Khảo sát các chỉ tiêu sinh trưởng của cừu Phan Rang khi sử dụng thức ăn ủ chua

KHẢO SÁT CÁC CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG CỦA  
CỪU PHAN RANG KHI SỬ DỤNG THỨC ĂN Ủ CHUA  
Nguyễn Đức Thịnh(1), Ngô Huỳnh Bảo Trinh(1),  
Lê Mỹ Thanh(1), Nguyễn Thị Thu Hiền(1)  
(1) Trường Đại học Thủ Dầu Một  
Ngày nhận bài 20/01/2021; Ngày gửi phản biện 30/01/2021; Chấp nhận đăng 30/03/2021  
Liên hệ Email: [email protected]  
Tóm tắt  
 g   n c   n   đ n  g     ệ    ả   ệc sử d ng  ộ       ại th c ăn ủ c  a đến khả  
năng   n   rưởng của cừu Phan Rang, tiến hành trên cừu 4 tháng tuổi, thu nhận từ Phan  
Rang và nuôi tại Trung tâm Công nghệ sinh học c ăn n ô . Các chỉ       ăng  rưởng kh i  
 ượng, dài thân, vòng ngực được khảo sát trong 90 ngày khi sử d ng các loại th c ăn bổ  
sung: Thân ngô, bã mì và quả đ ều giả ủ chua.  ế    ả đ  đ n  g   r ng       ử d ng c c  
       ần c     c ăn ủ chua, cừu có t c độ  ăng  rưởng bìn    ường, không có sự khác  
biệ  c  ý ng ĩa    ng kê so vớ   ô đ i ch ng. Tăng  rưởng kh    ượng cao nhất khi sử  
d ng kh u phần có bổ sung th c ăn b   ì ủ chua.   ư vậy, nông dân có thể tận d ng các  
loại th c ăn ủ chua bổ   ng  r ng c ăn n ô  cừu; giúp giả  c     í c ăn n ô      ạn chế  
ô nhiễ   ô   rường từ các phế ph  ph m nông nghiệp.  
Từ khoá: cừu Phan Rang,   n   rưởng, th c ăn ủ chua  
Abstract  
SURVEY GROWTH INDICATORS OF PHAN RANG SHEEP WHEN USING  
SILAGE FEED  
A study was carried out to investigate the effects of feeding some silage on the  
growth profiles of Phan Rang sheep. The research was conducted on sheep (4 months  
old) imported from Phan Rang and raised at the Livestock Biotechnology Center. The  
growth indicators of weight, length of body, and bust were investigated for 90 days  
using corn stalks, wheat residue and silage fake cashews. The results evaluated that,  
when using diets containing silage, sheep had normal growth rates. There was not  
statistically significant difference between the experimental group and the control  
group. Volume growth was highest when using silage fake cashews. Thus, farmers can  
take advantage of additional silage in sheep farming that help reduce livestock costs  
and limit environmental pollution from agricultural by-products.  
40  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
1. Đặt vấn đề  
Cừu Phan Rang là giống cừu có số lượng lớn nhất trong tổng số đàn cừu của nước  
ta. Chăn nuôi cừu tập trung chủ yếu ở Nam Trung Bộ, nhất là tỉnh Ninh Thuận và Bình  
Thuận (Ngô Thành Vinh, 2014). Giống cừu Phan Rang có đặc điểm nhỏ con, năng suất  
thấp nhưng chất lượng thịt ngon, khả năng chống chịu bệnh tật tốt, chịu được kham khổ,  
hiền lành, dễ nuôi (Đoàn Đức Vũ và nnk., 2006). Đây là giống cừu thịt có khả năng phát  
triển tốt trên vùng đất cát pha có đồng cỏ nghèo và khô và cũng thích hợp với phương  
thức nuôi thâm canh (Nguyễn Thị Mùi và nnk., 2006).  
Hiện nay, thức ăn dùng để nuôi cừu bị giới hạn, các đồng cỏ chăn thả cũng như  
diện tích đất trồng cỏ làm thức ăn chăn nuôi không đáp ứng đủ lượng thức ăn, đặc biệt  
vào mùa khô. Người chăn nuôi thường cho cừu ăn rơm nhiều hơn lượng cỏ xanh, không  
đảm bảo cho đàn cừu sinh trưởng và phát triển tốt; mặt khác giá của thức ăn tinh lại khá  
cao, người dân phải chi trả khá nhiều chi phí cho nguồn thức ăn này. Ở Bình Dương và  
nhiều tỉnh thành khác đã và đang có hệ thống sản xuất nông nghiệp khá phong phú với  
nhiều loại cây trồng quy mô lớn như: điều, ngô, mì. Việc tận dụng các phụ phẩm làm  
thức ăn cho các gia súc nhai lại bằng cách ủ chua thức ăn là một giải pháp hữu hiệu đã  
được nghiên cứu và áp dụng (Nguyễn Hữu Văn và nnk., 2008; Nguyễn Hải Quân và  
Nguyễn Xuân Bá, 2008). Với quy trình đơn giản, không đòi hỏi kĩ thuật cao, có thể giữ  
ổn định nguồn thức ăn vào mùa khô và dự trữ lượng thức ăn xanh ở mùa mưa, hạn chế  
thất thoát chất dinh dưỡng góp phần khai thác bền vững nguồn phụ phẩm tại địa phương  
để phát triển chăn nuôi và bảo vệ môi trường. Đồng thời, thức ăn ủ chua lại có hàm  
lượng protein, acid lactic cao hơn, thơm ngon hơn so với không ủ.  
Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi khảo sát các chỉ tiêu sinh trưởng của cừu  
Phan Rang khi sử dụng một số loại thức ăn ủ chua, nhằm đánh giá hiệu quả việc sử  
dụng nguồn thức ăn này để có những đề xuất hợp lý mang lại hiệu quả kinh tế đối với  
ngành chăn nuôi cừu và giải quyết một số vấn đề môi trường do các bã thải từ một số  
cây trồng nông nghiệp.  
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
Vật liệu nghiên cứu: cừu Phan Rang (4-5 tháng tuổi) được nhập từ Phan Rang và  
nuôi tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Chăn nuôi, khu phố 6, đường An Mỹ, phường  
An Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương. Một số thức ăn: quả điều ủ chua, thân  
ngô ủ chua, bã mì ủ chua; cỏ voi xanh, cám tổng hợp (Tongwei của công ty TNHH  
TONGWEI Việt Nam). Dụng cụ: lưới, dụng cụ thiết kế chuồng nuôi, máng để thức ăn,  
cân Nhơn Hòa 100kg, thước dây.  
Địa đ ểm nghiên c u: Trung tâm Công nghệ Sinh học Chăn nuôi, khu phố 6,  
đường An Mỹ, phường An Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương. Phòng thí  
nghiệm sinh học Trường Đại học Thủ Dầu Một.  
41  
Phương pháp nghiên cứu  
B   rí   í ng  ệ : Thí nghiệm gồm 16 cá thể cừu (4 tháng tuổi), có khối lượng  
tương đương nhau, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên thành 3 nghiệm thức thử nghiệm  
và 1 nghiệm thức đối chứng. Các con vật được nuôi riêng lẻ trong các chuồng có kích  
thước 1,5m × 1m, được làm quen với môi trường và điều kiện thí nghiệm trong hai tuần,  
sau đó là 90 ngày thử nghiệm. Mỗi đơn vị nghiệm thức gồm 1 con cừu. Thời gian thí  
nghiệm 12 tuần với 3 khẩu phần thí nghiệm: Điều ủ, thân ngô ủ, bã mì ủ và 1 khẩu phần  
đối chứng: Thức ăn hỗn hợp. Nước sạch có sẵn cho cừu uống. Chuồng được che chắn  
ánh nắng, máng ăn được phun xịt thuốc sát khuẩn trước khi đưa vào thí nghiệm. Quy  
trình chăm sóc nuôi dưỡng cừu được thực hiện đồng đều trên các nghiệm thức.  
C   ăn    cân    c ăn: Mỗi ngày cho ăn 4 lần, theo khung giờ: 6h, 10h, 14h, 16h.  
Khi cho ăn phải xác định đúng nghiệm thức và vệ sinh máng ăn của cừu trước khi cho  
ăn. Cách bố trí thức ăn theo từng nghiệm thức được thể hiện theo các bảng từ 1-4.  
Bảng 1. B  trí th c ăn của  ô đ i ch ng  
Loại thức ăn  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Khối lượng (kg)  
Giờ cho ăn (giờ)  
0,8  
2
6
10  
14  
16  
0,8  
2
Bảng 2. B  trí th c ăn   e  ng  ệm th c 1  
Loại thức ăn  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Khối lượng (kg)  
Giờ cho ăn (giờ)  
Quả điều ủ  
Quả điều ủ  
1
0,1  
6
2
2
10  
14  
16  
1
0,1  
Bảng 3. B  trí th c ăn   e  ng  ệm th c 2  
Loại thức ăn  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Khối lượng (kg)  
Giờ cho ăn (giờ)  
Thân ngô ủ  
Thân ngô ủ  
1
0,1  
6
2
2
10  
14  
16  
1
0,1  
Bảng 4. B  trí th c ăn   e  ng  ệm th c 3  
Loại thức ăn  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Cám tổng hợp  
Cỏ voi xanh  
Khối lượng (kg)  
Giờ cho ăn (giờ)  
Bã mì ủ  
Bã mì ủ  
1
0,1  
6
2
2
10  
14  
16  
1
0,1  
42  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng: Kích thước và khối lượng của cừu được xác  
định bằng việc đo (cân) 15 ngày/1 lần, vào buổi sáng (5h30–6h), trước thời gian cho ăn  
30 phút. Xác định kích thước các chiều: Dài thân chéo, vòng ngực bằng thước dây, đơn  
vị đo cm. Chiều dài thân chéo: Tính từ chỗ lồi của xương bả vai đến mấu sau của xương  
u ngồi. Chiều đo vòng ngực: Là chu vi vòng ngực, tiếp giáp với phía sau xương bả vai.  
Mức tăng chiều dài thân/vòng ngực (cm/con/15 ngày) = chiều đo lần sau – chiều đo lần  
trước. Xác định khối lượng của vật nuôi: Sử dụng cân đồng hồ Nhơn Hòa 100 kg; đơn  
vị (kg) để cân trọng lượng cơ thể với mức sai số là ± 50g. Mức tăng trọng (kg/con/15  
ngày) = khối lượng lần sau – khối lượng lần trước.  
Xử  ý      ệ : Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel các thông số  
thống kê cơ bản: Trung bình cộng ( X), độ lệch chuẩn (Sx), kiểm định T-test với mức ý  
nghĩa α = .05.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Tăng trưởng khối lượng  
Khối lượng là một đặc trưng của quá trình sinh trưởng của cừu Phan Rang (Ngô  
Thành Vinh, 2014). Kết quả khảo sát tốc độ tăng trưởng khối lượng của cừu khi sử dụng  
thức ăn ủ chua trong thời gian thí nghiệm được thể hiện qua bảng 5.  
Bảng 5. Ản   ưởng của th c ăn ủ chua lên sự   a  đổi kh    ượng của cừu Phan Rang  
Ngày  
ĐC (kg)  
NT1 (kg)  
15,4 ± 1,1  
15,9 ± 0,9  
16,7 ± 0,9  
17,4 ± 1,0b  
18,3 ± 0,9  
18,7 ± 0,9  
19,0 ± 0,9b  
NT2 (kg)  
15,5 ± 1,2  
15,9 ± 0,9  
16,6 ± 0,9  
17,3 ± 0,9b  
18,2 ± 1,0  
18,6 ± 1,0  
19,0 ± 1,1b  
NT3 (kg)  
15,5 ± 1,2  
16,1 ± 1,2  
16,9 ± 1,1  
17,7 ± 1,1a  
18,5 ± 0,9  
19,0 ± 1,0  
19,9 ± 1,0a  
1
15,5 ± 1,3  
15 16,1 ± 1,2  
30 16,9 ± 1,1  
45 17,7 ± 1,1a  
60 18,4 ± 0,9  
75 19,0 ± 1,1  
90 19,9 ± 0,9a  
Ghi chú: Sự khác nhau của các ký tự (a,b) trong cùng một hàng ( ng với từng chỉ tiêu) thì các giá  
trị khác nhau có ý ng ĩa    ng kê (P < .05) theo kiể  định T-test với m c ý ng ĩa α = .05.  
Xét về giá trị trung bình tăng trưởng khối lượng giữa các nghiệm thức, cừu Phan  
Rang được nuôi tại cơ sở có tốc độ phát triển tăng dần theo các tháng tuổi. Ở bảng 5 cho  
thấy, sau 15 ngày tốc độ tăng trường của cừu tăng từ 600-800 gram, sau mỗi tháng tăng từ  
1,2-1,5kg. Ở giai đoạn từ ngày 75 đến ngày 90 của nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức  
3 (bã mì ủ chua) có sự thay đổi khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < .05) và tăng cao nhất 900  
gram sau 15 ngày. Còn ở nghiệm thức 1 (điều ủ chua) và nghiệm thức 2 (thân ngô ủ chua)  
có sự thay đổi gần giống nhau và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > .05), trung bình  
tăng khối lượng thấp hơn so với nghiệm thức sử dụng bã mì. Tuy nhiên, kết quả cũng cho  
thấy khối lượng giữa các nghiệm thức chênh lệch không đáng kể so với lô đối chứng.  
43  
Theo nghiên cứu của Bùi văn Lợi (2014) và Ngô Thành Vinh (2014) về chỉ tiêu khối  
lượng, ở thời điểm 3 tháng và 6 tháng tuổi cừu Phan Rang nuôi ở Huế, Ba Vì và Ninh  
Thuận với phương thức chăn thả kết hợp cho ăn tại chuồng theo nhóm, hàng ngày được bổ  
sung tại chuồng 0,1kg cám hỗn hợp và 2kg cỏ xanh; cho thấy có khối lượng sinh trưởng  
tương đương so với nghiên cứu này. Theo Đinh Văn Bình và Ngô Thành Vinh (2010); cừu  
đực và cái Phan Rang nuôi ở các nông hộ tại Ninh Thuận và 3 tỉnh Ninh Bình, Hải Dương,  
Quảng Ninh có khối lượng 6 tháng tuổi trung bình lần lượt: 18,0; 16,6; 15,8; 16,3kg; con  
cái lần lượt: 14,9; 14,9; 13,2; 13,2 kg. Kết quả nghiên cứu trên cừu Phan Rang được nuôi ở  
Ba Vì con đực: 17,83 và con cái 16,58kg (Ngô Thành Vinh, 2014). Các nghiên cứu khác  
cũng cho thấy, thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng, tăng trọng, khối lượng thịt xẻ  
(Kate Phillips và Karen Wheeler, 2008). Nghiên cứu cho thấy bổ sung thức ăn tinh đã ảnh  
hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cừu, tuy nhiên chỉ chăn thả không đủ cho sinh  
trưởng ở mức cao nhất, chăn thả cộng với bổ sung một lượng tối thiểu thức ăn protein sẽ  
làm tăng năng suất cừu và giảm chi phí sản xuất. Như vậy, kết quả sinh trưởng khác nhau ở  
các giai đoạn nghiên cứu khác nhau là do sinh trưởng của cừu chịu ảnh hưởng của nhiều  
yếu tố như: Khí hậu, phương thức nuôi, chế độ nuôi dưỡng. Nhìn chung, từ kết quả nghiên  
cứu cho thấy khi cừu sử dụng thức ăn ủ chua qua 3 nghiệm thức, tốc độ tăng trọng không bị  
giảm đi và có tỉ lệ tăng gần bằng so với nghiệm thức đối chứng. Trong đó nghiệm thức bã  
mì ủ thì có tỉ lệ tăng trọng cao hơn so với 2 nghiệm thức còn lại.  
3.2. Tăng trưởng chiều dài thân chéo  
Chỉ số cấu tạo thể hình liên quan đến một số chiều đo của cơ thể. Cách đo được sử  
dụng nhiều nhất để đánh giá sự sinh trưởng của gia súc là chiều đo dài thân chéo, chỉ số  
này đánh giá chính xác hơn chiều đo khác (Ngô Thành Vinh, 2014). Kết quả khảo sát  
tốc độ tăng trưởng chiều dài thân của cừu được thể hiện qua bảng 6.  
Bảng 6. T c độ  ăng  rưởng chiều dài thân chéo của cừu sau 90 ngày  
Ngày  
1
ĐC (cm)  
NT1 (cm)  
45,6 ± 1,7  
46,5 ± 1,6  
46,9 ± 1,7  
47,2 ± 1,7  
48,1 ± 1,4  
49,4 ± 1,4  
50,0 ± 1,3  
NT2 (cm)  
45,7 ± 1,9  
45,9 ± 1,9  
46,5 ± 1,7  
47,6 ± 1,6  
48,3 ± 1,4  
49,7 ± 1,4  
50,1 ± 1,4  
NT3 (cm)  
46,4 ± 1,9  
47,1 ± 1,7  
47,6 ± 1,6  
48,1 ± 1,6  
48,8 ± 1,5  
49,6 ± 1,4  
50,2 ± 1,2  
46,4 ± 1,9  
47,1 ± 1,9  
47,4 ± 1,4  
47,9 ± 1,6  
48,6 ± 1,5  
49,2 ± 1,3  
50,2 ± 1,2  
15  
30  
45  
60  
75  
90  
Xét về giá trị trung bình giữa các cá thể cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều dài thân  
của cừu tăng dần qua các tháng tuổi. Ở kết quả bảng 6 cho thấy, tốc độ tăng trưởng chiều  
dài thân của cừu chênh lệch gần nhau. Giai đoạn tăng trưởng chiều dài thân thấp nhất là từ  
ngày 1 đến ngày 45 với mức tăng trưởng dao động từ 0,3-0,4cm. Giai đoạn tăng trưởng  
chiều dài thân cao nhất là từ ngày 45 đến ngày 60 với mức tăng trưởng dao động từ 0,6 đến  
0,8cm. Nhìn chung, các cá thể của các nghiệm thức có tốc độ tăng trưởng chiều dài thân  
44  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
gần bằng nhau, dao động từ 0,4-0,8cm. Xét riêng thì thấy tốc độ tăng trưởng của nghiệm  
thức đối chứng và nghiệm thức 3 cao hơn 2 nghiệm thức còn lại. Điều này đúng với quy  
luật tự nhiên, khi xét ở hiệu quả sử dụng thức ăn cho thấy, 2 nghiệm thức này có khả năng  
tiêu thụ thức ăn cao hơn 2 nghiệm thức còn lại. Kết quả nghiên cứu này gần bằng với kết  
quả nghiên cứu của Trịnh Xuân Thanh (2009), Bùi văn Lợi (2014) và Ngô Thành Vinh  
(2014) về chỉ tiêu sinh trưởng dài thân chéo trong điều kiện nuôi bằng cỏ voi xanh và cám.  
Theo kết quả của Trịnh Xuân Thanh (2009), chiều dài thân của cừu 6 tháng tuổi trung bình  
từ 46,4-52,3cm. Tốc độ tăng chiều dài thân gần như không có sự khác biệt thống kê giữa  
các nghiệm thức với nhau (P > .05). Như vậy, sử dụng thức ăn ủ chua bổ sung trong chăn  
nuôi không làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng chỉ số hình thể này của cừu.  
3.3. Tăng trưởng vòng ngực  
Kích thước vòng ngực là một chỉ tiêu quan trọng nhất liên quan tới quá trình sinh  
trưởng của gia súc, chiều đo này chịu ảnh hưởng của phẩm chất giống và chế độ chăm  
sóc nuôi dưỡng. Kết quả theo dõi về chiều đo vòng ngực của cừu trong điều kiện nuôi  
trong 3 tháng thể hiện qua bảng 7 cho thấy, tốc độ tăng trưởng vòng ngực của cừu thấp  
nhất vào giai đoạn từ ngày 1 đến ngày 15. Giai đoạn từ 60 đến 75 là giai đoạn tăng  
trưởng vòng ngực cao nhất với mức tăng trưởng giao động từ 3,7-3,8cm. Điều này phù  
hợp với mức tiêu thụ thức ăn ở giai đoạn 60-75 là rất cao, nên khả năng tăng trưởng của  
cừu cũng phát triển tỉ lệ thuận. Ở giai đoạn 15 ngày đầu tiên khi thí nghiệm, khả năng sử  
dụng thức ăn của cừu thấp hơn, nên tốc độ tăng trưởng không cao.  
Bảng 7. T c độ  ăng  rưởng vòng ngực của cừu sau 90 ngày  
Ngày  
ĐC (cm)  
NT1 (cm)  
47,5 ± 1,5  
50,1 ± 1,5  
52,0 ± 1,6  
54,2 ± 1,4  
56,6 ± 1,2  
60,3 ± 1,3  
61,5 ± 1,4  
NT2 (cm)  
47,2 ± 1,4  
50,1 ± 1,7  
52,4 ± 1,5  
54,3 ± 1,5  
56,5 ± 1,4  
60,2 ± 1,3  
61,7 ± 1,5  
NT3 (cm)  
47,7 ± 1,6  
50,3 ± 1,4  
52,1 ± 1,7  
54,3 ± 1,6  
56,4 ± 1,5  
60,1 ± 1,4  
62,3 ± 1,4  
1
47,9 ± 1,7  
15 50,3 ± 1,4  
30 52,2 ± 1,7  
45 54,6 ± 1,5  
60 56,9 ± 1,4  
75 60,7 ± 1,4  
90 62,2 ± 1,6  
Kết quả theo dõi về chiều đo vòng ngực ở nghiên cứu của Ngô Thành Vinh  
(2014), chiều đo vòng ngực của cừu nuôi ở Ninh Thuận và nuôi ở Ba Vì ở các thời điểm  
3;6 tháng lần lượt là 59,27; 63,17cm và 58,77; 62,17cm. Như vậy, chiều đo vòng ngực  
của cừu trong nghiên cứu này khi sử dụng thức ăn ủ chua có tốc độ tăng trưởng tương  
đương so với nghiên cứu trước đây khi cừu được nuôi chăn thả kết hợp bổ sung tại  
chuồng cám hỗn hợp và cỏ voi xanh.  
Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng vòng ngực giữa các nghiệm thức với nhau có sự  
chênh lệch không đáng kể và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > .05). Điều  
này chứng tỏ các nguồn thức ăn ủ chua khi bổ sung vào khẩu phần không ảnh hưởng  
khác biệt đến tốc độ tăng trưởng vòng ngực của cừu.  
45  
3.4. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng thức ăn ủ chua  
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế khi sử dụng thức ăn ủ chua bổ sung trong chăn  
nuôi cừu, chúng tôi đã tính lượng thức ăn từng loại theo khẩu phần cừu sử dụng trong  
ngày và tạm tính đơn giá từng loại theo thực tế tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Chăn  
nuôi. Tổng chi phí thức ăn của cừu trong ngày được thể hiện qua bảng 8.  
Ở đây, cỏ voi xanh được tạm tính là 0 (đồng), vì cỏ voi xanh được trồng và cắt tại  
trung tâm Công nghệ Sinh học Chăn nuôi Phú Mỹ, Bình Dương. Chi phí nhân công không  
được ghi vào bảng tính này. Tổng chi phí thức ăn của Cừu sử dụng trong ngày ở nghiệm  
thức đối chứng là cao nhất với tổng thành tiền là 11.800 (đồng). Các nghiệm thức còn lại có  
tổng chi phí tiêu thụ trong ngày dao động từ 3.000-3.500 (đồng). Như vậy, khi sử dụng thức  
ăn ủ chua có thể giảm chi phí xuống hơn 50% so với sử dụng cám hỗn hợp.  
Bảng 8. Tổng chi phí cừu Phan Rang sử d ng trong ngày của các nghiệm th c  
Nghiệm thức  
Loại thức ăn  
Trung bình khối  
lượng sử dụng  
(kg/con/ngày)  
Đơn giá  
(đồng/kg)  
Thành tiền  
(Đồng/con/ngày)  
Cỏ voi xanh  
2,4  
0
0
Đối chứng  
Cám tổng hợp  
1,35  
8.800  
11.880  
11.800  
0
Tổng chi phí thức ăn của nghiệm thức Đối chứng:  
Cỏ voi xanh  
Cám tổng hợp  
Điều ủ  
2,2  
0,2  
1,3  
0
Nghiệm thức 1  
Nghiệm thức 2  
Nghiệm thức 3  
8.800  
1.000  
1.760  
1.300  
3.060  
0
Tổng chi phí thức ăn của nghiệm thức 1:  
Cỏ voi xanh  
Cám tổng hợp  
Thân ngô ủ  
2,3  
0,2  
1,3  
0
8.800  
1.000  
1.760  
1.300  
3.060  
0
Tổng chi phí thức ăn của nghiệm thức 2:  
Cỏ voi xanh  
Cám tổng hợp  
Bã mì ủ  
2,3  
0,2  
1,5  
0
8.800  
1.000  
1.760  
1.500  
3.260  
Tổng chi phí thức ăn của nghiệm thức 3:  
Nếu chi phí thức ăn cho cừu được giảm 50% thì chăn nuôi có hiệu quả kinh tế  
hơn, người chăn nuôi sẽ tăng lợi nhuận nhiều hơn. Mặt khác, khi sử dụng thức ăn ủ chua  
cũng góp phần hạn chế được vấn đề ô nhiễm môi trường từ các bã thải nông nghiệp.  
4. Kết luận  
Khẩu phần có bổ sung các loại thức ăn ủ chua không ảnh hưởng đáng kể đến tốc  
độ tăng trưởng khối lượng, dài thân chéo và vòng ngực của cừu Phan Rang. Cừu có tốc  
độ tăng trưởng khối lượng cao nhất khi sử dụng thức ăn bã mì ủ chua. Có thể tận dụng  
thân ngô, bã mì và quả điều giả ủ chua để làm thức ăn bổ sung cho cừu, giúp giảm được  
chi phí chăn nuôi và góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường. Cần tiếp tục khảo sát các  
chỉ số sinh lí, sinh hóa máu, nước tiểu của cừu trong điều kiện sử dụng thức ăn ủ chua.  
46  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Số 2(51)-2021  
[1] Akhtar M., Javed K., Abdullah M., Ahmad N. and Elzo M. A (2012). Environmental factors  
affecting preweaning growth traits of Buchi sheep in Pakistan. J. Amin. Plant Sci. 22(3),  
529-536, 139.  
[2] Devendra C. (2005). Small ruminant in Asia: Contribution to food security, poverty  
alleviation and opportunities for productivity enhancement. In International Workshop on  
Small Ruminant production and Development in South East Asia. Ha Noi, Vietnam, 2-4  
Mach, pp.19-33.  
[3] Đinh Văn Bình và Ngô Thành Vinh (2010).  g   n c   đ n  g     ả năng  ản   ấ  của  
g  ng cừ    an  ang n ậ   ừ   n  T  ận  a   0 nă  n ô   ạ    ền B c   ệ   a . Báo  
cáo tổng kết kết quả thực hiện đề tài khoa học công nghệ năm 2006 đến năm 2010.  
[4] Vũ Chí Cương, Nguyễn Đức Chuyên, Đinh Văn Tuyền, Phạm Bảo Duy, Bùi Thị Thu Hiền,  
Nguyễn Viết Đôn, Nguyễn Văn Quân và Lê Thị Oanh (2010). Ảnh hưởng của giống, loài  
gia súc đến tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn thô dùng cho gia súc  
nhai lại. Tạp chí Khoa học Công nghệ C ăn n ô   24, 37-45.  
[5] Kate Phillips and Karen Wheeler (2008). Final report: Investigation of the variation in  
lamb quality of winter finishing systems. Ref: XLB1424.  
[6] Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Đức Tưởng, Khúc Thị Huệ, Phạm Trọng Đại, Trần Văn Nghĩa,  
Đinh Văn Bình, Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Thị Duyên (2006). Nghiên c u tập tính sinh  
hoạ   ăn   ng và nhai lại của dê Bách Thảo và cừu Phan Rang nuôi tại Ninh Thuận. Báo  
cáo khoa học Viện Chăn nuôi.  
[7] Bùi Xuân Lợi (2014). Đ n  g     ả năng   íc   ng của gi ng cừu Phan Rang nuôi ở Thừa  
Thiên Huế (Luận án Tiến sĩ). Đại học Huế.  
[8] Ngô Thành Vinh (2014). Nghiên c     n   rưởng, sinh sản, cho thịt và một s  giải pháp  
nâng ca  năng   ất thịt của cừu Phan Rang (Luận án Tiến sĩ ). Viện Chăn nuôi.  
[9] Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Xuân Bả và Bùi Văn Lợi (2008). Đánh giá giá trị dinh dưỡng  
của bả sắn công nghiệp ủ chua với các phụ gia để làm thức ăn cho gia súc nhai lại. Tạp chí  
Khoa học Đại học Huế, 46, 129-135.  
[10]Nguyễn Hải Quân và Nguyễn Xuân Bá (2008). Ảnh hưởng của mức bổ sung bả sắn ủ chua  
đến lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa và một số chỉ tiêu môi trường dạ cỏ của cừu được nuôi  
bằng rơm lúa. Tạp chí Khoa học Đại học Huế, 46, 97-105.  
[11]Đoàn Đức Vũ, Vương Ngọc Long và Hồ Quế Anh (2006). Đặc điểm ngoại hình thể chất và  
khả năng sinh sản của giống cừu Phan Rang. Tạp chí Khoa học Công nghệ C ăn n ô    0,  
11-13.  
47  
pdf 8 trang yennguyen 16900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát các chỉ tiêu sinh trưởng của cừu Phan Rang khi sử dụng thức ăn ủ chua", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_cac_chi_tieu_sinh_truong_cua_cuu_phan_rang_khi_su_d.pdf