Đánh giá kết quả bước đầu hóa trị Vinorelbine kết hợp Trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú di căn có HER2 dương tính tại Bệnh viện Quân y 103
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
VÚ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU HÓA TRỊ VINORELBINE
KẾT HỢP TRASTUZUMAB TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ
DI CĂN CÓ HER2 DƯƠNG TÍNH TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
1
2
VŨ THỊ TRANG ; NGHIÊM THỊ MINH CHÂU
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và tác dụng không mong
muốn của phác đồ hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú tái phát di căn có
HER2 dương tính.
Đối tượng và phương pháp: 38 bệnh nhân UTV TPDC hoặc giai đoạn IV ngay tại thời điểm chẩn
đoán có HER2 dương tính được hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab tại bệnh viện Quân Y 103 từ
năm 2011 đến năm 2019.
Kết quả: Có 258 đợt truyền vinorelbine kết hợp với trastuzumab, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 21,1%;
đáp ứng một phần là 42,1%, lợi ích lâm sàng đạt được là 68,4%. Thời gian sống thêm bệnh không tiến
triển trung bình của phác đồ là 8,4 ± 5 tháng. Các độc tính hay gặp là hạ bạch cầu, chủ yếu là ở độ I, II, III
54,7%. Các độc tính ngoài hệ tạo huyết thường nhẹ ít ảnh hưởng đến tiến trình điều trị.
cho bệnh nhân phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, sử
dụng đơn hóa chất hay đa hóa chất cũng là câu hỏi
được đưa ra. Trastuzumab phối hợp với taxan được
coi là phác đồ chuẩn trong việc sử dụng đa hóa chất
có thuốc đích với đối tượng ung thư vú tái phát
di căn (UTV TPDC có HER2 dương tính). Nghiên
cứu HERNATA so sánh giữa 2 phác đồ phối hợp
trastuzumab với docetaxel và trastuzumab với
vinorelbine cho thấy thời gian đến khi bệnh tiến triển
và thời gian sống thêm toàn bộ không có sự khác
biệt ở 2 nhóm. Trong khi đó tỷ lệ bệnh nhân bị
gián đoạn do độc tính ở 2 nhóm lần lượt là 20,1%
và 6,5% với p < 0,001. Các độc tính: hạ bạch cầu độ
3, 4; sốt hạ bạch cầu; nhiễm trùng; bệnh thần kinh;
rối loạn móng và phù nề gặp nhiều hơn ở nhóm phối
hợp với docetaxel. Như vậy có thể xem xét phối hợp
vinorelbine với trastuzumab là một lựa chọn điều trị
tốt cho UTV TPDC có HER2 dương tính[5].
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo GLOBOCAN 2018, trên toàn thế giới có
khoảng 2.088.849 ca mới mắc, và 626.679 ca tử
vong vì UTV (chiếm 11,6% tổng số bệnh nhân bị ung
thư (UT) xếp thứ 2 ở cả hai giới sau ung thư phổi và
đứng thứ 5 trong số các nguyên nhân tử vong do UT
sau phổi, đại trực tràng, dạ dày và gan)[1].
Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2018
có 15.229 phụ nữ mới mắc ung thư vú (UTV). Trong
đó có 6.103 người tử vong do UTV[1].
Ung thư vú tái phát di căn thì tiên lượng sống
thêm cũng như đáp ứng điều trị được xem xét dựa
trên nhiều tiêu chí như thể trạng bệnh, tình trạng mô
bệnh học… Với đối tượng bệnh nhân này thì mục
đích điều trị không phải là triệt căn mà chính là điều
trị giảm nhẹ, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất
lượng cuộc sống. Vì vậy việc lập kế hoạch điều trị
Ngày nhận bài: 05/10/2020
Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
Địa chỉ liên hệ: Vũ Thị Trang
Email: vutrang44[email protected]
1 ThS. Khoa Hóa trị - Trung tâm Ung Bướu - Bệnh viện Quân Y 103
2 PGS.TS.BS. Trưởng Bộ môn Ung thư - Trưởng Khoa Hóa trị,
Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Quân Y 103
343
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Phác đồ phối hợp vinorelbine với trastuzumab
đã được đưa vào trong điều trị UTV TPDC có HER2
dương tính nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về kết
quả cũng như độc tính của phác đồ này. Vì vậy
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết
quả bước đầu hóa trị vinorelbine kết hợp
trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú di căn
có HER2 dương tính tại bệnh viện Quân Y 103”
với các mục tiêu sau:
Tiến hành điều trị
+ Chu kỳ 3 tuần: Trong chu kỳ đầu tiên
trastuzumab liều tải 8mg/kg truyền trong 90 phút
ngày 1, sau đó vinorelbine liều 30mg/m2 da ngày 2,
ngày 8 truyền nhanh trong 10 phút. Các chu kỳ tiếp
sau trastuzumab liều duy trì 6mg/kg truyền trong 90
phút, sau đó vinorelbine 30mg/m2 da ngày 1, ngày 8.
Tiếp tục điều trị đến khi bệnh tiến triển hoặc độc tính
không thể dung nạp được.
Đánh giá đáp ứng, thời gian sống thêm bệnh
không tiến triển và tác dụng không mong muốn của
phác đồ hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab
trên bệnh nhân ung thư vú tái phát di căn có HER2
dương tính.
+ Vinorelbine - trastuzumab hàng tuần, chu kỳ
28 ngày (cứ 4 tuần được tính là 1 chu kỳ):
Trastuzumab được điều trị trước hóa chất với liều
4mg/kg liều tải truyền trong vòng 90 phút sau đó duy
trì liều nạp 2mg/kg truyền trong thời 30 phút (nếu
liều tải bệnh nhân dung nạp tốt), truyền tĩnh mạch
hàng tuần. Vinorelbine liều 30mg/m2 da, truyền tĩnh
mạch nhanh trong 10 phút hàng tuần.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
38 bệnh nhân UTV TPDC hoặc giai đoạn IV
ngay tại thời điểm chẩn đoán có HER2 dương tính
được hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab tại
bệnh viện Quân Y 103 từ năm 2011 đến năm 2019.
Đánh giá kết quả điều trị
Thời điểm đánh giá: sau mỗi 3 đợt điều trị.
Phương pháp đánh giá: qua thu thập các thông
tin lâm sàng (để đánh giá khả năng dung nạp thuốc),
các xét nghiệm cân lâm sàng trước mỗi đợt điều trị,
so sánh các tổn thương có thể đo được ở các đợt
trước và sau, từ đó đánh giá đáp ứng theo RECIST.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả hồi cứu.
Các bước tiến hành
Đạo đức nghiên cứu
Bước 1: Chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn lựa
chọn và loại trừ.
Nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích nâng cao
chất lượng điều trị, chất lượng cuộc sống cho BN,
không nhằm mục đích nào khác.
Bước 2: Đánh giá bilan trước điều trị.
Bước 3: Tiến hành điều trị.
Các thông tin về bệnh nhân được giữ kín.
Bước 4: Nhận xét đặc điểm đối tượng nghiên
cứu, đánh giá kết quả điều trị.
Được thông qua hội đồng đạo đức của bệnh
viện Quân Y 103 và Học viện Quân Y.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
Biểu đồ 1. Đặc điểm về tuổi bệnh nhân
Nhận xét: Trong 38 bệnh nhân nghiên cứu nhóm tuổi hay gặp nhất là từ 40 - 60 tuổi chiếm tỷ lệ 60,5%.
344
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Biểu đồ 2. Xếp loại giai đoạn bệnh ban đầu
Nhận xét: Bệnh nhân phát hiện bệnh chủ yếu ở giai đoạn 2 và 3 với tỷ lệ lần lượt là: 50% và 31,6%.
Có 5,3% bệnh nhân ngay từ khi mới phát hiện bệnh đã ở giai đoạn 4.
Đánh giá kết quả điều trị
Biểu đồ 3. Kết quả điều trị chung
Nhận xét: Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn, một phần, bệnh ổn định và bệnh tiến triển lần lượt là: 21,1%; 42,2%;
5,2% và 31,5%.
Bảng 1. Liên quan giữa tỷ lệ đáp ứng điều trị với thụ thể nội tiết (TTNT) và HER2
Đáp ứng
n(%)
Không đáp ứng
n(%)
TTNT và HER2
Tổng
TTNT
ER(+) và/hoặc PR(+)
ER(-) và PR(-)
Tổng
10 (63,7%)
14 (62,7%)
24 (63,2%)
6 (36,3%)
8 (37,5%)
14 (36,8%)
16 (100%)
22 (100%)
38 (100%)
p = 0,941
Tình trạng HER2
5 (71,5%)
HER2 (++)/ FISH (+)
HER2 (+++)
Tổng
2 (28,5%)
12 (38,7%)
14 (36,8%)
7 (100%)
31 (100%)
38 (100%)
19 (61,3%)
24 (63,2%)
345
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
p = 0,871
Nhận xét: Khi điều trị phác đồ nghiên cứu thì tỷ lệ có đáp ứng cao hơn ở đối tượng có HER2 (+++) và
ER/PR (+), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,941 và p = 0,871.
Bảng 2. Liên quan giữa tỷ lệ đáp ứng với số lượng vị trí di căn
Đáp ứng
Không đáp ứng
Số vị trí di căn
Tổng
n (%)
n (%)
1 vị trí
≥2 vị trí
Tổng
9 (75%)
3 (25%)
12 (100%)
26 (100%)
38 (100%)
15 (57,7%)
24 (63,2%)
11 (42,3%)
14 (36,8%)
p = 0,049
Nhận xét: Có sự liên quan giữa số vị trí di căn với tỷ lệ đáp ứng, số vị trí di căn càng nhiều thì tỷ lệ đáp
ứng càng thấp, sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê với p = 0,049.
Bảng 3. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển
Nhận xét: Tình trạng hạch nách phát hiện tại
thời điểm chẩn đoán liên quan có ý nghĩa thống kê
với thời gian sống bệnh không tiến triển, với p =
0,039.
Thời gian
< 12 tháng
12 tháng
Số bệnh nhân
Tỷ lệ (%)
81,6
31
7
18,4
Bảng 6. Liên quan giữa thời gian sống thêm bệnh
không tiến triển với số cơ quan tái phát di căn
Nhận xét: Bảng trên cho thấy thời gian sống
thêm bệnh không tiến triển dưới 12 tháng và trên 12
tháng có tỷ lệ lần lượt là: 81,6% và 18,4%.
Số cơ quan tái phát di căn X ± SD (tháng)
P
1 cơ quan
10,0 ± 5,6
7,7 ± 4,6
0,028
Bảng 4. Thời gian sống bệnh không tiến triển
2 cơ quan
liên quan với giai đoạn bệnh ban đầu
Nhận xét: Bảng trên cho thấy số cơ quan di căn
có liên quan tới thời gian sống thêm bệnh không tiến
triển, với p = 0,028.
Giai đoạn
X ± SD (tháng)
10 ± 5,7
P
I
II
9,8 ± 5,6
Bảng 7. Độc tính trên hệ tạo huyết
0,045
III
IV
7,5 ± 4,6
Độc tính trên hệ
tạo huyết (n, %)
Hạ bạch
cầu
Thiếu
máu
Giảm tiểu
cầu
5,5 ± 2,1
Độ 1
Độ 2
Độ 3
Độ 4
93 (36,3)
24 (9,3)
21 (8,1)
3 (1.2)
155 (60,1)
29 (11,2)
0 (0)
23 (8,9)
6 (2,3)
3 (1,2)
0 (0)
Nhận xét: Bảng trên cho thấy có sự liên quan
giữa thời gian sống thêm bệnh không tiến triển với
giai đoạn bệnh ban đầu, sự liên quan này có ý nghĩa
thống kê với p = 0,045.
0 (0)
Bảng 5. Thời gian sống bệnh không tiến triển
Nhận xét: Độc tính của phác đồ nghiên cứu trên
hệ tạo huyết chủ yếu gặp ở độ I và độ II. Trong đó
giảm bạch cầu độ I, độ II chiếm tỷ lệ lần lượt
là 36,3% và 9,3%. Ở độ IV có 1,2% giảm bạch cầu,
không có trường hợp nào bị thiếu máu và giảm
tiểu cầu.
liên quan với tình trạng hạch nách
Tình trạng hạch nách
Chưa di căn (N0)
X ± SD (tháng)
9,4 ± 5,8
P
Di căn 1 - 3 hạch (N1)
Di căn 4 - 9 hạch (N2)
Di căn 10 hạch (N3)
9,0 ± 5,0
0,039
7,0 ± 4,3
6,6 ± 3,2
346
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Bảng 8. Độc tính ngoài hệ tạo huyết
Độc tính ngoài hệ tạo huyết (n,%)
Tim
33 (12,8)
0 (0)
Gan
44 (17,1)
54 (20,9)
6 (2,3)
Thận
0 (0)
0 (0)
0 (0)
0 (0)
Tiêu chảy
69 (26,7)
15 (5,8)
0 (0)
Nôn/ buồn nôn
57 (22,1)
24 (9,3)
0 (0)
Rụng tóc
45 (17,4)
9 (3,5)
0 (0)
Độ 1
Độ 2
Độ 3
Độ 4
4 (1,6)
1 (0.4)
0 (0)
0 (0)
0 (0)
0 (0)
Nhận xét: Bảng trên cho thấy các độc tính ngoài hệ tạo huyết bao gồm: trên tim, gan, thận, tiêu chảy, nôn
buồn nôn, rụng tóc. Tuy nhiên các độc tính trên chủ yếu gặp ở độ 1 và độ 2 nên không làm ảnh hưởng đến tiến
trình điều trị. Cá biệt trên 38 bệnh nhân nghiên cứu có 1 bệnh nhân xuất hiện độc tính trên tim ở độ 4 phải
ngưng điều trị.
BÀN LUẬN
Đối với ung thư vú, tuổi bệnh nhân tại thời điểm
chẩn đoán ban đầu là một yếu tố liên quan chặt chẽ
đến tiên lượng bệnh và tỷ lệ mắc bệnh. Theo
Hernate và cộng sự, phụ nữ từ 40 - 49 tuổi khả năng
sống sót là tốt nhất[3].
Đánh giá kết quả điều trị
Khi tiến hành nghiên cứu 38 bệnh nhân UTV
TPDC có sử dụng phác đồ vinorelbine kết hợp với
trastuzumab, chúng tôi nhận thấy có tổng cộng 258
đợt truyền trastuzumab kết hợp vinorelbine (dao
động từ 3 - 9 chu kỳ) số đợt truyền trung bình là 6,8
cho mỗi bệnh nhân. Số đợt truyền trastuzumab là
332 (dao động từ 3 - 18 chu kỳ), số đợt truyền trung
bình là 8,7 cho mỗi bệnh nhân.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi mắc
ung thư vú tại thời điểm chẩn đoán hay gặp nhất là
từ 40-60 tuổi, chiếm tỷ lệ 60,5% trong đó từ 40 - 49
tuổi (28,9%), từ 50 - 59 tuổi (31,6%), tuổi trung bình
là 52,3 ± 8,8 tuổi, tuổi thấp nhất là 33, tuổi cao nhất
là 74.
Biểu đồ 3 cho thấy trong số 38 bệnh nhân
nghiên cứu có đáp ứng hoàn toàn chiếm 21,1%, đáp
ứng 1 phần chiếm 42,1%; có 2 bệnh nhân bệnh ổn
định (5,2%). Như vậy tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 63,2%
và lợi ích lâm sàng đạt được là 68,4%.
Lê Thị Yến và cộng sự (2017) nghiên cứu 33
bệnh nhân ung thư vú TPDC cho thấy nhóm tuổi hay
gặp nhất là 50 - 59 tuổi, chiếm 41,1%, tuổi thấp nhất
là 32 và cao nhất là 73, độ tuổi trung là 54,1 ± 9,5
tuổi[6].
Tỷ lệ đáp có liên quan đến rất nhiều yếu tố.
Theo bảng 1 cho thấy: tỷ lệ đáp ứng của nhóm có
ER(+) và/ hoặc PR (+) cao hơn so với nhóm ER (-)
và PR (-), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê với p = 0,941 > 0,05. Bảng 2 cho thấy mối liên
quan giữa tỷ lệ đáp ứng với số cơ quan TPDC, nhận
thấy tỷ lệ đáp ứng với các tổn thương di căn đích
đơn độc (1 vị trí) cao hơn các tổn thương phối hợp ở
nhiều vị trí, với tỷ lệ tương ứng là 75% và 57,7%,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Một số nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự như:
Lê Thanh Đức (2013) cho kết quả di căn 1 vị trí có
thời gian sống bệnh không tiến triển dài hơn di căn ở
nhiều vị trí[7]. De Maio và cộng sự cũng cho thấy di
căn ở mô mềm cho tỷ lệ đáp ứng cao hơn di căn ở
nội tại[2].
Trong các vị trí di căn thì xương, phổi, não
chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 39,5%; 50%; 55,3%.
Trong đối tượng nghiên cứu của chúng tôi loại bỏ
những bệnh nhân chỉ di căn xương đơn thuần vì khó
đánh giá đáp ứng và những bệnh nhân di căn não
đơn thuần có triệu chứng.
Tình trạng TTNT và mức độ bộc lộ HER2 là
những yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng, đồng
thời cũng là yếu tố dự báo đáp ứng với các phương
pháp điều trị. Một tác giả năm 2011 cho biết việc
đánh giá tình trạng TTNT trước điều trị giúp cho việc
phân nhóm bệnh nhân và đưa ra quyết định điều trị
phù hợp trên mỗi bệnh nhân cụ thể. Tỷ lệ ER (+) và/
hoặc PR (+) hướng dẫn điều trị nội tiết. Tình trạng
bộc lộ quá mức HER2 cũng được phát hiện khoảng
20 - 25% các trường hợp UTV, sự bộc lộ quá mức
này phản ánh tiên lượng xấu và giúp quyết định
hướng điều trị nhắm trúng đích.
Theo bảng 3 thấy thời gian sống thêm bệnh
không tiến triển < 12 tháng chiếm tỷ lệ cao hơn
(81,6%) so với 12 tháng (18,4%). Thời gian sống
thêm bệnh không tiến triển trung bình là 8,4 ± 5
tháng. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với các
nghiên cứu như: nghiên cứu của De Maio trên 50
347
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
bệnh nhân UTV TPDC có HER2 dương tính điều trị
phác đồ vinorelbine phối hợp trastuzumab mỗi 3
tuần, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển là
9,6 tháng[2]. A Chan và cộng sự 2006 nghiên cứu
trên 69 bệnh nhân thì PFS là 9,9 tháng cao hơn
nghiên cứu của chúng tôi[4]. Điều này có thể được lý
giải là do trong nghiên cứu này vinorelbine kết hợp
với trastuzumab trong điều trị bước 1 UTV TPDC
ở tất cả 69 bệnh nhân. Như vậy một lần nữa khẳng
định sự kết hợp 2 thuốc nghiên cứu mang lại
hiệu quả điều trị cho UTV TPDC ở tất cả các bước
điều trị.
tiểu cầu có 3 lần truyền có giảm ở độ III, chiếm 1,2%
và gặp ở độ I, II chiếm tỷ lệ không cao 11,2% số lần
truyền hóa chất.
Các độc tính ngoài hệ tạo huyết nếu ở mức độ
nặng nề cũng gây ảnh hưởng khá lớn đến kết quả
của điều trị, tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng
tôi các độc tính ngoài hệ tạo huyết thường không
nặng nề và chủ yếu gặp ở độ I, độ II.
Theo bảng 8 tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện độc tính
trên tim độ I là 12,8% số lần truyền, độ III là 1,6% số
lần truyền, độ IV có 1 bệnh nhân chiếm 2,6% số
bệnh nhân và 0,4% số lần truyền. Bệnh nhân này đã
phải ngưng điều trị vĩnh viễn. Lê Thị Yến đã ghi nhận
độc tính trên tim gặp ở 3 lần truyền chiếm tỷ lệ 1%[6].
Chan và cộng sự năm 2006 nghiên cứu 69 bệnh
nhân ghi nhận độc tính trên tim LVEF % trung bình
trong các lần truyền là 63,8%, giá trị thấp nhất có 1
bệnh nhân < 38%, với suy tim có triệu chứng 4
tháng sau khi bắt đầu nghiên cứu[4].
Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển
(PFS) liên quan đến rất nhiều yếu tố. Trong nghiên
cứu của chúng tôi đã tìm thấy mối liên quan có ý
nghĩa thông kê (với p < 0,05) giữa PFS với giai đoạn
bệnh, tình trạng hạch nách và số cơ quan di căn.
Bảng 4, 5, 6 đã cho thấy rằng: giai đoạn bệnh tại
thời điểm chẩn đoán càng cao, càng nhiều hạch
nách di căn và càng di căn ở nhiều cơ quan thì thời
gian sống thêm bệnh không tiến triển càng ngắn.
KẾT LUẬN
Ở giai đoạn TPDC thì mục đích điều trị không
phải là triệt căn, khỏi bệnh mà là kéo dài thời gian
sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh
nhân bằng cách giảm nhẹ các triệu chứng do bệnh
gây ra. Xác định được mục tiêu đó nên phương
pháp điều trị đưa ra ở giai đoạn này thường là điều
trị toàn thân, điều trị đích với mục đích giảm nhẹ,
phẫu thuật hay tia xạ ít được dùng (tùy thuộc vào
tình trạng bệnh nhân). Tuy nhiên hóa chất hay điều
trị đích là phương pháp điều trị toàn thân nên ngoài
tác dụng làm chết, gây độc cho tế bào ung thư nó
còn gây ra độc tính với tế bào lành. Đó là cơ sở của
việc giải thích tại sao khi dùng chúng gây ra những
tác dụng không mong muốn. Như vậy bệnh nhân
không chỉ chịu sự mệt mỏi do căn bệnh ở giai đoạn
muộn gây ra mà còn chịu cả những tác dụng phụ do
thuốc điều trị. Do vậy trong quá trình điều trị cần phải
theo dõi sát để có thái độ xử trí kịp thời, chính xác.
Qua nghiên cứu 38 bệnh nhân ung thư vú tái
phát, di căn có yếu tố phát triển biểu mô dương tính
được điều trị tại tại bệnh viện Quân Y 103 bằng hóa
trị vinorelbine phối hợp với trastuzumab từ năm
2011 đến năm 2019, chúng tôi nhận thấy đa phần
các bệnh nhân ở độ tuổi 40 - 60, hay gặp ở giai
đoạn II tại thời điểm chẩn đoán. Đây là phác đồ
mang lại hiệu quả đáp ứng tốt (ORR đạt 63,2%, lợi
ích lâm sàng 68,4%), thời gian sống thêm bệnh
không tiến triển cũng khá dài (8,4 ± 5 tháng) trong
khi độc tính ở mức có thể chấp nhận được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GLOBOCAN Cancer Fact Sheets: Breast
cancer.
iarc.fr/old/FactSheets/cancers/breast-new.asp>,
accessed: 30/05/2018.
2. De Maio E., Pacilio C., Gravina A. et al. (2007).
Vinorelbine plus 3-weekly trastuzumab in
metastatic breast cancer: a single-centre phase
2 trial. BMC Cancer, 7, 50.
Bảng 7 cho thấy tỷ lệ hạ bạch cầu chủ yếu gặp
ở độ I, độ II chiếm tỷ lệ 45,4% số đợt truyền hóa
chất, hạ độ III, độ IV là 9,3% số đợt truyền, trong đó
có 3 lần truyền bị hạ bạch cầu độ IV chiếm tỷ lệ
1,2%. Như vậy bạch cầu có xu hướng nhạy cảm
hơn với hóa chất. Theo Lê Thị Yến và cộng sự
(2017) với hơn 300 lần truyền cho thấy tỷ lệ hạ bạch
cầu chủ yếu gặp ở độ II và độ III chiếm tỷ lệ 50%[6].
Nghiên cứu của Chan và cộng sự năm 2006 trên 69
bệnh nhân cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân hạ bạch
cầu trung tính độ III, IV là 84%; tỷ lệ số lần truyền bị
giảm bạch cầu trung tính độ III, IV là 18%[4].
3. Hernate A., trastuzumab and vinorelbine as first-
line therapy for HER2-overexpressing metastase
breast cancer: multicenter phase II trial with
clinical out comes, analysis of serum tumor
markers as predictive factors and cardiac
surveillance algorithm. Br J. cancer 2006; 95,
788-793.
4. Chan A, et al. Vinorelbine plus trastuzumab
combination as first-line therapy for HER2-
positive metastatic breast cancer patients: an
international phase II trial. Br J. cancer 2006.
Tỷ lệ giảm huyết sắc tố chỉ gặp ở độ I, độ II (với
tỷ lệ 60,1% số lần truyền ở độ I và 11,2% số lầ
truyền ở độ II), (theo bảng 7). Trong khi đó tỷ lệ giảm
348
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
5. Michael Andersson, et al. Phase III randomized
study comparing docetaxel plus trastuzumab
with vinorelbine plus trastuzumab as first-line
therapy of metastatic or locally advanced Human
Epidermal Growth Factor Receptor 2-positive
breast cancer: the HERNATA study. Journal of
clinical oncology 2011.
chí ung thư học Việt Nam, số 1-2017, trang 279-
284.
7. Lê Thanh Đức và cộng sự (2013). Đánh giá hiệu
quả của phác đồ đơn hóa chất vinorelbine trong
điều trị ung thư vú tái phát di căn. Tạp chí ung
thư học Việt Nam, số 3-2013.
8. Bùi Diệu và cộng sự (2011). Tình hình mắc ung
thư ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn 2005-2008. Tạp
chí Ung thư học Việt Nam, số 3-2011, trang 39–
46.
6. Lê Thị Yến và cộng sự, 2017. Đánh giá kết quả
điều trị bước đầu của phác đồ trastuzumab-
vinorelbine trên bệnh nhân ung thư vú tái phát,
di căn có HER2 dương tính tại bệnh viện K. Tạp
349
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
ABSTRACT
Evaluation of initial results of chemotherapy vinorelbine plus trastuzumab combination in
HER2-positive metastatic breast cancer patients at Military 103 Hospital
Objectives: Evaluation of response, duration of non-progressive disease and undesirable effects of
vinorelbine chemotherapy regimen in combination with trastuzumab in patients with recurrent metastatic breast
cancer.
Subjects and methods: 38 patients with PDT or stage IV at the time of diagnosis of HER2-positive
chemotherapy vinorelbine in combination with trastuzumab at Military Hospital 103 from 2011 to 2019
Results: There were 258 vinorelbine infusions combined with trastuzumab, the complete response rate
was 21.1%; partial response is 42.1%, clinical benefit is 68.4%. The median duration of non-progression of the
regimen was 8.4 5 months. The common toxicity is leukopenia, mainly in grade I, II, III 54.7%. Toxicity to the
hematopoietic system is usually mild with little effect on the course of treatment.
Key word: HER2, vinorelbine combination trastuzumab, metastatic breast cancer.
350
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả bước đầu hóa trị Vinorelbine kết hợp Trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú di căn có HER2 dương tính tại Bệnh viện Quân y 103", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_buoc_dau_hoa_tri_vinorelbine_ket_hop_trastu.pdf

