Kết quả điều trị phẫu thuật gãy đầu dưới hai xương cẳng chân bằng kỹ thuật ít xâm lấn tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021  
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT GÃY ĐẦU DƯỚI  
HAI XƯƠNG CẲNG CHÂN BẰNG KỸ THUẬT ÍT XÂM LẤN  
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN  
Nguyễn Thế Anh*, Nguyễn Quốc Huy*, Nguyễn Văn Sửu*  
Hoàng Văn Dung**, Nguyễn Ngọc Sơn**  
La Cafinière classification:very good and good union  
83,87% regular 16,13%. Time averaged union is 19,3  
TÓM TẮT21  
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật  
gãy đầu dưới hai xương cẳng chân bằng kỹ thuật ít  
xâm lấn tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Đối  
tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô  
tả cắt ngang 31 bệnh nhân gãy đầu dưới hai xương  
cẳng chân được kết hợp xương nẹp vít ít xâm lấn  
(MIPO: Minimal invassive plate osteosynthesis). Kết  
quả: Nguyên nhân chấn thương chủ yếu là do tai nạn  
giao thông 70,97%. Phân loại theo AO: gãy loại A1  
54,84%, gãy loại A2 25,81% và gãy loại A3 19,35%.  
Thời gian nằm viện trung bình là 7,13 ±1,76 ngày. Kết  
quả nắn chỉnh giải phẫu theo tiêu chuẩn của Larson  
và Bostman tốt và rất tốt với tỉ lệ là 83,87%, trung  
bình chiếm 16,13%. Kết quả liền xương theo tiêu  
chuẩn của JL Haas và JY De La Cafinière: xương liền  
tốt và rất tốt chiếm 83,87%, liền xương trung bình  
chiếm 16,13%. Thời gian liền xương trung bình 19,3  
tuần. Kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm  
AOFAS tốt và rất tốt chiếm tỉ lệ 87,1%, trung bình  
chiếm tỉ lệ 12,9%, không có kết quả phục hồi kém.  
Kết quả chung: tốt và rất tốt chiếm tỉ lệ cao 87,1%,  
trung bình chiếm tỉ lệ 12,9%. Kết luận: MIPO là  
phương pháp điều trị tốt đối với gãy đầu dưới xương  
chày, làm giảm tổn thương phần mềm trong phẫu thuật.  
Từ khoá: Kết hợp xương bằng nẹp vít ít xâm lấn,  
đầu dưới xương chày, nẹp khoá.  
weeks. AOFAS results were excellent and good at 87,1  
%. Overall results: Excellent and good accounted for  
87,1%, regular 12,9%. Conclusion: MIPO is an  
effective method of treatment for distal tibia fractures,  
decreases surgical trauma to soft tissues.  
Keywords: MIPO, distal tibial, locking plate  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Gãy đầu dưới hai xương cẳng chân là thương  
tổn thường gặp, chiếm tỉ lệ 7- 10% các thương  
tổn hai xương cẳng chân và luôn đặt ra những  
khó khăn, thách thức trong điều trị. Điều trị bảo  
tồn bằng nắn chỉnh kín, bó bột đã được Bohler  
đề xướng và thu được nhiều thành công với  
khung kéo nắn của Bohler, tạo ra sự chùng các  
khối cơ ở cẳng chân, nắn chỉnh để đạt được về  
mặt giải phẫu, sau đó bó bột. Tuy nhiên khi ổ  
gãy phức tạp, đường gãy chéo xoắn dễ di lệch  
thứ phát trong bột, nhất là sau khi hết phù nề.  
Điều trị phẫu thuật mở ổ gãy kết hợp xương bên  
trong, thường phải lấy bỏ khối máu tụ quanh ổ  
gãy và những mãnh xương vụn là những yếu tố  
góp phần hình thành can xương, gây tổn thương  
thêm phần mềm xung quanh, cũng như màng  
xương, làm tổn thương mạch máu nuôi xương.  
Do đó, nguy cơ chảy máu sau mổ, nguy cơ toác  
vết mổ, nhiễm trùng, chậm liền xương cao. Nắn  
chỉnh kín hoặc mở ổ gãy kết hợp xương bên  
ngoài bằng khung cố định ngoài có ưu điểm có  
thể cố định ổ gãy vững chắc và tạo liền xương  
kỳ đầu, tuy nhiên hay gặp biến chứng nhiễm  
trùng chân đinh và di lệch ổ gãy thứ phát do  
lỏng đinh, tỳ đè sớm. Đặc biệt vấn đề nhiễm  
trùng sau mổ đã gây không ít khó khăn trong  
điều trị, nhất là khi viêm xương .  
SUMMARY  
RESULTS OF TREATMENT DISTAL TIBIAL  
FRACTURE BY MINIMALLY INVASIVE  
PLATE OSTEOSYNTHESIS AT THAI NGUYEN  
NATIONAL HOSPITAL  
Objective: Result evaluation of treatment distal  
tibial  
fracture  
by  
minimally  
invasive  
plate  
osteosynthesis. Subject and method: A cohort  
study 31 patients with distal limb fracture were  
performed by minimally invasive plate osteosynthesis.  
Results: The cause of the injury is mainly due to  
traffic  
accident  
70,97%.  
According  
to  
AO  
classification: 54,84% type A1 fracture, 25,81% type  
A2 fracture and 19,35% type A3 fracture. The average  
time in hospital was 7,13 ±1,76 days. According to  
Larson and Bostman classification: very good and  
good at 83,87%, regular 16,13%. JL Haas and JY De  
Nắn chỉnh kín và kết hợp xương bằng nẹp vít  
xâm lấn tối thiểu dưới màn hình tăng sáng  
(MIPO - Minimal invassive plate osteosynthesis)  
là phương pháp có nhiều ưu điểm. Phẫu thuật  
viên chỉ rạch da tối thiểu, nắn chỉnh lại ổ gãy và  
luồn dụng cụ kết hợp xương. Do vậy, hạn chế  
tổn thương thêm da và tổ chức phần mềm dưới  
da cũng như xương và màng xương, khối máu tụ  
quanh ổ gãy và những mảnh xương vụn được  
giữ gần như nguyên vẹn, giúp cho sự liền xương  
nhanh, tập vận động sớm.  
*Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên  
**Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thế Anh  
Ngày nhận bài: 4.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 23.4.2021  
Ngày duyệt bài: 5.5.2021  
85  
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này với đánh giá kết quả nắn chỉnh ổ gãy dựa vào phim  
mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật X quang sau mổ theo tiêu chuẩn của Larson và  
gãy đầu dưới hai xương cẳng chân bằng kỹ thuật Bostman.  
ít xâm lấn tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.  
- Kết quả xa: Thời gian liền xương dựa vào  
phim X quang theo tiêu chuẩn của JL Haas và JY  
De La Cafinière, kết quả phục hồi chức năng  
(PHCN) theo thang điểm American Orthopaedic  
Foot and Ankle Score (AOFAS).  
- Kết quả chung: Sẹo mổ, liền xương tại ổ  
gãy theo tiêu chuẩn đánh giá kết quả liền xương  
của JL Haas và JY De La Cafinière, biến chứng,  
tiêu chuẩn PHCN theo thang điểm AOFAS.  
5. Xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng phần  
mềm thống kê y học STATA 10.0.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
1. Đối tượng: Gồm 31 bệnh nhân gãy đầu  
dưới hai xương cẳng chân được mổ kết hợp  
xương bằng nẹp khoá kỹ thuật ít xâm lấn  
(MIPO), được theo dõi và tái khám định kỳ tại  
Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ năm 2016  
đến 2018.  
2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh  
nhân gãy kín hoặc gãy hở độ I đầu dưới hai  
xương cẳng chân, gãy đơn thuần xương chày  
phân loại theo AO. Được khám lâm sàng, cận  
lâm sàng đầy đủ.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Bảng 1. Phân bố bệnh theo nhóm tuổi  
3. Tiêu chuẩn loại trừ: Những trường hợp  
gãy hai xương cẳng chân do bệnh lý. Những  
trường hợp gãy hở độ II, III theo phân độ  
Gustilo, bệnh nhân có tổn thương phần mềm  
nặng. Thông tin hồ sơ bệnh án không đầy đủ.  
4. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt  
ngang không đối chứng.  
+ Các bước phẫu thuật:  
- Tư thế bệnh nhân: Bệnh nhân nằm ngửa  
trên bàn mổ  
Nhóm tuổi  
18-30  
31-50  
> 50  
Tổng số  
Số BN  
15  
11  
5
31  
Tỉ lệ (%)  
48,39  
35,48  
16,13  
100  
Nhóm tuổi 18-50 chiếm tỉ lệ cao là 83,87%,  
đây là độ tuổi lao động chính. Tuổi trung bình là  
35,72 ± 13,39, lớn tuổi nhất là 63, nhỏ tuổi nhất  
là 18.  
Bảng 2. Nguyên nhân gây tai nạn  
Số bệnh  
- Gãy xương mác có chỉ định mổ sẽ tiến hành  
làm nẹp vít xương mác trước.  
Nguyên nhân  
Tỉ lệ %  
nhân  
22  
6
Tai nạn giao thông  
Tai nạn sinh hoạt  
Khác  
70,97  
19,35  
9,68  
- Gãy xương chày: Chuẩn bị nẹp vít khoá đầu  
xa xương chày, định vị nẹp trên da, rạch da ở vị  
trí đầu xa và đầu gần của nẹp theo đường trước  
trong xương chày, mỗi đường rạch khoảng 2-3  
cm, dùng dụng cụ lóc mô dưới da và luồn nẹp.  
- Nắn chỉnh trục xương và các mảnh gãy lớn  
bằng tay theo mặt phẳng trong ngoài  
- Kiểm tra dưới C- arm xương chày mặt  
phẳng trong - ngoài và mặt phẳng trước - sau  
đến khi thẳng trục và chấp nhận được.  
- Bắt 1 hoặc 2 vít đầu ngoại vi, sau đó bắt 1  
vít đầu trung tâm.  
3
31  
Tổng số  
100  
Nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông  
chiếm tỉ lệ 70,97% các trường hợp.  
Bảng 3. Phân độ gãy xương theo AO  
Mức độ  
Độ A1  
Độ A2  
Độ A3  
Tổng số  
Số BN  
17  
8
6
31  
Tỉ lệ(%)  
54,84  
25,81  
19,35  
100  
Gãy loại A1 chiếm tỉ lệ cao nhất 54,84%.  
+ Trong nghiên cứu của chúng tôi có 9 BN có  
gãy xương mác kèm theo trong đó có 4 ca gãy  
thấp gây mất vững khớp cổ chân nên được mổ  
kết xương bằng nẹp vít, 5 ca còn lại gãy cao và  
di lệch ít nên chúng tôi không kết xương mà bất  
động thêm bằng nẹp bột cẳng bàn chân.  
+ Thời gian nằm viện trung bình là 7,13 ± 1,76  
ngày. Ngắn nhất là 6 ngày, dài nhất là 10 ngày.  
+ Thời gian theo dõi trung bình là 9,12 ±  
2,11 tháng  
- Kiểm tra lại ổ gãy trên C- arm.  
- Bắt các vít còn lại.  
Hình 1. Luồn nẹp dưới da  
+ Đánh giá sau mổ:  
- Kết quả gần: Đánh gía tình trạng vết mổ,  
+ Tất cả các trường hợp đều không có nhiễm  
trùng vết mổ.  
86  
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021  
Bảng 4. Kết quả nắn chỉnh ổ gãy theo  
Trung bình  
5
31  
16,13  
100  
tiêu chuẩn Larson và Bostman  
Tổng  
Kết quả  
Rất tốt  
Tốt  
Số BN  
18  
8
Tỉ lệ(%)  
58,06  
25,81  
Đa số các trường hợp được nắn chỉnh tốt và  
rất tốt với tỉ lệ là 83,87%. Nắn chỉnh ở mức  
trung bình chiếm 16,13%.  
Bảng 5. Kết quả liền xương theo độ gãy xương  
Kết quả liền xương  
Tổng  
Độ gãy xương  
Rất tốt  
Tốt  
Trung bình  
BN  
17  
1
%
BN  
0
%
BN  
0
%
0
A1  
A2  
A3  
54,84  
3,225  
0
0
17  
8
6
7
22,58  
3,225  
0
0
0
1
8
5
16,13  
Tổng  
18  
58,065  
25,805  
5
16,13 31 (100%)  
Liền xương kết quả tốt và rất tốt có 26 bệnh cơ năng cho bệnh nhân và trả lại sức lao động  
nhân chiếm 83,87%, chủ yếu trong nhóm gãy cho họ.  
A1 và A2, liền xương trung bình có 5 bệnh nhân  
2. Đặc điểm X quang: Phân loại gãy xương  
chiếm 16,13%. Kết quả liền xương có sự khác trong nghiên cứu dựa theo phân loại của AO. Tất  
biệt có ý nghĩa thống kê giữa loại gãy A3 và 2 cả bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi  
loại còn lại với p< 0,05.  
Bảng 6. Kết quả PHCN theo thang điểm  
AOFAS  
đều là gãy loại A, là gãy đầu dưới hai xương  
cẳng chân ngoài khớp. có 17 bệnh nhân gãy loại  
A1 chiếm 54,84%, 8 bênh nhân gãy loại A2  
chiếm 25,81%, 6 bệnh nhân gãy loại A3 chiếm  
19,35%. Theo nghiên cứu của Hoàng Thanh Hà  
có 16 BN loại A1, 4 BN loại A2, 17 loại A3 và 1  
loại C1 [1].  
Theo Rakesh kỹ thuật MIPO nên áp dụng với  
loại gãy ngoài khớp (loại A) hoặc đường gãy đơn  
thuần vào khớp, diện khớp không di lệch (loại  
B1, C1) [7]. Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều  
tác giả sử dụng kỹ thuật này cho gãy phạm khớp  
di lệch nhiều: Cheng W tiến hành trên 28 bệnh  
nhân, trong đó có gãy loại B2, B3, C3 phần lớn  
kết quả tốt, có 1 trường hợp gãy B2 chậm liền,  
1ca khác gãy nẹp. Lau T. W nghiên cứu 48 BN  
có 51% gãy loại A, 35% loại B, 14% loại C kết  
quả tốt chiếm đa số [9].  
Kết quả  
Rất tốt  
Tốt  
Trung bình  
Tổng  
Số BN  
Tỉ lệ (%)  
61,29  
19  
8
25,81  
4
12,90  
100  
31  
Kết quả tốt và rất tốt chiếm tỉ lệ cao 87,1 %,  
trung bình chiếm tỉ lệ 12,9 %, không có kết quả  
phục hồi kém.  
Bảng 7. Kết quả chung  
Kết quả  
Rất tốt  
Tốt  
Số BN  
18  
9
Tỉ lệ (%)  
58,06  
29,04  
Trung bình  
Tổng  
4
31  
12,90  
100  
Kết quả tốt và rất tốt chiếm tỉ lệ cao 87,1%,  
trung bình chiếm tỉ lệ 12,9%.  
3. Kết quả gần:  
+Thời gian nằm viện trung bình là 7,13  
±1,76 ngày. Ngắn nhất là 6 ngày, dài nhất là 10  
ngày. Theo Hoàng Thanh Hà thời gian nằm viện  
trung bình là 5,45 ngày (ngắn nhất 3 ngày, dài  
nhất 14 ngày) [1]. Các tác giả nước ngoài:  
Cheng W 2011 là 12,1 ± 3,7 ngày [10]. Như vậy  
kết quả của chúng tôi phù hợp với tác giả trong  
nước, nhưng ngắn hơn so với các tác giả nước  
ngoài. Tuy nhiên trong nghiên cứu của các tác  
giả nước ngoài tiêu chuẩn chọn bệnh nhân rộng  
rãi hơn (gãy hở độ II, IIIA theo Gustilo và gãy  
loại B,C theo AO), nên điều này là phù hợp. Như  
vậy thời gian nằm viện ngắn là một trong những  
ưu điểm của phương pháp này.  
IV. BÀN LUẬN  
1. Tuổi: Trong 31 bệnh nhân nghiên cứu tuổi  
cao nhất là 63, tuổi nhỏ nhất là 18, tuổi trung  
bình là 35,72. Trong đó nhóm bệnh nhân 18 - 50  
tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 83,87%. Theo nghiên  
cứu của Nguyễn Văn Trường tuổi trung bình là  
41,6; nhóm 19- 45 tuổi chiếm 49,1% [3]; và  
Trần Hoàng Tùng nhóm 16- 59 tuổi là 88,4%  
[5]. Nghiên cứu 79 bệnh nhân của Rakesh K.  
tuổi trung bình là 36 tuổi, nhóm tuổi 17- 58  
chiếm đa số [7].  
Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi  
cũng phù hợp với các nghiên cứu trên, chủ yếu ở  
độ tuổi lao động. Nhóm tuổi này đang trong độ  
tuổi học tập và lao động chính của xã hội nên  
việc điều trị phải sớm để nhanh chóng phục hồi  
+Tình trạng vết mổ: Trong nghiên cứu chúng  
tôi không gặp trường hợp nào nhiễm trùng sau  
87  
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
mổ. Theo Hoàng Thanh Hà, nghiên cứu 38 BN hơn và dẫn đến chậm liền xương.  
không ca nào nhiễm trùng [1]. Trần Hoàng Tùng  
+ Kết quả phục hồi chức năng: Trong nghiên  
tỉ lệ nhiễm trùng nông là 7,89%; nhiễm trùng cứu này chúng tôi sử dụng thang điểm AOFAS  
sâu là 2,64% [5]. Các tác giả nước ngoài tỉ lệ để đánh giá kết quả PHCN. Kết quả tốt và rất tốt  
nhiễm trùng tương đối thấp: Hazarika S có 1/20 chiếm tỉ lệ cao 87,1 %, trung bình chiếm tỉ lệ  
trường hợp nhiễm trùng [8]. Lau T.W có 8/48 12,9 %, không có kết quả phục hồi kém. Theo  
trường hợp nhiễm trùng [9]. Rakesh K. Gupta Trần Hoàng Tùng tỉ lệ tốt và rất tốt chiếm  
nghiên cứu 80 BN trong đó 71 BN làm kỹ thuật 94,74%. Phan Văn Ngọc và CS tỉ lệ tốt và rất tốt  
MIPO có 1 trường hợp nhiễm trùng [10]. Điều là 90% [4]. Như vậy kết quả PHCN trong nghiên  
này có thể hiểu được bởi điều kiện, trang bị y tế cứu của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu  
ở những nơi thực hiện nghiên cứu là rất tốt.  
khác. Nguyên nhân là do trong 31 bệnh nhân có  
+ Kết quả nắn chỉnh: Sự nắn chỉnh xương 5 trường hợp nắn chỉnh xương đạt mức trung  
gãy không tốt về mặt giải phẫu sẽ dẫn đến sự bình sau mổ. Cũng có thể do những chấn  
liền xương kém hơn, can lệch và ảnh hưởng xấu thương vùng này gần khớp cổ chân nên trong  
đến cơ năng của bệnh nhân như: viêm khớp, quá trình tập luyện bệnh nhân đau nhiều kết hợp  
ngắn chi, đi lại khó khăn gây đau cho bệnh với sự hiểu biết của bệnh nhân còn ít về tập  
nhân. Bệnh nhân sau mổ được tiến hành chụp luyện nên chưa tích cực tập luyện khớp cổ chân.  
Xquang để kiểm tra. Trong nghiên cứu của mình Tuy nhiên đây vẫn là một kết quả khả quan cho  
chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn của Larson và thấy những ưu điểm của kỹ thuật ít xâm lấn.  
Bostman để đánh giá kết quả phẫu thuật. Đa số  
+ Biến chứng: Trong 31 bệnh nhân của nhóm  
các trường hợp được nắn chỉnh tôt và rất tốt với nghiên cứu không có trường hợp nào viêm  
tỉ lệ là 83,87%. Nắn chỉnh ở mức trung bình xương, chậm liền xương, khớp giả, gãy nẹp vít.  
chiếm 16,13%.  
Kết quả tương tự như trong nghiên cứu của  
4. Kết quả xa: Chúng tôi khám lại bệnh Hoàng Thanh Hà [1] và nhiều tác giả khác.  
nhân sau mổ trung bình là 9,12 tháng.  
V. KẾT LUẬN  
+ Kết quả liền xương: dựa theo bảng đánh giá  
Qua nghiên cứu điều trị 31 bệnh nhân gãy  
của JL Haas và JY De La Cafiniere. Liền xương kết  
đầu dưới hai xương cẳng chân bằng kết hợp  
quả tốt và rất tốt có 26 bệnh nhân chiếm  
xương nẹp vít ít xâm lấn (MIPO), chúng tôi thấy:  
Tuổi trung bình 36,75 ± 15,48, nhóm tuổi 18 -  
50 chiếm tỉ lệ cao 83,87%. Nguyên nhân chấn  
thương chủ yếu là do tai nạn giao thông  
83,87%, chủ yếu trong nhóm gãy A1 và A2, liền  
xương trung bình có 5 bệnh nhân chiếm 16,13%.  
Thời gian liền xương trung bình là 19,3 tuần.  
Theo Hoàng Thanh Hà, thời gian liền xương trung  
70,97%. Theo AO: Gãy loại A1 chiếm tỉ lệ cao  
bình là 13,84 tuần (biến thiên 10-20 tuần) [1].  
nhất 54,84%.  
Thời gian nằm viện trung bình là 7,13 ±1,76  
ngày, không có trường hợp nào nhiễm trùng. Kết  
quả nắn chỉnh giải phẫu theo tiêu chuẩn của  
Larson và Bostman Đa số các trường hợp được  
nắn chỉnh tốt và rất tốt với tỉ lệ là 83,87%, trung  
bình chiếm 16,13%. Kết quả liền xương theo tiêu  
chuẩn của JL Haas và JY De La Cafinière: Liền  
xương kết quả tốt và rất tốt có 26 bệnh nhân  
chiếm 83,87%, chủ yếu trong nhóm gãy A1 và  
A2, liền xương trung bình có 5 bệnh nhân chiếm  
16,13%. Thời gian liền xương trung bình 19,3  
tuần. Kết quả phục hồi chức năng theo thang  
điểm AOFAS kết quả tốt và rất tốt chiếm tỉ lệ cao  
Tác giả Nguyễn Văn Trường nghiên cứu 46 BN  
gãy hở đầu xa cẳng chân bằng cố định ngoài thời  
gian liền xương trung bình là 22,8 tuần, trong đó  
60,9% trường hợp liền xương rất tốt và tốt [3].  
Trần Hoàng Tùng 31/38 BN liền xương sau khám  
lại 6 tháng [5]. Theo Collinge 38/38 ca liền  
xương, liền xương trung bình 21 tuần (9- 48 tuần)  
[6]. Như vậy nghiên cứu của chúng tôi cũng phù  
hợp với nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài  
nước. Điều này cho thấy kỹ thuật MIPO cho kết  
quả liền xương sớm.  
Theo bảng 5 ta thấy có sự khác biệt về kết  
quả liền xương giữa các loại gãy. Gãy loại A1, A2  
có kết quả liền xương tốt chiếm đa số, loại gãy  
87,1%, trung bình chiếm tỉ lệ 12,9%, không có  
kết quả phục hồi kém.  
A3 kết quả liền xương trung bình chiếm tỉ lệ cao,  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.  
Theo Michael W.Chapman gãy phức tạp tiên  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
lượng về nắn chỉnh trong mổ khó hơn gãy đơn  
giản, đồng thời những loại gãy này làm đứt hoàn  
toàn hoặc phần lớn những mạch máu bên trong  
màng xương dẫn đến sự nuôi dưỡng ổ gãy kém  
1. Hoàng Thanh Hà, Trần Chí Khôi (2013), Ðiều  
trị gãy đầu dưới xương chày bằng nẹp vít, phẫu  
thuật ít xâm lấn, Tạp chí Hội nghị thường niên lần  
XX Hội CTCH Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 81 - 83.  
88  
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021  
2. Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Tiến Bình (2009),  
6. Collinge C, Protzman R (2010), Outcomes of  
Ðiều trị gãy hở và di chứng hai xương cẳng chân,  
Nhà xuất bản Y học.  
minimally invasive plate osteosynthesis for  
metaphyseal distal tibia fractures,  
Trauma. 24(1), pp. 4-9.  
J
Orthop  
3. Nguyễn Văn Trường (2012), Ðánh giá kết quả  
điều trị gãy hở đầu xa hai xương cẳng chân bằng  
cố định ngoài tại bệnh viện hữu nghị Việt Ðức,  
Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội.  
4. Phan Văn Ngọc và cs (2019), Điều trị gãy đầu  
dưới xương chày bằng kỹ thuật ít xâm lấn tại bệnh  
viện Sài Gòn Ito Phú Nhuận, Tạp chí Chấn Thương  
Chỉnh Hình số đặc biệt, tr. 195- 203.  
5. Trần Hoàng Tùng (2006), Ðiều trị kết hợp  
xương nẹp vít gãy kín hai xương cẳng chân bằng  
kĩ thuật ít xâm lấn, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội  
trú, Đại học Y Hà Nội.  
7. Rakesh K. Gupta et al (2010), Locking plate  
fixation in distal metaphyseal tibial fractures:  
series of 79 patients, Int Orthop. 34(8), pp. 85-90.  
8. Hazarika S, Chakravarthy J, Cooper J (2006),  
Minimally invasive locking plate osteosynthesis for  
fractures of the distal tibia - results in 20 patients,  
Injury. 37(9), pp. 77-87.  
9. Lau T. W (2008), Wound complication of  
minimally invasive plate osteosynthesis in distal  
tibia fractures, Int Orthop. 32(5), pp. 697-703.  
THAY ĐꢀI THꢁ TÍCH KHÍ LƯU THÔNG Vꢂ COMPLIAN PHꢀI  
KHI HUY ĐꢃNG PHẾ NANG TRONG GÂY MÊ CHO  
PHẪU THUẬT ꢀ BꢄNG TRÊN NGƯꢅI CAO TUꢀI  
Lꢀi Văn Hoàn*, Công Quyết Thắng*,  
Lê Sáu Nguyên*, Nguyễn Thị Kim Oanh*.  
RECRUITMENT MANEUVERS DURING  
GENERAL ANESTHESIA FOR ABDOMINAL  
TÓM TẮT22  
Mục tiêu: Đánh giá thay đổi thể tích khí lưu thông  
và complian khi huy động phế nang trong phẫu thuật  
ổ bụng trên người cao tuổi. Đối tượng và phương  
pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng. Chọn bệnh  
nhân có ASA 1-3, tuổi ≥ 60, được gây mê nội khí quản  
để phẫu thuật ổ bụng. Bệnh nhân được chia làm 2  
nhóm, nhóm chứng 37 bệnh nhân thở máy với  
PEEP+5CmH2O, nhóm can thiệp 45 bệnh nhân được  
huy động phế nang với áp lực +40CmH2O và duy trì  
PEEP+5CmH2O. Cả hai nhóm được đánh giá sự thay  
đổi về thể tích khí lưu thông và độ giãn nở phổi trong  
quá trình gây mê. Kết quả: Thể tích khí lưu thông và  
độ đàn hồi phổi sau khi huy động phế nang cao hơn  
so với trước khi huy động (p<0,05). Nhóm huy động  
phế nang trước khi rút ống nội khí quản có Tv là  
415,4 ± 57,9 (ml/lần) và compliance là 46,9 ± 5,1  
(ml/cmH2O) cao hơn so với nhóm không huy động với  
Tv là 390,43 ± 73,26 (ml/lần) và Compliance là 43,8  
± 4,8 (ml/cmH2O). Kết luận: Huy động phế nang  
bằng áp lực +40cmH2O giúp cải thiện chỉ số thể tích  
khí lưu thông và độ đàn hồi phổi trên bệnh nhân cao  
tuổi được gây mê nội khí quản cho phẫu thuật ổ bụng.  
Từ khóa: Huy động phế nang, phẫu thuật ổ bụng,  
gây mê người cao tuổi.  
SURGERY IN THE ELDERLY  
Objective: Evaluate tidal volume and compliance  
for alveolar recruitment maneuvers undergoing  
general anesthesia for abdominal surgery in elderly.  
Subjects and Methods: A randomised controlled  
trials. Select patients with ASA 1-3, age ≥ 60 years,  
undergoing anesthesia for abdominal surgery. Control  
group enrolled 37 patients with PEEP + 5CmH2O, the  
intervention group enrolled 45 patients maneuver  
consisted to a peak inspiratory pressure of 40 cmH2O  
for 40s one hours and PEEP + 5CmH2O. Both groups  
were evaluated of tidal volume and compliance during  
anesthesia. Results: Tidal volume and compliance  
after alveolar mobilization were higher than before  
mobilization (p <0.05). The intervention before  
extubation with Tv was 415.4 ± 57.9 (ml/time) and  
compliance was 46.9 ± 5.1 (ml/cmH2O), higher than  
the control group with Tv is 390.43 ± 73.26 (ml/time)  
and Compliance is 43.8  
±
4.8 (ml/cmH2O).  
Conclusions: Alveolar recruitment maneuvers with  
pressure + 40cmH2O improves the Tidal volume and  
Compliance in elderly patients undergoing anesthesia  
for abdominal surgery.  
Keywords: Alveolar mobilization, abdominal  
surgery, anesthesia for elderly.  
SUMMARY  
EVALUATION OF TIDAL VOLUME AND  
COMPLIANCE FOR ALVEOLAR  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng  
phẫu thuật trên người cao tuổi ngày càng tăng.  
Có nhiều phương pháp vô cảm trong phẫu thuật,  
tuy nhiên phương pháp gây mê nội khí quản vẫn  
được lựa chọn cho các phẫu thuật lớn, can thiệp  
vào nhiều tổ chức có thời gian phẫu thuật kéo  
dài như phẫu thuật lớn vào ổ bụng... [2] Việc  
*Bệnh viện Hữu Nghị  
Chịu trách nhiệm chính: Công Quyết Thắng  
Email: vnanesth@gmail.com  
Ngày nhận bài: 5.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 22.4.2021  
Ngày duyệt bài: 29.4.2021  
89  
pdf 5 trang yennguyen 24440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị phẫu thuật gãy đầu dưới hai xương cẳng chân bằng kỹ thuật ít xâm lấn tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_phau_thuat_gay_dau_duoi_hai_xuong_cang_chan.pdf