độ 10.000 vòng  
cho sự tách pha và kích thước hạt béo với  
giá trị thấp nhất, đồng thời kết quả khi  
quan sát trên kính hiển vi cũng cho thấy  
các hạt béo nhỏ và tương đối đồng đều với  
nhau nên tốc độ 10.000 vòng/phút được  
chọn làm yếu tố cố định cho các thí  
nghiệm tiếp theo.  
3.2. Ảnh hưởng của thời gian đồng  
hóa đến tính ổn định của hệ nhũ tương  
Sau khi lựa chọn được tốc độ đồng  
hóa thích hợp, nghiên cứu tiến hành khảo  
sát ảnh hưởng của thời gian đồng hóa (0, 1,  
3, 5 vả 7 phút) đến tính ổn định của hệ nhũ  
tương (sự tách pha, kích thước của hạt béo  
và quan sát hạt béo dưới kính hiển vi), lần  
lượt được thể hiện ở Hình 4, Hình 5 và  
Hình 6. Kết quả Hình 4 cho thấy thời gian  
đồng hóa ảnh hưởng đến sự tách pha sữa  
dừa (p < 0,05). Khi tăng thời gian đồng  
hóa thì nổi váng của sữa dừa có xu hướng  
giảm đến một giá trị nhất định rồi gia tăng  
trở lại. Sau một ngày theo dõi, dữ liệu ghi  
nhận nổi váng dao động trong khoảng 5,2  
– 29,9% với giá trị cao nhất là 29,9% và  
thấp nhất 5,2% ở thời gian đồng hóa lần  
lượt là 0 phút (đối chứng) và 3 phút, có sự  
khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê (p <  
0,05). Cụ thể, khi bắt đầu tăng thời gian  
đồng hóa lên 1 phút và 3 phút nổi váng có  
xu hướng giảm và ghi nhận được lần lượt  
là 7,6%; 5,2%. Tuy nhiên, tiếp tục tăng  
thời gian lên 5 phút và 7 phút thì nổi váng  
lại có xu hướng tăng trở lại với các giá trị  
là 7,4% và 10,0%.  
Hình 4. Ảnh hưởng của thời gian đồng hóa đến độ tách pha sữa dừa theo thời gian  
Qua 7 ngày, độ tách pha của sữa dừa  
có xu hướng tăng theo thời gian theo dõi.  
Độ tách pha có giá trị cao nhất ở mẫu đối  
chứng (thời gian 0 phút) đạt 45,9% và thấp  
nhất ở thời gian 3 phút với giá trị 24,7%,  
có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê (p  
< 0,05). Mẫu đồng hoá ở thời gian 3 phút  
có độ tách pha thấp nhất (24,7%) sau thời  
gian bảo quản 7 ngày, kế đến là thời gian 5  
phút (26,9%), thời gian 1 phút (27,1%) và  
thời gian 7 phút (30,5%). Hiện tượng  
nàyhoàn toàn phù hợp với giải thích của  
McClements, (2015); Jafari và cộng sự  
(2008). Vì thế, khi kéo dài thời gian đồng  
hóa lên 5 phút và 7 phút thì sự tách pha xu  
hướng gia tăng trở lại.  
153  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Để làm sáng tỏ được ảnh hưởng của  
kích thước hạt béo đến nổi váng, nghiên  
cứu đã tiến hành thực hiện đo kích thước  
hạt béo và sự phân bố hạt béo (Hình 5).Qua  
kết quả quan sát cho thấy, thời gian đồng  
hóa có ảnh hưởng đến kích thước hạt béo.  
Kích thước hạt béo trung bình dao động  
trong khoảng 14,73– 59,35 µm. Trong đó,  
mẫu đối chứng (0 phút) cho kích thước hạt  
béo lớn nhất và nhỏ nhất khi đồng hóa với  
thời gian 3 phút có giá trị ghi nhận lần lượt  
là 59,35 µm và 14,73µm, có sự khác biệt ý  
nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05). Cụ thể,  
khi tăng thời gian đồng hóa kích thước hạt  
béo có xu hướng giảm với các giá trị ghi  
nhận là 21,05 µm và14,73µm ở các thời  
gian lần lượt là 1 phút và 3 phút. Tuy  
nhiên, khi tiếp tục kéo dài thời gian đồng  
hóa kích thước hạt béo lại có xu hướng gia  
tăng, thời gian 5 phút và 7 phút kích thước  
hạt béo bắt đầu tăng với các giá trị lần lượt  
là 15,83 µm và 16,32µm.  
Hình 5. Ảnh hưởng của thời gian đồng hóa đến phân bố kích thước hạt béo sau một ngày  
Khi quan sát phân bố kích thước của hạt  
béo dưới kính hiển vi (Hình 6) cũng cho kết  
quả tương tự, khi đồng hóa 0 phút kích thước  
của hạt béo không đồng đều với nhau, hạt  
béo kích thước lớn phân bố khá nhiều. Đối  
với mẫu đồng hóa ở 1 phút, 3 phút và 5 phút  
kích thước của hạt béo quan sát được giảm  
đáng kể. Nhưng khi tiếp tục tăng thời gian  
lên 7 phút, kích thước hạt béo và sự phân bố  
của các hạt béo lớn có xu hướng tăng.  
Hình 6. Ảnh hưởng của thời gian đồng hóa đến phân bố kích thước hạt béo  
quan sát dưới kính hiển vi sau một ngày theo dõi (x400 lần).  
154  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Tóm lại, các kết quả độ tách pha, kích  
thước hạt béo và quan sát trên kính hiển  
vi cho thấy khi đồng hóa với thời gian 3  
phút cho kết quả tốt nhất nên được chọn  
làm yếu tố cố định cho các thí nghiệm  
tiếp theo.  
nhất ở nồng độ 1% (p < 0,05). Trong thời  
gian theo dõi 7 ngày đều ghi nhận được  
hiện tượng tách pha ở các nghiệm thức 0%;  
0,4% và 0,6% tăng dần theo thời gian với  
độ tách pha sau một ngày theo dõi lần lượt  
là 54,9%; 31,7%; 5,4% và độ tách pha sau  
7 ngày theo dõi lần lượt là 66,3%; 49,6%;  
25,3%.Tuy nhiên, trong 3 ngày theo dõi  
đầu tiên không ghi nhận được hiện tượng  
tách pha ở các nghiệm thức 0,8% và 1%  
nhưng đến ngày theo dõi thứ 4 ở nghiệm  
thức 0,8% bắt đầu xuất hiện tách pha với  
giá trị ghi nhận được là 4,4% và tăng dần  
theo thời gian với độ tách pha ở ngày thứ 7  
là 6,5%. Sau 7 ngày theo dõi vẫn chưa ghi  
nhận được hiện tượng tách pha ở nghiệm  
thức 1%.  
3.3. Ảnh hưởng của CMC đến tính  
ổn định của hệ nhũ tương  
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát nồng  
độ CMC thích hợp để giảm độ tách pha  
nhằm tăng tính ổn định cho hệ nhũ tương  
của sữa dừa. Kết quả về sự nổi váng được  
thể hiện ở Hình 7. Kết quả cho thấy nồng  
độ CMC có ảnh hưởng đến sự nổi váng của  
sữa dừa (p < 0,05). Nhìn chung, nồng độ  
CMC tỷ lệ nghịch với sự tách pha; độ tách  
pha lớn nhất khi nồng độ CMC 0% và thấp  
Hình 7. Ảnh hưởng của nồng độ CMC đến độ tách pha nhũ tương sau 7 ngày  
Theo McKenna (2003) đã giải thích  
hiện tượng trên là do CMC là một chất ổn  
định có bản chất ưa nước, là  
polysaccharide có khả năng làm dày  
thường được gọi là chất nhũ hóa thứ cấp,  
khi tan vào trong nước các phân tử này liên  
kết với nhau tạo thành mạng không gian ba  
chiều liên tục giữ được hạt thuộc pha phân  
tán (hạt béo) giữa các mắt lưới. Đồng thời,  
CMC làm tăng độ nhớt cho pha liên tục, từ  
đó làm chậm quá trình chuyển động và va  
chạm của các hạt béo trong pha liên tục  
(Phungamngoen và cộng sự, 2004) góp  
phần làm giảm tốc độ phân tán của hệ nhũ  
tương. Jirapeangtong và cộng sự (2008)  
cũng đã báo cáo kết quả tương tự, ông cho  
rằng độ tách phacủa hệ nhũ tương giảm  
dần khi tăng nồng độ CMC bổ sung.  
Về chỉ tiêu kích thước hạt, kết quả  
phân bố kích thước hạt thể hiện ở Hình 8  
và kết quả phân tích thống kê cho thấy,  
nồng độ CMC bổ sung có ảnh hưởng đến  
kích thước hạt béo (p < 0,05). Kích thước  
hạt béo trung bình dao động trong khoảng  
155  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
13,12- 27,67 µm. Nồng độ CMC tăng (0;  
0,4; 0,6; 0,8 và 1%), kích thước hạt béo có  
xu hướng giảm với các giá trị lần lượt  
được ghi nhận là 27,67; 23,79; 14,91;  
13,62; 13,12µm.  
Khi quan sát dưới kính hiển vi cũng  
thu kết quả tương tự được thể hiện ở Hình  
9, kết quả cho thấy khi bổ sung 0% CMC  
hạt có kích thước tương đối lớn và không  
đồng đều. Nhưng bắt đầu tăng dần nồng độ  
CMC lên 0,4% 0,6%; 0,8% và 1% thì kích  
thước hạt béo giảm xuống rõ rệt. Kết quả  
thí nghiệm này tương tự nghiên cứu của  
Jirapeangtong và cộngsự (2008), nghiên  
cứu này đã cho rằng khi sử dụng hàm  
lượng CMC 0,8 - 1% giúp ổn định hệ nhũ  
tương sữa dừa được tốt hơn. Như vậy, dựa  
vào những phân tích nêu trên cho thấy,  
nồng độ CMC 1% đạt giá trị kích thước  
hạt nhỏ nhất và độ tách pha đạt giá trị tối  
ưu nhất sau 7 ngày theo dõi.  
Hình 8. Ảnh hưởng của nồng độ CMC đến phân bố kích thước hạt béo sau một ngày  
Hình 9. Ảnh hưởng của nồng độ CMC đến kích thước hạt béo quan sát dưới  
kính hiển vi sau một ngày (x 400)  
156  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
3.4. Ảnh hưởng của nồng độ sucrose  
ester đến tính ổn định nhũ tương  
đáng kể hiện tượng tách pha. Kết quả về  
phân bố kích thước hạt béo cho thấy nồng  
độ chất nhũ hóa sucrose ester có ảnh  
hưởng đến kích thước hạt béo ở độ tin cậy  
95%. Kích thước hạt béo trung bình dao  
động trong khoảng 11,29 – 23,99 µm. Cụ  
thể, theo chiều tăng dần các nồng độ 0%;  
0,05%; 0,1%; 0,15%; 0,2% của Dk ester  
F160 thì kích thước hạt béo có xu hướng  
giảm với các giá trị ghi nhận lần lượt là  
23,99 µm; 19,44µm; 13,49µm; 11,29 µm;  
11,52 µm. Theo đó mẫu không bổ sung  
sucrose ester cho kích thước hạt béo trung  
bình lớn nhấtvà nhỏ nhất khibổ sung nồng  
độ Dk ester F160 0,15% với các giá trị ghi  
nhận lần lượt là 23,99 µm và 11,29 µm, có  
sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê (p <  
0,05).  
Để phát huy tác dụng của chất nhũ hóa  
sucrose ester, cần tiến hành hoạt hóa chất  
này trước khi cho vào hệ nhũ tương sữa  
dừa, chất hoạt động bề mặt này có thể bảo  
vệ các giọt dầu. Chất nhũ hóa tạo sự phân  
tán đồng nhất cho sản phẩm, khi thêm chất  
nhũ hóa giúp các hạt béocó kích thước nhỏ  
sau đồng hoá được phân tán đồng đều hơn,  
giảm sức căng bề mặt. Trong sucrose ester  
có chứa nhóm sucrose monolaurate ưa  
nước liên kết với axít lauric có trong sữa  
dừa, tạo hệ nhũ càng ổn định hơn.  
Sau 7 ngày theo dõi về độ tách pha,  
kết quả quan sát ghi nhận được cho thấy  
đối với các mẫu sữa dừa bổ sung sucrose  
ester với gia tăng nồng độ đã cải thiện  
Hình 10. Ảnh hưởng của nồng độ sucrose ester đến phân bố kích thước hạt sau  
thời gian một ngày  
Kết quả quan sát dưới kính hiển vi  
được thể hiện ở Hình 11 cho kết quả tương  
tự, khi không được bổ sung sucrose ester,  
hệ nhũ tương có xuất hiện các hạt béo có  
kích thước lớn. Kích thước hạt béo được  
giảm đáng kể khi nồng độ sucrose ester  
tăng lên. Việc tăng nồng độ chất nhũ hóa  
và chất ổn định làm giảm đáng kể độ phân  
tách của hệ nhũ tương. Các hạt béo nhỏ  
hơn sẽ được hình thành sau quá trình đồng  
hóa, khi bổ sung sucrose ester với vai trò là  
một chất nhũ hóa khi hòa tan vào dung  
dịch, chúng sẽ hấp phụ trên bề mặt các hạt  
béo, hướng các đầu kỵ nước vào các hạt  
chất béo và hướng các đầu ưa nước vào  
nước hình thành nên các hạt micelle, sự  
tích tụ phân tử như thế ở bề mặt các hạt  
béo sẽ làm giảm đáng kể sức căng bề mặt  
157  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
của hạt béo nhỏ mới được hình thành.  
Đồng thời, kết hợp với chất ổn định làm  
tăng độ nhớt của pha liên tục làm chậm lại  
quá trình các hạt nhỏ đến gần và kết hợp  
lại với nhau (Tipvarakarnkoon và cộng sự,  
2010; Israelachvili, 2011; Zhao và cộng  
sự, 2014; Lê Ngọc Tú, 2015). Ngoài ra,  
McClements (2015) đã giải thích sucrose  
ester có tính chất là một chất nhũ hóa  
không ion giúp ổn định nhũ tương bằng  
cách tạo ra các lực đẩy ngăn các hạt béo  
đến quá gần nhau, từ đó ngăn cản các hạt  
sát nhập vào nhau. Chính vì thế, khi tăng  
nồng độ sucrose ester thì kích thước hạt  
béo giảm.  
Hình 11. Ảnh hưởng của nồng độ sucrose ester đến kích thước hạt béo quan sát  
dưới kính hiển vi sau một ngày (x 400)  
3.5. Ảnh hưởng của chế độ tiệt trùng  
đến chất lượng sữa dừa đóng lon  
thấy, Fthực tếở 2 chế độ lớn hơn Fo. Điều  
này cho thấy chế độ tiệt trùng tại 121oC  
trong 31 phút và 116oC trong 61 phút đã  
đạt giá trị tiệt trùng Fo (an toàn về mặt vi  
sinh).Kết quả kiểm tra vi sinh (Bảng 2) cho  
thấy sau quá trình tiệt trùng ở 2 chế độ  
116oC trong 61 phút và 121oC trong 31  
phút không phát hiện vi khuẩn hiếu khí, vi  
khuẩn kỵ khí khử sulfite và vi sinh vật kỵ  
khí. Vậy nên có thể kết luận cả 2 chế độ  
116oC trong 61 phút và 121oC trong 31  
phút đã an toàn về vi sinh vật.  
3.5.1. Tính toán chế độ tiệt trùng  
Kết quả tính toán và kiểm tra chế độ tiệt  
trùng sản phẩm sữa dừa được trình bày qua  
Bảng 1. Thời gian giữ nhiệt của nồi ở nhiệt  
độ 121 và 116oC để đạt được giá trị tiệt  
trùng Fo = 5 phút lần lượt là 31 và 61 phút.  
Tiến hành kiểm tra hai chế chế độ tiệt  
trùng bằng cách tính F thực tế và so sánh  
với Fo sao cho Fthực tế ≥ Fo. Kết quả kiểm  
tra chế độ tiệt trùng ở 1210C và 116oC cho  
158  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Bảng 1. Kết quả tính toán thời gian tiệt trùng cho giá trị tiệt trùng Fo khi nhiệt độ nồi  
tiệt trùng 121oC và 116oC và kết quả kiểm tra  
Tính toán  
Tham số  
Kiểm tra  
121oC  
52  
121oC  
165  
5
116oC  
165  
5
Tham số  
tB (phút)  
fh (phút)  
jh  
To (oC)  
TR (oC)  
L
116oC  
80  
Khối lượng mẫu (g)  
Fo (phút)  
76,8  
0,96  
66  
115,2  
0,67  
65  
fh (phút)  
62,2  
1,11  
65  
76,8  
1,10  
68  
jh  
To (oC)  
TR (oC)  
121  
116  
121  
0,98  
56  
116  
0,31  
48  
0,98  
55  
0,31  
51  
L
TR-To  
TR - To (oC)  
jh*(TR-To)  
log[jh*(TR-To)]  
R = (fh*L)/Fo  
log(g)  
jh*(TR-To)  
52,8  
34,2  
1,53  
0,69  
0,84  
6,69  
5,32  
61,6  
1,79  
12,16  
0,99  
0,79  
52,8  
1,72  
4,74  
0,73  
0,99  
log[jh*(TR-To)] 1,72  
tB/fh  
log(g)  
0,68  
1,04  
R
14,64  
5,12  
log[jh*(TR-To)]-log(g)  
Fthực tế (phút)  
Thời gian xử lý nhiệt Ball  
(phút)  
52  
31  
80  
61  
Fo (phút)  
5
5
Thời gian giữ nhiệt của nồi  
(phút)  
To: nhiệt độ ban đầu của sản phẩm; TR: nhiệt độ nồi tiệt trùng; L: tỉ lệ tử vong; tB: thời gian xử lý  
nhiệt Ball  
Bảng 2. Kết quả kiểm tra vi sinh tại 2 chế độ tiệt trùng khác nhau  
Chế độ tiệt trùng  
Chỉ tiêu  
Đơn vị  
CFU/g  
CFU/g  
CFU/g  
CFU/g  
CFU/g  
CFU/g  
Kết quả  
< 10  
Tổng số vi sinh vật hiếu khí  
Tổng số vi sinh vật khử sulfite  
Tổng số vi sinh vật kị khí  
Tổng số vi sinh vật hiếu khí  
Tổng số vi sinh vật khử sulfite  
Tổng số vi sinh vật kị khí  
116oC trong 61 phút  
< 10  
< 10  
< 10  
121oC trong 31 phút  
< 10  
< 10  
<10: nghĩa là không phát hiện  
159  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
3.5.2. Ảnh hưởng của chế độ tiệt trùng  
đến độ trắng, cảm quan, peroxít  
enzyme xảy ra như phản ứng Maillard  
(Ames và cộng sự, 2001). Theo tính toán đã  
trình bày ở trên, với nhiệt độ tiệt trùng  
116oC và 121oC để đạt được giá trị tiệt  
trùng Fo = 5 phút thì phải cần thời gian giữ  
nhiệt khác nhau lần lượt là 61 phút và 31  
phút. Lý do là nhiệt độ xử lý thấp cần nhiều  
thời gian hơn để đạt giá trị Fo. Do đó, chế  
độ tiệt trùng 116oC trong 61 phút có khoảng  
thời gian xử lý nhiệt dài hơn để phản ứng  
sậm màu xảy ra. Điều này dẫn đến làm  
giảm giá trị độ trắng cho sản phẩm.  
Độ trắng  
Hình 12 thể hiện giá trị màu sắc đo  
được ở 2 chế độ tiệt trùng 116oC trong 61  
phút và 121oC trong 31 phút. Kết quả cho  
thấy, độ trắng ở 2 chế độ tiệt trùng có sự  
khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê ở độ tin  
cậy 95%. Thực phẩm có hàm lượng axít  
thấp như sữa dừa (pH khoảng 6,1) khi xử lý  
ở nhiệt độ cao (> 100oC) là điều kiện thích  
hợp cho các phản ứng sậm màu không  
Hình 12. Giá trị độ trắng ở hai chế độ tiệt trùng khác nhau  
Trong cùng một biểu đồ các số liệu có  
kí tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa về  
mặt thống kê (p <0,05)  
biệt về chỉ tiêu mùi vị và điểm tổng khi  
sản phẩm được tiệt trùng ở 2 chế độ khác  
nhau (p < 0,05). Tuy nhiên, màu sắc không  
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
(p > 0,05).  
Cảm quan  
Kết quả (Bảng 3) cho thấy có sự khác  
160  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Bảng 3. Ảnh hưởng của chế độ tiệt trùng đến điểm cảm quan  
Chế độ tiệt trùng (nhiệt độ, oC -  
thời gian, phút)  
Cảm quan  
Mùi vị  
Peroxít  
Màu sắc  
Điểm tổng  
116 - 61  
121 - 31  
5,62a ± 0,52 4,50b ± 0,75 4,75b ± 0,46  
5,62a ± 0,52 5,75a ± 0,46 5,75a ± 0,46  
KPH  
KPH  
Các ký tự khác nhau trên cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức ở độ  
tin cậy 95%. Điểm trung bình càng lớn thì mức độ yêu thích càng cao  
Kết quả Bảng 3 cũng cho thấy điểm  
tổng giữa 2 chế độ tiệt trùng 116oC trong  
61 phút và 121oC trong 31 phút có sự khác  
biệt ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05).  
Trong đó, chỉ tiêu mùi vị có ảnh hưởng  
đáng kể đến điểm cảm quan điểm tổng của  
sản phẩm. Mẫu tiệt trùng ở 116oC trong 61  
phút có điểm mùi vị thấp hơn mẫu tiệt  
trùng ở 121oC trong 31 phút, dẫn đến điểm  
tổng của sản phẩm thấp hơn. Cũng theo  
nhận xét của các cảm quan viên, chế độ  
116oC trong 61 phút có mùi nấu nhiều hơn  
khiến họ không ưa thích.  
trùng 121oC trong 31 phút đã được kiểm  
tra đảm bảo an toàn về mặt vi sinh và  
peroxít, sản phẩm sữa dừa đóng lon có độ  
trắng và giá trị cảm quan cao.  
Tài liệu tham khảo  
Ames, J. M., and Hofmann, T. F. (2001).  
Chemistry and physiology of selected food  
colorants. Washington, DC: ACS, p. 227.  
Ariyaprakai, S., Limpachoti, T. and  
Pradipasena, P. (2013). Interfacial and  
emulsifying properties of sucrose ester in  
coconut milk emulsions in comparison  
with Tween. Food Hydrocolloids, 30 (1),  
pp. 358-367.  
Chỉ số peroxít  
CODEX STAN 240 (2003). Codex Standard  
for Aqueous Coconut Products Coconut  
Milk and Coconut Cream. FAO/ WHO  
Food Standards Programme.  
Israelachvili, J. (2011). Intermolecular and  
Surface Forces. 3rd. London, UK, Academic  
Press.  
Caivano, J. L. and Buera, M. D. P. (2012).  
Color in Food: Technological and  
Psychophysical aspects. Boca Raton,  
Florida: CRC Press.  
Jafari, S. M., Assadpoor, E., He. Y. and  
Bhandari, B. (2008). Re-coalescence of  
emulsion droplets during high-energy  
emulsification. Food Hydrocolloids, 22  
(7), pp. 1191-1202.  
Kết quả phân tích (Bảng 3) cho thấy  
không phát hiện chỉ số peroxít của mẫu  
sữa dừa đóng lon khi tiệt trùng ở chế độ  
121oC và 116oC. Điều này cho thấy quá  
trình oxy hóa không xảy ra khi xử lý ở 2  
chế độ tiệt trùng.  
4. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ nhũ  
tương sữa dừa ổn định (độ tách pha, kích  
thước và phân bố hạt) khi đồng hóa ở tốc  
độ 10.000 vòng/phút trong thời gian 3  
phút. Sử dụng chất ổn định CMC 1% kết  
hợp với chất nhũ hóa sucrose ester 0,15%  
giúp cải thiện đáng kể tính ổn định của hệ  
nhũ tương. Nghiên cứu đã tính toán và  
kiểm tra chế độ tiệt trùng sao cho đạt được  
giá trị tiệt trùng thương mại. Chế độ tiệt  
Jirapeangtong, K., Siriwatanayothin, S. and  
Chiewchan, N. (2008). Effects of coconut  
sugar and stabilizing agents on stability  
161  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
and apparent viscosity of high fat coconut  
milk. Journal of Food Engineering, 87,  
pp. 422-427.  
microstructure and stability of coconut  
milk emulsions. Food Hydrocolloids, 22,  
pp. 1233–1242.  
Lakhotia, S. and Papoutsakis, E. T. (1992).  
Agitation induced cell injury in  
microcarrier cultures.Protective effect of  
viscosity is agitation intensity dependent:  
Experiments and modeling. Biotechnology  
and Bioengineering, 39, pp. 95-107.  
Lê Văn Việt Mẫn (2011). Công nghệ chế biến  
thực phẩm. Nhà Xuất bản Đại học Quốc  
Gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 291.  
McClements, D. J. (2015). Food emulsions:  
principles, practices, and techniques. 3rd,  
CRC Press, Boca Raton, p. 714.  
McKenna, B. M. (2003). Texture in food, Vol  
1: Semi - Solid Foods. 3rd, Woodhead  
Publishing, p. 448.  
Phungamngoen, C., Chiewchan, N., Siriwatanayothin  
S. (2004). Effect of some stabilizers on the  
quality of canned high fat coconut milk.  
Journal of KMUTT’s Research and  
Development, 27, pp. 376-390.  
Stoforos, N. G. (2010). Thermal Process  
Calculations Through Ball’s Original  
Formula Method: A Critical Presentation  
of the Method and Simplification of its  
Use Through Regression Equations. Food  
Engineering Reviews, 2 (1), pp. 1-16.  
Tangsuphoom N. and Coupland N. J., 2008.  
Effect of surface active stabilizers on the  
Tansakul, A. and Chaisawang, P. (2006).  
Thermophysical properties of coconut  
milk. Journal of Food Engineering, 73,  
pp. 276–280.  
Tipvarakarnkoon, T., Einhorn-Stoll, U. and  
Senge, B. (2010). Effect of modified  
Acacia gum (SUPER GUMTM) on the  
stabilization of coconut o/w emulsions.  
Food Hydrocolloids, 24, pp. 595-601.  
TCVN 6121:2010 (ISO 3960:2007). Dầu mỡ  
động vật và thực vật - xác định trị số peroxít  
- phương pháp xác định điểm kết thúc  
chuẩn độ iốt (quan sát bằng mắt thường).  
TCVN 6688-3:2007 (ISO 8262-3:2005). Xác  
định hàm lượng chất béo bằng phương  
pháp khối lượng Weibull-Berntrop  
(Phương pháp chuẩn) - Phần 3: Các  
trường hợp đặc biệt.  
Hà Duyên Tư (2000). Kỹ thuật phân tích cảm  
quan thực phẩm. Trường Đại học Bách  
Khoa Hà Nội, tr. 90-93.  
Zhao, Q., Liu, D., Long, Z., Yang, B., Fang  
M., Kuang, W and Zhao, M. (2014).  
Effect of sucrose ester concentrations on  
the interfacial characteristics and physical  
properties of sodium caseinate stabilized  
oil in water emulsions. Food Chemistry,  
151, pp. 506-513.  
162  
pdf 17 trang yennguyen 11720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ nhũ tương sữa dừa đóng lon", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_cac_yeu_to_anh_huong_den_tinh_on_dinh_cua_he_nhu_tu.pdf