Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và mức sẵn lòng trả giảm thiểu rủi ro sức khỏe trong sản xuất rau – Trường hợp điển hình ở huyện Bình Chánh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT  
VÀ MỨC SẴN LÒNG TRẢ GIẢM THIỂU RỦI RO SỨC KHỎE  
TRONG SẢN XUẤT RAU – TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH Ở HUYỆN  
BÌNH CHÁNH  
CURRENT STATUS OF PESTICIDE USE AND WILLINGNESS TO PAY (WTP) TO  
REDUCE HEALTHY RISKS OF VEGETABLE PRODUCTION ACTIVITIES –  
CASE STUDY IN BINH CHANH DISTRICT  
Ngày nhận bài: 26/02/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 28/03/2020  
Vũ Thị Ánh Ngọc, Nguyễn Kim Thoa, Nguyễn Minh Kỳ  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và khảo sát mức sẵn lòng  
trả (WTP) giảm thiểu rủi ro sức khỏe do tiếp xúc với thuốc BVTV và phân tích tác động biên liên  
quan. Sự lo lắng gia tăng nhanh chóng quá trình sử dụng thuốc gần đây và kết quả cho thấy nhóm  
sản xuất rau thường có xu hướng sử dụng nhiều hơn các loại thuốc BVTV, đồng thời vượt quá  
liều lượng khuyến cáo so với nhóm canh tác VietGAP. Ngoài ra, mô hình nghiên cứu góp phần  
giải thích sự thay đổi mức giá sẵn lòng trả của nông dân. Kết quả ước lượng xác định được các  
biến yếu tố tác động đến mức WTP. Trong đó, kết quả chỉ ra các biến khuyến nông (X3), thu nhập  
(X4), lượng thuốc BVTV nhóm I&II (X5), số lần tiếp xúc thuốc BVTV nhóm I&II (X7), biến giả GAP  
(GAP) có ý nghĩa về mặt thống kê.  
Từ khóa: Thuốc BVTV; mức sẵn lòng trả; rủi ro sức khỏe; VietGAP.  
ABSTRACT  
This study assessed the status of pesticide use and willingness to pay (WTP) surveys to reduce  
healthy risks due to exposure to pesticides and analyzed the marginal effects. In recent times, the  
concern about the use of pesticides is rising rapidly, the normal vegetable producers tended to use  
more pesticides and exceed recommended doses compared to VietGAP’s group. Furthermore, the  
regression model contributed to explain the changes in farmers' WTP. The estimation results  
represent the factors that can affect the WTP are variables. In which, the study showed agricultural  
promotion (X3), income (X4), the amount of pesticides group I&II (X5), the frequency of exposure  
of pesticides group I&II (X7) and the dummy variable GAP (GAP) were statistically significant.  
Keywords: Pesticides; willingness to pay; healthy risk; VietGAP..  
1. Đặt vấn đề  
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một  
trong những đe doa nghiêm trọng và có  
những tác động tiêu cực đối với môi trường  
và sức khoẻ con người (Damalas, 2009). Tổ  
chức Y tế thế giới ước tính mỗi năm có  
khoảng 3.000.000 trường hợp ngộ độc cấp  
tính thuốc trừ sâu và khoảng 20.000 ca tử  
vong mỗi năm chủ yếu ở các nước đang phát  
triển (WHO, 1990). Cùng với việc ứng dụng  
công nghiệp hóa chất trong sản xuất nông  
nghiệp, con số này đã tăng lên xấp xỉ 67.000  
người mỗi năm. Năm 2003 đã tăng lên rất  
nhanh số vụ ngộ độc thuốc BVTV, trong đó  
có khoảng 220.000 vụ tử vong (WHO, 2003).  
Ước lượng mỗi năm có khoảng 3% lao động  
trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển  
(25 triệu người) bị nhiễm độc thuốc BVTV  
(WHO, 2009).Tại Việt Nam, quá trình cải  
cách kinh tế và nông nghiệp những năm 1980  
đã gia tăng sử dụng hóa chất nông nghiệp,  
thuốc trừ sâu và kể cả một số loại thuốc cấm  
Vũ Thị Ánh Ngọc, Nguyễn Kim Thoa, Nguyễn  
Minh Kỳ, Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí  
Minh  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(01) - 2020  
và bị hạn chế vì độc tính cao (FAO, 2004).  
đó, đề tài “Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ  
thực vật và mức sẵn lòng trả giảm thiểu rủi  
ro sức khỏe trong sản xuất rau – Trường hợp  
điển hình ở huyện Bình Chánh” có ý nghĩa  
thực tiễn đối với việc đề xuất giải pháp thích  
hợp bảo vệ sức khỏe cộng đồng.  
Trong khi, người nông dân nước đang phát  
triển lại có khuynh hướng sử dụng thuốc trừ  
sâu với số lượng ngày càng gia tăng. Do đó,  
nguy cơ nông dân đối mặt rủi ro suy giảm  
sức khỏe nghiêm trọng do tiếp xúc thường  
xuyên với thuốc BVTV, đồng thời gây ảnh  
hưởng đến chất lượng môi trường và thiệt hại  
kinh tế.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan  
Khi dữ liệu thị trường không có sẵn hoặc  
không đáng tin cậy cho việc đánh giá một  
loại hàng hóa nào đó, các nhà kinh tế có thể  
áp dụng các phương pháp định giá ngẫu  
nhiên (Contigent Valuation Method – CVM)  
dựa vào việc xây dựng một thị trường giả  
định (Cookson, 2003). Thông qua thị trường  
giả định đó các nhà nghiên cứu có thể thăm  
dò WTP của các cá nhân cho một sự thay đổi  
về chất lượng. WTP thường được dùng trong  
các trường hợp cải thiện chất lượng môi  
trường hoặc mức sẵn lòng trả cho một loại  
hình dịch vụ nào đó. Có thể thấy, CVM đã  
được áp dụng rộng rãi trong đánh giá lĩnh  
vực kinh tế và sức khỏe con người (Diener et  
al., 1998; Hanley et al., 2003). Huỳnh Thị  
Như Quý (2012) đã sử dụng CVM để ước  
lượng mức sẵn lòng trả để giảm rủi ro khi sử  
dụng thuốc BVTV, trường hợp khảo sát điển  
hình tại huyện Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh).  
Quá trình xác định mức sẵn lòng trả của  
người dân để giảm rủi ro sức khỏe trong  
nghiên cứu thông qua các kịch bản điều tra.  
Đối với mức sẵn lòng trả WTP giảm thiểu rủi  
ro sức khỏe có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng  
liên quan việc sử dụng thuốc BVTV. Theo  
Garming & Waibel (2009) các biến giải thích  
Xi bao gồm đặc điểm nhân chủng học, yếu tố  
kinh tế - xã hội của người được phỏng vấn  
như tuổi tác, học vấn, thu nhập, chương trình  
khuyến nông, kinh nghiệm hay các biến liên  
quan khác như mức độ, liều lượng tiếp xúc  
với thuốc BVTV. Trên thế giới đã có nhiều  
nghiên cứu về mức sẵn lòng trả để giảm rủi  
Xuất phát từ đó, một số phương pháp  
canh tác mới như sản xuất rau an toàn (RAT)  
đã được nghiên cứu và ứng dụng nhằm giảm  
thiểu rủi ro từ thuốc BVTV cũng như mang  
lại lợi ích kinh tế cao. Tuy nhiên, các yêu cầu  
về việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất  
RAT chưa thực sự nghiêm ngặt. Điều đó có  
nghĩa, người nông dân trực tiếp tiếp xúc với  
thuốc vẫn còn nguy cơ ngộ độc cao. Thực tế  
hiện trạng sử dụng thuốc BVTV ở nước ta  
trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp  
ngày càng đa dạng. Ngoài ra, còn có hiện  
tượng phòng trừ liên tục một loại thuốc cho  
tới khi nhận thấy giảm sút mới chuyển sang  
thuốc khác. Năm 2008, Việt Nam đã ban  
hành Quyết định về quy trình thực hành sản  
xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an  
toàn (VietGAP). Sản xuất theo tiêu chuẩn  
VietGAP là hình thức cao của sản xuất RAT  
với những cải thiện trong cách sử dụng thuốc  
BVTV. Hiện nay, TP. Hồ Chí Minh có chín  
hợp tác xã (HTX) và 33 tổ hợp tác sản xuất  
RAT. Trong đó, HTX Phước An nằm trên địa  
bàn xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh là  
một trong những đơn vị chuyên trồng rau, củ  
sạch đạt chứng nhận VietGAP. Quá trình áp  
dụng sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn  
VietGAP có nhiều cải thiện so với phương  
thức sản xuất rau thông thường (RTT), đặc  
biệt là trong sử dụng thuốc BVTV. Nhằm  
xem xét các yếu tố liên quan đến thuốc  
BVTV tác động đến sản xuất và giảm thiểu  
rủi ro sức khỏe cho các hộ trồng rau, nghiên  
cứu được tiến hành dựa trên lý thuyết mức  
sẵn lòng trả (Willingness to pay - WTP). Do  
113  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
ro sức khỏe do ngộ độc thuốc trừ sâu. Kết  
quả Garming & Waibel (2009) cho thấy nông  
dân sẵn sàng chi tiêu 28% giá thuốc để tránh  
nguy cơ rủi ro về sức khỏe. Hơn nữa, một  
trong những mục tiêu mô hình nông nghiệp  
bền vững là loại bỏ hoặc giảm thiểu các  
nguồn ô nhiễm môi trường và nhân tố rủi ro  
sức khỏe con người (Shetty et al., 2011).  
* Phạm vi nghiên cứu: Xã Tân Quý Tây,  
huyện Bình Chánh là một xã nông nghiệp có  
diện tích là 145 ha đất trồng rau các loại, bình  
quân sản xuất 7 vụ rau/năm, mỗi ngày cung  
cấp gần 8 tấn rau. HTX gồm có 64 hội viên  
canh tác các loại rau củ. Trong đó, sản phẩm  
rau của 30 hội viên canh tác trên 13,9 ha đạt  
tiêu chuẩn VietGAP. HTX Phước An hiện nay  
là một trong những HTX trồng rau quy mô  
lớn, cung cấp 4-6 tấn rau/ngày cho 20 đơn vị  
lớn nhỏ, trong đó có bốn siêu thị lớn như  
Coopmart, Metro, Big C, Aeone và các trường  
học và công ty trên địa bàn thành phố.  
Các yếu tố tác động đến sản xuất và giảm  
thiểu rủi ro môi trường, sức khỏe liên quan  
đến thuốc BVTV được nhiều tác giả tiến  
hành nghiên cứu dựa trên lý thuyết mức sẵn  
lòng trả (Coulibaly et al., 2011; Khan &  
Damalas, 2015; Wang et al., 2018; Jahangir  
et al., 2018). Trong đó, Coulibaly et al.  
(2011) đánh giá nhận thức cộng đồng và  
mức sẵn lòng trả cho hoạt động không sử  
dụng thuốc trừ sâu. Năm 2015, Khan &  
Damalas thực hiện nghiên cứu giảm thiểu  
rủi ro thuốc trừ sâu thông qua khảo sát nông  
dân ở Pakistan. Tương tự, tác giả Jahangir et  
al. (2018) cũng đánh giá mức sẵn lòng trả  
cho việc không sử dụng thuốc trừ sâu trong  
các hoạt động canh tác nông nghiệp. Một  
trường hợp khác ở Trung Quốc, Wang et al.  
(2018) cũng sử dụng phương pháp định giá  
ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng trả giảm  
thiểu rủi ro sức khỏe. Các nghiên cứu trên  
cho thấy hiệu quả của phương pháp tiếp cận  
mức WTP giảm rủi ro sức khỏe và đánh giá  
tác động của việc sử dụng thuốc BVTV. Từ  
đó, chỉ ra cơ sở và sự cần thiết xem xét tác  
động của việc sử dụng thuốc BVTV theo  
hướng VietGAP đến mức sẵn lòng trả của  
người dân.  
2.3. Phương pháp thu thập số liệu  
Phương pháp này tiến hành thu thập số  
liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý chức  
năng về hoạt động sản xuất rau. Số liệu sơ  
cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn  
người trực tiếp canh tác, phun thuốc ở các hộ  
nông dân có các hoạt động trồng rau. Thiết  
kế bảng câu hỏi nhằm thu nhập dữ liệu đặc  
điểm đối tượng nghiên cứu và những thông  
tin cần thiết như hoạt động cạnh tác, liều  
lượng sử dụng thuốc BVTV. Căn cứ số lượng  
hộ xã viên của HTX Phước An áp dụng trồng  
rau tiêu chuẩn VietGAP là 30 hộ nên tổng số  
mẫu điều tra được chọn tương ứng 60 hộ với  
cơ cấu 30 nông hộ sản xuất rau VietGAP và  
30 nông hộ sản xuất RTT.  
2.4. Phương pháp định giá ngẫu nhiên  
(CVM) và mức sẵn lòng trả (WTP)  
Phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM  
được sử dụng để tính toán giá trị các sản  
phẩm, hàng hóa, dịch vụ môi trường và sức  
khỏe (Cookson, 2003; Wang et al., 2018). Khi  
dữ liệu thị trường không có sẵn hoặc không  
đáng tin cậy, căn cứ thị trường giả định nghiên  
cứu tiến hành thăm dò WTP giảm thiểu rủi ro  
môi trường và sức khỏe liên quan đến thuốc  
BVTV. Trong đó, nghiên cứu ước lượng và so  
sánh mức WTP giảm rủi ro sức khỏe do thuốc  
BVTV theo phương pháp CVM.  
2.2. Đối tượng nghiên cứu  
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung  
khảo sát các hộ nông dân trong và ngoài địa  
bàn HTX sản xuất Phước An, xã Tân Quý  
Tây, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh.  
Sản phẩm rau khảo sát 3 loại rau ăn lá chính  
gồm rau muống, rau dền và mùng tơi.  
114  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(01) - 2020  
Bảng 1.  
Định nghĩa các biến sử dụng trong mô hình Log – Lin  
Kỳ vọng của  
tác động  
Các biến  
Mô tả  
Biến phụ thuộc  
Mức sẵn lòng trả để giảm rủi ro sức khỏe (ngàn  
đồng)  
WTP (Y)  
Biến độc lập  
HOCVAN (X1)  
Trình độ học vấn nông hộ (số năm đi học)  
Kinh nghiệm sản xuất (năm)  
-
-
KINHNGHIEM (X2)  
KHUYENNONG (X3)  
THUNHAP (X4)  
Số lần tham gia chương trình khuyến nông (lần)  
Thu nhập bình quân (triệu đồng/hộ/tháng)  
-
+
Tổng lượng thuốc sử dụng nhóm I&II (gram  
a.i/1000m2/vụ)  
TONGLUONG I&II (X5)  
TONGLUONGIII&IV (X6)  
SOLAN I&II (X7)  
+
+
+
Tổng lượng thuốc sử dụng nhóm III&IV (gram  
a.i/1000m2/vụ)  
Tần suất tiếp xúc thuốc BVTV nhóm I &II  
(lần/vụ)  
Tần suất tiếp xúc thuốc BVTV nhóm III&IV  
(lần/vụ)  
SOLAN III&IV (X8)  
GAP  
+
-
Phương thức sản xuất rau (1: VietGAP; 0: RTT)  
Xác định WTP của người dân để giảm rủi  
ro sức khỏe trong nghiên cứu thông qua kịch  
bản giả định thay thế một số loại thuốc  
BVTV thế hệ mới ít độc hại. Việc chi trả sẽ  
được tính bằng cách nông dân sẵn lòng trả  
thêm bao nhiêu phần trăm so với giá một  
loại thuốc ban đầu để có loại thuốc an toàn  
hơn nhằm giảm rủi ro sức khỏe. Biến phụ  
thuộc WTP sẽ nhận các giá trị là các mức  
phần trăm sẵn lòng tăng thêm mà nông dân  
sẽ đưa ra để giảm rủi ro môi trường và sức  
khỏe (Muhammad, 2009). Phương pháp  
phân tích hồi quy để nghiên cứu mối quan hệ  
giữa biến phụ thuộc WTP và các biến giải  
thích. Theo đó, mô hình kinh tế lượng được  
sử dụng để ước tính WTP để giảm rủi ro như  
sau: LN (WTP) = β0 + βXi. Có rất nhiều yếu  
tố ảnh hưởng đến WTP của người nông dân  
do sử dụng thuốc BVTV. Các biến giải thích  
Xi bao gồm các đặc điểm cá nhân, điều kiện  
kinh tế - xã hội của người được phỏng vấn  
như tuổi tác, giáo dục, khuyến nông, thu  
nhập và các biến liên quan đến thuốc như  
liều lượng và số lần tiếp xúc. Mô hình WTP  
của người nông dân trong việc giảm rủi ro  
bệnh tật do tiếp xúc với thuốc BVTV được  
xây dựng: LN (WTP) = ꞵ0 + ꞵ1X1 + ꞵ2X2 +  
ꞵ3X3 + ꞵ4X4 + ꞵ5X5 + ꞵ6X6 + ꞵ7X7 + ꞵ8X8 +  
ꞵ9GAP. Trong đó: X1 (HOCVAN): Khi trình  
độ học vấn càng tăng, nông dân sẽ nhận thức  
được những rủi ro, tác hại của thuốc BVTV  
đối với sức khỏe. Do đó họ sẽ áp dụng biện  
pháp bảo hộ lao động một cách tốt hơn hay  
thực hiện phun thuốc một cách an toàn hơn.  
Vì vậy rủi ro sẽ giảm, mức giá đưa ra thấp;  
X2 (KINHNGHIEM): Khi số năm kinh  
nghiệm của nông dân càng cao, người dân  
biết cách sản xuất rau sao cho an toàn hơn so  
115  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
với những người có ít kinh nghiệm. Do đó  
(SD). Số liệu sau khi thu thập được tiến hành  
thủ tục kiểm định và phân tích hồi quy  
(phương pháp OLS).  
mức giá đưa ra thấp; X3 (KHUYENNONG):  
Khi tham gia khuyến nông, người nông dân  
sẽ được thông tin về tác hại của thuốc BVTV  
đến sức khỏe cũng như việc sử dụng chúng  
sao cho an toàn. Từ đó, sẽ có ít rủi ro về mặt  
môi trường và sức khỏe, mức giá đưa ra  
thấp; X4 (THUNHAP): Thông thường, khi  
thu nhập tăng thì nông dân sẽ sẵn sàng trả  
nhiều hơn; X5 (TONGLUONG I&II): Khi  
tổng lượng thuốc BVTV nhóm I&II càng  
nhiều thì mức độ rủi ro càng cao, mức giá  
đưa ra để giảm rủi ro càng cao; X6  
(TONGLUONG III&IV): Khi tổng lượng  
thuốc BVTV nhóm III&IV càng nhiều thì  
mức độ rủi ro càng cao, mức giá đưa ra để  
giảm rủi ro càng cao; X7 (SOLAN I&II): Số  
lần sử dụng thuốc BVTV nhóm I&II càng  
cao thì rủi ro môi trường, sức khỏe càng  
tăng, mức giá đưa ra cao; X8 (SOLAN  
III&IV)::Tương tự, số lần sử dụng thuốc  
BVTV nhóm III&IV càng cao thì rủi ro môi  
trường, sức khỏe càng tăng, mức giá đưa ra  
cao; GAP: Nông dân trồng rau theo hướng  
VietGAP sẽ tuân thủ các quy định về an toàn  
khi sử dụng thuốc BVTV. Do đó rủi ro môi  
trường và sức khỏe thấp hơn nông dân sản  
xuất RTT, mức giá sẵn lòng trả thấp.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Thống kê sơ bộ mẫu nghiên cứu  
Bảng 2 trình bày kết quả thống kê sơ bộ  
mẫu nghiên cứu các hộ sản xuất rau trên địa  
bàn huyện Bình Chánh. Độ tuổi đối tượng  
phỏng vấn ở hai nhóm tương đối cao và  
tương đồng với số năm kinh nghiệm. Kết quả  
cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê về độ tuổi trung bình, trình độ học  
vấn và kinh nghiệm trồng rau giữa hai nhóm  
(p>0,01). Tuy nhiên, có sự khác biệt ý nghĩa  
thống kê về số lần tham gia khuyến nông của  
hai nhóm hộ (p<0,01). Nhóm hộ trồng rau  
theo tiêu chuẩn VietGAP có số lần tham gia  
khuyến nông cao hơn nhóm trồng RTT với  
trị trung bình lần lượt 2,97 (SD=0,43) và  
0,47 (SD=0,32). Do đó, khả năng nhận thức  
về tác hại của thuốc BVTV, ATVSTP và khả  
năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật  
vào sản xuất của nhóm VietGAP cao hơn  
nhóm trồng RTT. Ngoài ra, đối với tổng thu  
nhập giữa hai nhóm hộ nông dân cũng khác  
biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Nông hộ ở  
hai nhóm có thu nhập bình quân khá cao, của  
nhóm VietGAP trung bình 12,25 (SD=3,54)  
triệu đồng/hộ/tháng và nhóm RTT là 9,70  
(SD=2,27) triệu đồng/hộ/tháng và nguồn thu  
nhập chủ yếu từ hoạt động trồng rau.  
2.5. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu  
Các số liệu được tính toán tần suất (f, %),  
giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn  
Bảng 2.  
Thống kê sơ bộ mẫu nghiên cứu  
Đặc điểm  
Nhóm VietGAP (A)  
47,80±3,57  
7,53±1,02  
Nhóm RTT (B)  
49,03±5,61  
6,67±0,93  
Chênh lệch (A-B)  
-1,23ns  
Tuổi (năm)  
Học vấn (số năm đi học)  
Kinh nghiệm (năm)  
Khuyến nông (lần)  
Thu nhập (triệu đồng)  
0,86ns  
18,5±2,34  
17,5±2,31  
1,00ns  
2,97±0,43  
0,47±0,32  
2,50**  
12,25±3,54  
9,70±2,27  
2,80**  
Chú thích: Các giá trị tính toán: Trung bình±Độ lệch chuẩn; **: = 0,01; ns: Không có ý nghĩa thống kê  
116  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(01) - 2020  
hiểm rất lớn đối với sức khỏe là Gramoxone  
3.2. Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV  
20 SL và Anco 600 DD. Loại thuộc nhóm III  
(Vifoxat 240DD) được xem là ít nguy hiểm  
và không thể hiện mối nguy cấp tính khi sử  
dụng bình thường. Mặc dù lượng thuốc  
Vifoxat được sử dụng không vượt quá quy  
định cho phép nhưng có thể tiềm tàng gây  
ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng. Riêng các hộ  
dân trồng RTT có xu hướng sử dụng chủ yếu  
2 loại thuốc diệt cỏ thuộc nhóm độc II gồm  
Gramoxone 20 SL và Anco 600 DD và đều  
vượt quá liều lượng khuyến cáo. Thuốc trừ  
sâu có thể gây những ảnh hưởng tiêu cực  
nhất là đối với các đối tượng nhạy cảm như  
phụ nữ hay trẻ em.  
Hóa chất BVTV có thể gây ảnh hưởng  
đến sức khỏe cộng đồng (Shettyl et al.,  
2011). Khảo sát thực tế các hộ dân trồng rau  
trong và ngoài HTX cho thấy sâu rầy thường  
xuất hiện nhiều vào mùa mưa, vì thế lượng  
thuốc BVTV được sử dụng nhiều. Các bệnh  
thường xuất hiện trên rau muống như sâu  
khoang, rầy, bệnh rỉ trắng; rau mồng tơi  
thường hay mắc chứng bệnh đốm lá, sâu  
xanh, sâu khoang, sâu róm. Bảng 3 và 4 tổng  
hợp kết quả khảo sát hiện trạng sử dụng  
thuốc BVTV các hộ sản xuất ở địa bàn  
nghiên cứu. Trong các loại thuốc diệt cỏ  
được sử dụng, có 2 loại nhóm II gây nguy  
Bảng 3.  
Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vụ mùa tháng 6-7  
Chú thích: ĐVT-Đơn vị tính; SHSD-Số hộ sử dụng; LSDTT-Liều sử dụng thực tế  
Đối với loại thuốc trừ sâu rầy của 2 nhóm  
hộ sử dụng gồm 6 loại, trong đó 4 loại nhóm  
độc II (Ammater, Bassa 50EC, Selecron, Sec  
Sai Gon) và 2 loại nhóm độc III (Regent,  
Radiant 60SC). Các nông hộ sản xuất  
VietGAP sử dụng 3 loại gồm 1 loại nhóm độc  
II, 2 loại nhóm độc III. Lượng thuốc Ammater  
và Radiant 60SC sử dụng cao hơn liều lượng  
khuyến cáo trong cả 2 vụ. Những hộ sản xuất  
RTT sử dụng 6 loại thuốc trừ sâu và có xu  
hướng sử dụng nhiều hơn thuốc nhóm độc II.  
Thuốc trừ sâu là con dao hai lưỡi và có thể  
gây ra những tổn hại về mặt kinh tế lẫn môi  
trường. Trong khi, liều lượng sử dụng của các  
hộ dân canh tác RTT có 5/6 loại vượt quá liều  
lượng khuyến cáo. Điều này cho thấy mối  
nguy rủi ro cao về mặt môi trường, sức khỏe  
trong các hoạt động sản xuất RTT.  
117  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Bảng 4.  
Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vụ mùa tháng 9-10  
Chú thích: ĐVT-Đơn vị tính; SHSD-Số hộ sử dụng; LSDTT-Liều sử dụng thực tế  
nhóm VietGAP chỉ đạt 3,3; 0,0; 3,3%.  
3.3. Mức sẵn lòng trả WTP giảm thiểu rủi  
Ngược lại, nhóm VietGAP lựa chọn chủ yếu  
ở mức giá 5.000 và 10.000 đồng với tỷ lệ  
33,3 và 46,7%. So sánh WTP ở một số nước  
cho thấy, người nông dân ở Philippines có  
thể chi trả thêm mức giá 13,5–20,5 USD/vụ  
để tránh các rủi ro sức khỏe từ thuốc BVTV  
(Cuyno et al., 2001). Kết quả nghiên cứu tại  
Trung Quốc về mức WTP cho hoạt động  
phòng tránh rủi ro môi trường, sức khỏe do  
thuốc BVTV ước tính lên tới 65,38 USD  
mỗi hộ/năm (Wang et al., 2018). Qua đó có  
thể thấy sự lựa chọn mức giá tăng thêm có  
sự khác biệt giữa các quốc gia, đồng thời  
qua đó cho thấy sự nhận thức của người dân  
trong việc góp phần bảo vệ chất lượng môi  
trường, hệ sinh thái và ý thức sức khỏe  
trong hoạt động sản xuất. Bảng 5 thể hiện  
ước lượng hồi quy hàm Log - Lin bằng  
phương pháp OLS xác định các yếu tố tác  
động đến WTP của nông dân khi tiếp xúc  
với thuốc BVTV.  
ro sức khỏe  
Nghiên cứu khảo sát mức giá sẵn lòng trả  
thêm nhằm sử dụng thuốc BVTV thay thế  
đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường và  
phòng tránh rủi ro sức khỏe. Nhìn chung,  
mức sẵn lòng trả thêm dao động trong  
khoảng từ 5.000 đến 30.000 đồng. Trong đó,  
tần suất lựa chọn mức giá 10.000 và 15.000  
đồng cao nhất, ứng với tỷ lệ 41,7 và 21,7%.  
Mức chọn lựa ở giá cao 30.000 đồng chiếm  
tỷ lệ thấp nhất, chiếm 3,3%. Mức giá sẵn  
lòng chọn lựa tăng thêm 5.000 và 25.000  
đồng ở cấp độ trung bình với 18,3 và 10,0%.  
Tuy nhiên, so sánh giữa các nhóm nông hộ  
cho thấy giá trị WTP nhóm sản xuất RTT có  
xu hướng cao hơn so với nhóm VietGAP.  
Giá trị chọn lựa trung bình các nhóm  
VietGAP và RTT lần lượt tương ứng 10.000  
và 15.667 đồng. Kết quả chọn lựa mức giá  
cao từ 20.000 đến 30.000 đồng ở nhóm RTT  
chiếm tỷ lệ 6,7; 20,0; 3,3%; trong khi ở  
118  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(01) - 2020  
Bảng 5.  
Kết quả ước lượng mô hình Log – Lin bằng phương pháp OLS  
Biến độc lập  
Hệ số β  
Thống kê t  
-18,73360  
- 0,567952  
- 0,602800  
-3,505653  
5.117979  
4,415337  
0,609852  
3,001736  
0,504827  
-1,847944  
Giá trị P  
0,0000  
0,5726  
0,5494  
0,0010  
0,0000  
0,0001  
0,5447  
0,0042  
0,6159  
0,0705  
Constant  
-1,506250  
HOCVAN (X1)  
-0,002594 ns  
-0,000877 ns  
-0,034159***  
0,012970***  
0,001020***  
0,000117 ns  
0,025642***  
0,004480 ns  
-0,044503*  
KINHNGHIEM (X2)  
KHUYENNONG (X3)  
THUNHAP (X4)  
TONGLUONG I&II (X5)  
TONGLUONG III&IV (X6)  
SOLAN I&II (X7)  
SOLAN III&IV (X8)  
GAP  
Log likelihood = 91,84757; R-squared = 0,864520; Adjusted R-squared = 0,840134; Probability(LR  
stat) <0,0000001  
Chú thích: ***: = 0,01; **: = 0,05; *: = 0,1; ns: Không có ý nghĩa thống kê.  
Mô hình nghiên cứu cho thấy các biến  
độc lập tiêu biểu có thể sử dụng giải thích  
sự thay đổi mức giá sẵn lòng trả của nông  
dân. Kết quả ước lượng chỉ ra các biến quan  
trọng như khuyến nông (X3), thu nhập (X4),  
lượng thuốc BVTV nhóm I&II (X5) và số  
lần tiếp xúc thuốc BVTV nhóm I&II (X7) có  
ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Biến giả  
phương thức sản xuất rau (GAP) có ý nghĩa  
thống kê ở mức 10%. Nghiên cứu thể hiện  
sự tương đồng WTP và tác động tích cực có  
ý nghĩa của biến số thu nhập người dân  
(Wang et al., 2018). Ngược lại, các biến  
trình độ học vấn của người phun thuốc (X1),  
kinh nghiệm của người dân trồng rau (X2),  
tổng lượng thuốc BVTV nhóm III&IV (X6),  
số lần tiếp xúc với thuốc III&IV (X8) không  
có ý nghĩa thống kê (p>0,1). Điều này có  
thể được giải thích theo như số liệu thu thập  
các nông hộ ở hai nhóm hộ với trình độ học  
vấn khá hạn chế và không có sự chênh lệch  
nhiều nên biến học vấn hầu như không tác  
động đến giá WTP của nông hộ. Kinh  
nghiệm trồng rau của hai nhóm hộ tương đối  
cao và xấp xỉ bằng nhau, tuy nhiên nó  
không ảnh hưởng đến giá WTP. Biến lượng  
thuốc BVTV và số lần tiếp xúc nhóm thuốc  
BVTV III&IV không tác động đến giá  
WTP. Có thể thấy nông dân hầu như không  
quan tâm đến tác động của nhóm này vì  
nghĩ rằng chúng ít độc mà chỉ quan tâm đến  
tác động của nhóm thuốc BVTV I&II.  
Chẳng hạn như các hộ trồng rau VietGAP  
sử dụng thuốc diệt sâu rầy Bassa 50EC  
(nhóm độc II) với liều lượng 120,0  
ml/1000m2 và nằm trong giới hạn khuyến  
cáo. Tương tự, đối với nhóm trồng RTT  
cũng sử dụng trong ngưỡng khuyến cáo với  
liều lượng 180,0 ml/1000m2. Trong khi, đối  
với loại thuốc Radiant 60SC (nhóm độc III)  
được sử dụng vượt quá liều lượng khuyến  
cáo với lần lượt 35,0 ml/1000m2 (nhóm  
trồng rau VietGAP) và 37,0 ml/1000m2  
(nhóm trồng RTT). Kết quả nghiên cứu có  
thể cung cấp thông tin hữu ích cho quá trình  
ra các quyết sách hữu hiệu giải quyết các  
vấn đề về an toàn sức khỏe sử dụng thuốc  
BVTV cho nông dân.  
119  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Như vậy, kết quả mô hình nghiên cứu  
WTP để giảm rủi ro môi trường, sức khỏe  
của nông dân được thể hiệu qua phương  
trình: LN (WTP) = -1,506250 - 0,034159X3  
+ 0,012970X4 + 0,001020X5 + 0,025642X7 -  
0,044503GAP. Trong đó, với các nhân tố ảnh  
hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân  
cho thấy tác động mạnh của các biến khuyến  
nông, tần suất lần tiếp xúc thuốc BVTV  
nhóm I&II và yếu tố tiêu chuẩn VietGAP.  
(WTP)  
=
-1,506250 - 0,034159X3  
+
0,012970X4 + 0,001020X5 + 0,025642X7 -  
0,044503GAP. Trong đó, mô hình giải thích  
84,01% sự thay đổi của mức giá sẵn lòng trả  
của nông dân. Kết quả nghiên cứu góp phần  
đưa ra một số giải pháp chính sách nhằm  
giảm rủi ro môi trường, sức khỏe cho nông  
dân trong các hoạt động canh tác rau trên địa  
bàn Bình Chánh. Cụ thể, về lâu dài cần  
khuyến khích người dân thực hành theo  
hướng VietGAP giảm thiểu rủi ro môi  
trường, sức khỏe; huy động tích cực tham gia  
tập huấn về rau an toàn; và hỗ trợ thông qua  
chính sách vay vốn ưu đãi. Đối với các cấp  
chính quyền tăng cường công tác thanh kiểm  
tra, giám sát hoạt động kinh doanh, phân  
phối thuốc BVTV và tạo điều kiện cung ứng  
sản phẩm thân thiện môi trường và an toàn  
sức khỏe cộng đồng.  
4. Kết luận  
Nghiên cứu chỉ ra các nhóm trồng rau tại  
khu vực nghiên cứu đã lạm dụng liều lượng  
thuốc BVTV trong sản xuất. Nông dân trồng  
rau theo tiêu chuẩn VietGAP đã có cải thiện  
trong cách sử dụng nhóm thuốc ít độc hơn.  
Mức sẵn lòng trả của người dân dao động  
trong khoảng 5.000 đến 30.000 đồng. Ước  
lượng mô hình hồi quy xác định các yếu tố  
tác động đến WTP của nông dân khi tiếp xúc  
với thuốc BVTV với phương trình: LN  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Cookson, R., (2003). Willingness to pay methods in health care: a sceptical view. Health  
Econ., 12(11), 891-4.  
Coulibaly, O., Nouhoheflin, T., Aitchedji, C.C., Cherry, A.J., Adegbola, P., (2011).  
Consumers' Perceptions and Willingness to Pay for Organically Grown Vegetables.  
International Journal of Vegetable Science, 17(4), 349-362.  
Cuyno, L.C.M., Norton, G.W., Rola, A., (2001). Economic analysis of environmental  
benefits of integrated pestmanagement: A Philippine case study. Agric. Econ., 25, 227–  
233.  
Damalas, C.A., (2009). Understanding benefits and risks of pesticide use. Scientific  
Research and Essays. 4(10), 945–949.  
Diener, A., O'Brien, B., Gafni, A., (1998). Health care contingent valuation studies: a  
review and classification of the literature. Health Econ., 7(4), 313-26.  
Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO) (2004). Archive on  
Fertilizers and Pesticides, Rome, Food and Agriculture Organization of the United  
Nations.  
Garming, H., Waibel, H., (2009). Pesticides and farmer health in Nicaragua: a willingness-  
to-pay approach to evaluation. Eur J Health Econ., 10(2), 125-33.  
Hanley, N., Ryan, M., Wright, R., (2003). Estimating the monetary value of health care:  
lessons from environmental economics. Health Econ., 12(1), 3-16.  
120  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(01) - 2020  
Jahangir, K., Aditya ,R. K., Kar, H. L., Abbas, U.J., Syed, A. S., (2018). Willingness to Pay  
for Pesticide Free Fruits: Evidence from Pakistan. Journal of International Food &  
Agribusiness Marketing, 30(4), 392-408.  
Khan, M., Damalas, C.A., (2015). Farmers’ willingness to pay for less health risks by  
pesticide use: A case study from the cotton belt of Punjab, Pakistan. Sci. Total  
Environ., 530–531, 297–303.  
Muhammad, K., (2009). Economic Evaluation of Health Cost of Pesticide Use: Willingness  
to Pay Method., Pakistan Development Review, 48(4), 459-472.  
Shettyl, P.K., Hiremath, M.B., Murugan, M., Nerli, R.B., (2011). Farmer`s health  
externalities in pestidice use predominant region in India. World journal of Science &  
Technology, 1, 1-11.  
Huỳnh Thị Như Quý (2012). Tác động của việc cải thiện sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo  
hướng VietGAP đến chi phí sức khỏe nông dân tại hợp tác xã Ngã Ba Giồng, huyện  
Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sỹ, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí  
Minh.  
Wang, W., Jin, J., He, R., Gong, H., Tian, Y., (2018). Farmers' Willingness to Pay for  
Health Risk Reductions of Pesticide Use in China: A Contingent Valuation Study.  
International journal of environmental research and public health, 15(4), 625.  
World Health Organization (WHO) (1990). Public Health Impact of Pesticides Used in  
Agriculture, Geneva, Witzerland, WHO Press.  
World Health Organization (WHO) (2003). The World Health Report 2003: Shaping the  
Future, Geneva, Witzerland, WHO Press.  
World Health Organization (WHO) (2009). Global health risks – 2009: Mortality and  
burden of disease attributable to selected major risks, Geneva, Witzerland, WHO  
Press.  
121  
pdf 10 trang yennguyen 11420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và mức sẵn lòng trả giảm thiểu rủi ro sức khỏe trong sản xuất rau – Trường hợp điển hình ở huyện Bình Chánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_su_dung_thuoc_bao_ve_thuc_vat_va_muc_san_long_tra.pdf