Đánh giá hàm lượng đa nguyên tố trong nước trà của một số loại trà ở Việt Nam

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 12  
25  
Đánh giá hàm lượng đa nguyên tố trong nước trà của một số loại trà  
ở Việt Nam  
Lê Thị Anh Đào, Nguyễn Công Hậu*  
Khoa Kĩ thuật Thực phẩm và Môi trường, Đại học Nguyễn Tất Thành  
*nchau@ edu.vn.  
Tóm tắt  
Nhận  
05.12.2020  
Trà (Camellia sinensis L.) được xem là một loại thức uống phổ biến trên thế giới. Trà có giá trị  
dinh dưỡng và dược tính cao do chứa nhiều các hợp chất có tính kháng oxi hóa, các amino acid và  
nhiều nguyên tố dinh dưỡng đa vi lượng cần thiết. Trong nghiên cứu này, phương pháp plasma  
ghép cặp cảm ứng cao tần - đầu dò khối phổ (ICP-MS) được thẩm định nhằm đánh giá sự phóng  
thích của các nhóm nguyên tố dinh dưỡng đa vi lượng và nguyên tố không thiết yếu trong nước  
Trà ở các nhiệt độ pha và thời gian ngâm trà khác nhau. Kết quả cho thấy, sự gia tăng nhiệt độ của  
Được duyệt 24.12.2020  
Công bố  
30.12.2020  
Từ khóa  
nước pha trà đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng tỉ lệ phóng thích của nguyên tố vào trong  
0
nước hơn là khi cố định nhiệt độ pha tại 70 C và kéo dài thời gian ngâm trà. Phần trăm phóng Camellia sinensis L.,  
thích của các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng còn lại giảm dần theo thứ tự B > Mn > Zn > Cu > Fe ICP-MS, nước trà,  
> Ni, trong đó Fe và Ni cho tỉ lệ phóng thích thấp hơn hẳn so với các nguyên tố còn lại. Giá trị nguyên tố,  
nồng độ Al cao nhất trong nước trà ghi nhận ở mẫu trà đỏ (khoảng 2,5mg/L), đều nằm trong giới tỉ lệ phóng thích  
hạn cho phép của WHO.  
® 2020 Journal of Science and Technology - NTTU  
Ngoài ra, các nguyên tố dinh dưỡng đa vi lượng thiết yếu  
1 Đặt vấn đề  
trong cơ thể con người có thể được bổ sung qua việc uống  
Trà (Camellia sinensis L.) có thể được xem là một thức uống  
trà vì sản phẩm trà có chứa các nhiều nguyên tố như  
phổ biến được tiêu thụ bởi gần hai phần ba dân số trên thế giới  
sodium, potassium, manganese, selenium, boron, kẽm,  
vì ngoài tác dụng giải khát, trà còn có giá trị dinh dưỡng và  
strontium, đồng,… [2]. Bên cạnh đó, trà còn có khả năng  
dược tính cao [1]. Kể từ khi được phát hiện vào khoảng 2700  
chứa một số nguyên tố không thiết yếu (nguyên tố độc), có  
trước Công nguyên, trà được trồng chủ yếu tại các nước châu  
khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng như  
Á và châu Phi như Trung Quốc, Sri Lanka, Ấn Độ, Kenya,  
Cd, Pb, Hg, … Quá trình pha trà sẽ khiến một số thành  
Zimbabwe,… [2]. Theo qui trình sản xuất công nghiệp, có  
phần trong trà đi vào dung dịch nước trà, đặc biệt là các  
nhiều loại trà trên thị trường như trà trắng, trà xanh, trà đen, trà  
nguyên tố với khả năng phóng thích khác nhau, từ đó làm  
Ô long,… [3, 4]. Thành phần chính của lá trà là nước (chiếm  
ảnh hưởng đến chất lượng trà cũng như sức khỏe của người  
75 % - 82 %), cần thiết để duy trì sự sống của cây. Bên cạnh  
nước, thành phần và hàm lượng các chất hòa tan trong trà là  
tiêu dùng đặc biệt là đối với các nguyên tố độc/không thiết  
yếu (nếu có hiện diện trong trà). Ngoài yếu tố về chất lượng  
một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà  
trà hay loại trà sử dụng, sự phóng thích của các nguyên tố  
nghiên cứu về trà [5, 6]. Ngoài các hợp chất polyphenol, trà  
và sự hiện diện của chúng trong nước trà phụ thuộc nhiều  
còn có nhiều hợp chất khác, bao gồm alkaloid, amino acid,  
yếu tố dễ thay đổi và điều chỉnh như lượng trà dùng để pha,  
protein, glucid, chất bay hơi và kim loại dạng vết. Trà chứa  
thể tích nước, nhiệt độ nước pha trà và thời gian ngâm trà.  
nhiều hợp chất polyphenol (đặc biệt là các catechin), các  
Trên thế giới, có rất nhiều các nghiên cứu liên quan đến hàm  
amino acid, tannic acid, và sự hiện diện của những chất chống  
lượng của nguyên tố trong trà và cả trong nước trà [8-12]. Tuy  
oxi hóa khác nên việc uống trà có lợi cho sức khoẻ con người,  
nhiên, tại Việt Nam, nghiên cứu về kim loại trong trà nói  
có khả năng phòng ngừa rất nhiều loại bệnh như chứng  
chung và cho các loại trà Việt Nam nói riêng khá hạn chế. Một  
Alzheimer, huyết áp cao, béo phì và giảm nguy cơ ung thư [7].  
số công bố chỉ dừng lại ở việc xác định vài nguyên tố trong  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 12  
26  
mẫu trà mà chưa xác định đồng thời nhiều nguyên  
tố [13]. Thực tế hơn là xác định hàm lượng các kim loại  
chính trong dung dịch nước trà mà con người trực tiếp đưa  
vào cơ thể, từ đó có thể đưa ra kết luận về các yếu tố ảnh  
hưởng đến nồng độ kim loại hiện diện trong nước trà, tính  
chất của từng nguyên tố và khả năng thôi nhiễm của chúng  
vào trong dung dịch trong cùng một điều kiện pha.  
Trong nghiên cứu này, phương pháp ICP-MS được sử dụng  
nhằm xác định và đánh giá hàm lượng của các nhóm  
nguyên tố bao gồm (i) nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (Na,  
K, Ca, Mg), (ii) nguyên tố dinh dưỡng vi lượng (B, Cr, Mn,  
Ni, Fe, Cu, Zn, As, Se) và (iii) nguyên tố không thiết yếu  
(Al, Cd, Pb) trong nước trà pha từ các điều kiện nhiệt độ và  
thời gian ngâm trà khác nhau dựa trên sự tính toán tỉ lệ  
phóng thích của các nguyên tố này từ trà vào dung dịch  
nước trà.  
2.2 Hóa chất  
Các hóa chất tinh khiết phân tích gồm HNO3, HCl, chuẩn  
đa nguyên tố chứa 33 nguyên tố 10 mg/L (Merck, Đức),  
dung dịch hiệu chuẩn iCAP Q/Qnova CALIBRATION  
và tune máy iCAP Q/RQ TUNE (Thermo Fisher  
Scientific, Đức).  
2.3 Thẩm định qui trình phân tích hàm lượng tổng các  
nguyên tố trong trà bằng ICP-MS  
Thiết bị ICP-MS Thermo ScientificTM iCAPTM RQ, Mĩ  
được tối ưu hóa các thông số cơ bản qua quá trình “tune”  
thiết bị (Bảng 2).  
Bảng 2 Thông số hoạt động cơ bản của thiết bị ICP-MS  
Các thông số vận hành chính  
Hệ phun sương  
Tốc độ bơm nhu động  
Buồng phun  
Sampling cone  
Skimmer cone  
“Concentric” 0,96 L/phút  
40 mL/phút  
Quartz type cyclonic spray  
Nickel, 1 mm orifice  
Nickel, 0,75 mm orifice  
1.200 W  
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1 Lấy mẫu và bảo quản mẫu  
Năng lượng plasma  
Nghiên cứu này khảo sát trên 5 mẫu trà khô thành phẩm  
trong đó có 3 mẫu trà được thu thập theo TCVN 5609:2007  
[14] và QCVN 01-28:2010/BNNPTNT [15] ở vùng trà cổ  
thụ (Suối Giàng, tỉnh Yên Bái-miền Bắc, Việt Nam) và 2  
mẫu trà Ô long ở vùng trà hữu cơ Ô long (Lâm Hà, tỉnh  
Lâm Đồng), Bảng 1.  
Tốc độ khí và chân không  
Tốc độ khí plasma  
Tốc độ khí phun sương  
Tốc độ khí bổ trợ  
Expansion stage  
Áp suất bộ phân tách khối  
14L/phút  
0,94L/phút  
0,8L/phút  
1 mmbar  
1,4 x 10–7torr  
Bảng 1 Thông tin các mẫu trà trong nghiên cứu  
Thông số đo  
Mã mẫu  
Vị trí  
Thông tin mẫu  
Trà trắng cổ thụ  
Trà xanh cổ thụ  
Trà đỏ cổ thụ  
Khoảng mass  
Dwell time  
Số vòng quét  
0-300 amu  
0,1 giây  
10  
AW Suối Giàng, tỉnh Yên  
AG Bái (miền Bắc Việt  
AR Nam)  
Thời gian rửa giữa các mẫu 60 giây  
Tổng thời gian đo 90 giây  
OFS Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Trà Ô long Tứ Quí  
OKT (miền Nam Việt Nam) Trà Ô long Kim Tuyên  
Qui trình phân tích hàm lượng tổng các nguyên tố trong  
trà bằng ICP-MS được thẩm định gồm các nội dung như  
giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ),  
đường chuẩn, độ lặp lại, độ tái lặp và độ đúng (Bảng 3)  
dựa trên các tiêu chí được đưa ra trong Phụ lục F của  
AOAC.  
Các mẫu trà trước khi phân tích sẽ được đồng nhất theo  
TCVN 9738:2013 [16] để thu được mẫu đồng nhất. Mẫu  
sau khi xay sẽ được chuyển vào túi nhựa có khóa kéo, bảo  
quản trong bình túi hút ẩm với vật liệu hút ẩm là silica gel.  
Điều kiện bảo quản: 25 C, độ ẩm 70 % và tránh ánh nắng  
trực tiếp.  
0
Bảng 3 Các thông số thẩm định phương pháp phân tích nguyên tố bằng ICP-MS  
m/z định lượng  
Slope (a)  
0,0005  
0,0097  
0,0044  
0,0016  
0,0046  
0,0012  
0,0618  
0,0482  
0,0016  
0,0226  
Intercept (b)  
0,0007  
IDL-IQL (훍g/L)  
15 – 33  
RSD (%)  
0,38  
0,21  
4,3  
p-values  
0,403  
0,266  
0,863  
0,981  
0,814  
0,941  
0,931  
0,0824  
0,354  
0,605  
HSTH (%)  
93 – 102  
105 – 115  
100 – 101  
100 – 108  
96 – 107  
96 – 101  
95 – 105  
93 – 116  
90 – 111  
92 – 115  
11B  
23Na  
24Mg  
27Al  
39K  
-0,1345  
0,3393  
0,2507  
0,2614  
0,1960  
-1,0934  
-1,5247  
0,3194  
18 – 30  
16 – 34  
13 – 25  
100-170  
2,4  
1,8  
4,9  
3
2,1  
2,5  
3,2  
44Ca  
52Cr  
55Mn  
57Fe  
60Ni  
39-79  
0,16 - 0,24  
0,23 - 0,46  
56 – 100  
0,16 - 0,23  
1,2317  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 12  
27  
m/z định lượng  
63Cu  
Slope (a)  
0,0566  
0,0127  
0,008  
0,0004  
0,0033  
0,3522  
Intercept (b)  
2,8654  
IDL-IQL (훍g/L)  
0,41 - 0,93  
10 – 23  
0,024 - 0,05  
0,16 - 0,39  
0,013 - 0,028  
14 – 30  
RSD (%)  
1,4  
p-values  
0,197  
0,134  
0,649  
0,14  
HSTH (%)  
95 – 118  
90 – 110  
90 – 110  
90 – 110  
90 – 101  
95 – 101  
66Zn  
1,0485  
0,3843  
0,0084  
0,0659  
2,6  
2,7  
2,2  
0,55  
4,7  
75As  
77Se  
111Cd  
0,269  
0,0534  
208Pb  
13,382  
p-valuetính toán > plí thuyết = 0,05 nên không có sự khác biệt đáng kể theo thống kê ở độ tin cậy p = 0,95 giữa ba ngày làm việc.  
2.4 Xác định hàm lượng tổng nguyên tố trong trà  
các khoảng thời gian ngâm trà khác nhau. Mẫu sau đó  
được làm nguội nhanh về nhiệt độ phòng, li tâm 3.500  
rpm trong 10 phút. Lọc mẫu qua màng PTFE 0,45 µm,  
thêm nội chuẩn và đo trên thiết bị ICP-MS. Phần trăm (%)  
phóng thích cho từng nguyên tố trong dung dịch nước trà  
ở mỗi điều kiện pha sẽ được tính toán thông qua tỉ lệ giữa  
nồng độ của nguyên tố đó trong nước trà và nồng độ tổng  
của nó trong trà.  
Qui trình xử lí mẫu trà phân tích nguyên tố được thực hiện  
theo Standard Operating Procedures # 1823 của Scientific  
Engineering Responses and Analytical Services (SOP # 1823  
SERAS 2003) và EPA 3051a (2007) sử dụng phương pháp  
acid hóa trong lò vi sóng Speedwave Expert, Đức.  
2.5 Đánh giá hàm lượng tổng của các nguyên tố trong nước  
trà ở các nhiệt độ pha trà và thời gian ngâm trà  
Sự phóng thích của các nhóm nguyên tố (dinh dưỡng đa  
lượng, dinh dưỡng vi lượng và không thiết yếu) trong trà  
được đánh giá khi thay đổi các nhiệt độ pha trà (10, 20, 30,  
2.6. Xử lí số liệu  
Tất cả các thí nghiệm được làm lặp 3 lần. Giá trị trung bình,  
độ lệch chuẩn và đồ thị được xử lí bằng phần mềm  
Microsoft Excel (2016).  
0
50, 70, 90 và 100) C và thời gian ngâm trà (1, 5, 10, 15,  
20, 25 và 30) phút theo qui trình: 0,2 g ± 0,001 g mẫu trà đã  
nghiền mịn, thêm 10 mL nước deion (DI) ở các nhiệt độ  
pha trà được khảo sát, vortex trong 30 giây, để yên trong  
3 Kết quả và thảo luận  
3.1 Hàm lượng tổng của nguyên tố trong mẫu trà khô  
Bảng 4 Hàm lượng tổng của các nguyên tố (mg kg–1, ngoại trừ (*) tính bằng % theo khối lượng khô),  
TB: hàm lượng trung bình, SD: độ lệch chuẩn (tính cho ba lần làm thí nghiệm lặp lại, n=3)  
Mẫu Giá trị Na  
K * Ca Mg *  
408 1,026 500 0,135 17,52 0,65 500 39,9 5,801 25,31 45,2 0,026 0,071 204  
21 0,031 15 0,031 0,51 0,05 30 0,054 0,91 1,1 0,017 0,013 55  
208 1,081 591 0,142 19,01 45,2 0,026 0,055 201  
B
Cr Mn Fe  
Ni  
Cu  
Zn  
As  
Se  
Al Cd Pb  
TB  
SD  
TB  
SD  
TB  
SD  
TB  
SD  
TB  
SD  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
0,98  
0,11  
0,99  
0,84  
0,91  
AW  
AG  
AR  
7
1,5 465 98  
0,71 88 20  
1,71 509 99  
0,47 27 20  
6,03  
0,15  
5,97  
0,61  
21,9  
2,5  
24 0,094 73  
193 1,05 608 0,132  
72 0,11 90 0,011  
77 0,989 735 0,1125 16,1 2,172 849 85,9 6,61 12,76 12,81 0,18 0,106 720  
15 0,041 50 0,005 0,082 14 4,4 0,48 0,67 0,61 0,19 0,078 18  
44,8 0,885 500 0,1051 12,61 0,428 661 83,6 5,19 12,7 11,89 0,024 0,098 520  
6,5 0,048 23 0,0064 0,7 0,028 28 4,7 0,19 0,35 0,7 0,028 0,073 28  
0,018  
1,61  
19,1  
4,2  
2,7  
45,7  
7,2  
0,019 0,035 20  
0,04 0,089 411  
0,029 0,088 35  
22,5  
3,3  
0,67  
0,136  
0,034  
0,169  
0,039  
OFS  
1
OKT  
Na, K, Ca, Mg, Mn và Fe có hàm lượng cao hơn so với các  
nguyên tố còn lại (Bảng 4); Cd không phát hiện ở điều kiện  
qui trình phân tích hiện tại. K chiếm nồng độ cao nhất, từ 0,8  
cho đến hơn 1 % (khối lượng khô). 3 mẫu Trà ở miền Bắc có  
hàm lượng của nguyên tố này cao hơn so với mẫu trà Ô long  
ở miền Nam. Điều này có thể được lí giải do đất trồng trà ở  
khu vực khảo sát tại miền Bắc có hàm lượng K cao hơn hẳn  
so với vùng Lâm Hà ở miền Nam. K là một nguyên tố dễ tiêu  
nên dẫn đến khả năng tích luỹ ở ba mẫu trà cổ thụ nhiều hơn.  
Bên cạnh đó, 3 mẫu trà ở miền Bắc được sản xuất từ cây trà  
cổ thụ, sinh sống qua hàng trăm năm, bản thân nó sẽ có khả  
năng tích lũy lâu dài các nguyên tố hơn là cây trà Ô long chỉ  
có tuổi thọ không quá (5 – 10) năm.Trong đất trồng trà, hai  
nguyên tố Al và Fe thường chiếm hàm lượng cao, có thể cỡ  
phần trăm. Tuy nhiên, hàm lượng của Al trong mẫu trà hiện  
tại cao hơn hàm lượng của Fe. Hàm lượng Al trong hai mẫu  
trà Ô long cao hơn (1,5 – 3) lần so với 3 mẫu trà cổ thụ. Đó  
là do mẫu trà Ô long lấy từ Lâm Đồng, với điều kiện thổ  
nhưỡng là đất đỏ bazan có hàm lượng Al, Fe cao hơn ở Yên  
Bái (nơi lấy mẫu Trà cổ thụ).  
Sự có mặt của Al trong trà phụ thuộc vào độ linh động của  
nguyên tố này trong đất và khả năng hấp thu của cây trà. Đất  
trồng trà thường là môi trường acid, làm cho Al tồn tại nhiều  
ở dạng khả dụng sinh học, và được cây trồng hấp thu thông  
qua các kênh dinh dưỡng [17,18]. Hơn nữa, Al cũng có khả  
năng tạo các phức vô cơ và hữu cơ trong cây [17].  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 12  
28  
Trong các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng, Mn được xem  
là một nguyên tố phổ biến nhất trong các mẫu trà (465 -  
849 mg/g), thể hiện cây trà có khả năng tích luỹ Mn, điều  
này cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Dambiec và  
cộng sự (2013) [19] và Zhang và cộng sự (2018) [20] với  
hệ số tích luỹ của nguyên tố này trong lá trà non và trưởng  
thành lần lượt lên đến 3,9 và 12,5.  
Đối với một số kim loại nặng được qui định trong QCVN8-  
2: 2011/BYT [21] như As, Cd và Pb, nồng độ của chúng  
trong các mẫu trà hiện tại nằm trong ngưỡng cho phép, cụ  
thể lần lượt là (1, 1, 2 và 0,05) mg/kg.  
sẽ tốt hơn ở nhiệt độ thấp, do nguyên tố được xem là những  
thành phần bền nhiệt nghĩa là không bị phân hủy bởi nhiệt  
độ. Ở các mẫu trà, tỉ lệ phóng thích của 3 mẫu trà cổ thụ  
cao hơn so với hai mẫu trà Ô long , cụ thể Na (6,8 - 44,2 %  
so với 4, 1- 25,2 %), K (7,4 - 45,1 % so với 5,8 - 30,1 %),  
Ca (0,3 - 2,1 % so với 0,2 - 1,4 %) và Mg (1,7 - 10,2 % so  
với 0,7 - 5,7 %). Nguyên nhân có thể do cấu trúc “xoắn”  
của trà Ô long dẫn đến tỉ lệ phóng thích thấp hơn so với ba  
loại trà xanh, trà trắng và trà đỏ dù cho hàm lượng tổng của  
4 nguyên tố này trong 3 mẫu trà cổ thụ phần lớn cao hơn so  
với trà Ô long . Tỉ lệ phóng thích của các nguyên tố giảm  
dần theo thứ tự Na > K > Mg > Ca, trong đó 2 nguyên tố Ca  
và Mg có tỉ lệ phóng thích thấp hơn hẳn so với Na và K và  
cũng không có sự khác biệt nhiều giữa các điều kiện pha  
trà. Ca và Mg có điện tích lớn, liên kết chặt hơn với các  
thành phần trong trà và khó chiết khỏi nước trà hơn so với  
Na và K. Nghiên cứu của Brzezicha-Ciroka và cộng sự  
(2016) cũng báo cáo tỉ lệ phóng thích cao đối với K cho  
hầu hết các loại trà (54,2 - 66,3 %) [22], tương tự như  
nghiên cứu của Aksuner và cộng sự (2012) [23] và tỉ lệ  
phóng thích không giống nhau giữa các loại trà đối với Na  
(43,7 % cho trà Ấn Độ) và 15,1 - 24,2 % đối với các loại trà  
khác. Như vậy, sự phóng thích của từng nguyên tố đa lượng  
trong nước trà sẽ tùy thuộc vào bản chất của nguyên tố, loại  
trà cũng như điều kiện pha.  
3.2 Sự phóng thích của các nguyên tố trong nước trà ở các  
nhiệt độ pha khác nhau  
Các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng được quan tâm trong  
nghiên cứu này là Na, K, Ca và Mg.  
Kết quả về phần trăm phóng thích tính toán được của 4  
nguyên tố dinh dưỡng đa lượng Na, K, Ca và Mg (Bảng 5)  
cho thấy % phóng thích của các nguyên tố tăng dần theo  
nhiệt độ của nước pha trà với cùng thời gian ngâm trà là 10  
phút. Hầu hết các nguyên tố cho tỉ lệ phóng thích cao nhất ở  
0
điều kiện nước pha trà sôi (100 C). Những giá trị này tăng  
0
nhanh kể từ nhiệt độ nước pha trà 50 C và tăng chậm lại  
khi tiếp tục tăng nhiệt độ của nước pha trà. Sự gia tăng về  
nồng độ của nguyên tố theo nhiệt độ nước được lí giải theo  
khả năng chiết của các chất trong trà ở nhiệt độ cao thường  
Bảng 5 Tỉ lệ (%) phóng thích của các nguyên tố trong nước trà ở nhiều nhiệt độ pha trà khác nhau (“-”: không phát hiện)  
STT  
1
2
3
4
5
6
7
8
Mẫu  
Na  
K
Ca Mg  
B
Cr Mn  
Fe  
0,8  
0,9  
1,2  
Ni  
1,1  
1,2  
1,5  
Cu  
3,1  
3,6  
Zn  
8,1  
9,2  
As  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Se  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Al  
3,8  
4,3  
Cd  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Pb  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
AW - 10 9,2  
AW - 20 10,5 8,4  
7,4  
0,3  
0,3  
1,7  
9
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
6,2  
7,1  
8,9  
20,8 2,7  
25 3,3  
28,7 3,8  
30  
7,9  
9,1  
10,7 2,1  
23,1 4,6  
1,9 10,2  
2,4 12,8  
5,5 29,8  
6,6 35,8  
7,6 41,2  
AW - 30 13,2 10,5 0,4  
AW - 50 30,7 24,5  
AW - 70 36,8 29,5 1,2  
AW - 90 42,4 33,9 1,4  
AW - 100 44,2 35,3 1,5  
AG - 10  
AG - 20  
AG - 30  
AG - 50 19,8 26,3 1,2  
AG - 70 25,7 34,2 1,6  
4,4 11,5  
5,4  
1
3,6 10,4 26,8  
4,3 12,4 32,2  
5
12,6  
15,1  
17,4  
18,2  
4,8  
14,3 37  
8
2
43  
11,4  
3,9  
1,6  
1,8  
5,2 14,9 38,7  
6,8  
9
0,4  
1,3  
1,5  
1,7  
4
9,8  
9
7,8 10,4 0,5  
9,2 12,2 0,6  
2,3 13,1  
2,8 15,5  
5,9 33,3  
7,7 43,3  
4,6 11,3  
5,4 13,3  
5,5  
6,5  
10  
11  
12  
13  
3,7 11,6 28,7  
4,8 15,1 37,3  
5,8 18,2 44,8  
6,4  
0,7  
0,8  
1
13,9  
18,1  
21,7  
23,9  
5,5  
30  
36  
5,9  
7,1  
AG - 90 30,8 41  
1,9  
9,3  
52  
14 AG - 100 33,9 45,1 2,1 10,2 57,2  
39,6 7,8  
3,3  
4
4,6  
6,9  
13,9 4,8  
16,7 5,8  
17,1 5,9  
2,6  
3,1  
3,4  
4,6  
20 49,3  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
AR - 10  
AR - 20  
AR - 30  
AR - 50 10,3 12,2 0,4  
AR - 70 20,5 24,5 0,8  
4,9  
5,9  
6,8  
5,8  
7
8,2  
0,2  
0,2  
0,3  
1,1  
11  
1,1  
1,4  
1,6  
2,4  
2,1  
2,6  
3
4,5  
9
3
1,3 13,2  
1,5 15,4  
2,3 23,1  
4,6 46,2  
5,5 55,5  
5,7 56,9  
3,5  
4,1  
6,2  
12,4  
6,6  
7,7  
1,5  
2,9  
11,5  
23,1  
27,7  
28,4  
2
2,4  
2,7  
3,6  
10,1  
AR - 90 24,6 29,4  
1
1
3,5 10,8 14,9  
3,6 11,1 15,2  
0,6  
0,7  
0,7  
1
21 AR - 100 25,2 30,1  
22  
23  
24  
25  
26  
OFS - 10 4,1  
OFS - 20 4,4  
OFS - 30 6,1  
OFS - 50 6,8 10,8 0,3  
OFS - 70 12,3 19,6 0,8  
6,5  
7
9,8  
0,2  
0,2  
0,2  
0,7  
0,8  
0,9  
1,2  
3,6  
4,3  
4,8  
6,5  
0,4  
0,5  
0,6  
0,8  
2,1  
2,5  
2,7  
3,7  
3,5  
4,2  
4,6  
6,2  
-
-
3,4 18,2  
12,8 2,1  
2,8 10,4 17,5  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 12  
29  
STT  
Mẫu  
Na  
K
Ca Mg  
B
Cr Mn  
Fe  
Ni  
Cu  
Zn  
As  
-
-
-
-
-
-
-
-
Se  
-
-
-
-
-
-
-
-
Al  
12,1  
12,3  
3,7  
4,2  
7,9  
Cd  
Pb  
-
-
-
-
-
-
-
-
27  
OFS - 90 14,7 23,5  
1
1
4,0 21,9  
4,1 22,3  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
15,4 2,6  
15,6 2,6  
2,9  
3,3  
6,2  
7,3  
13,1 4,0  
15,1 4,6  
15,7 4,8  
3,3 12,5 21  
3,4 12,7 21,3  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
28 OFS - 100 15 23,9  
29 OKT - 10 4,6  
30 OKT - 20 4,9  
31 OKT - 30 6,1  
32 OKT - 50 7,2 10,9 0,6  
33 OKT - 70 12,9 19,6 1,1  
34 OKT - 90 14,8 22,5 1,3  
35 OKT - 100 15,4 23,5 1,4  
7
7,5  
9,3  
0,3  
0,3  
0,5  
0,7  
0,7  
1,4 10,0  
1,7 11,7  
4,7  
5,2  
0,9  
1
1,9  
2,2  
0,7  
0,7  
1,4  
1,6  
3
2,8  
3,1  
6
4,3  
4,9  
9,3  
7
10,9  
9,3  
3
20,9  
12,5 19,5  
16,6  
19,1  
20  
3,4 24,1  
3,6 25,1  
3,4 14,4 22,4  
3,5 15 23,4  
-
-
-
Không phát hiện các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng Cr, As  
và Se trong nước trà ở điều kiện phân tích (Bảng 5). Có thể  
do hàm lượng 3 nguyên tố này trong mẫu trà thấp (Bảng 4)  
dẫn đến hàm lượng được phóng thích trong nước trà rất  
thấp và ngoài giới hạn định lượng của phương pháp được  
thẩm định. Xu hướng về tỉ lệ phóng thích theo sự gia tăng  
nhiệt độ tương tự như đối với các nguyên tố dinh dưỡng đa  
lượng là khả năng phóng thích của các nguyên tố tăng dần  
theo nhiệt độ pha trà và mẫu trà Ô long đa số cho tỉ lệ phóng  
thích thấp hơn so với 3 mẫu trà cổ thụ. Tỉ lệ phóng thích của  
các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng còn lại giảm dần theo thứ  
tự B > Mn > Zn > Cu > Fe > Ni, trong đó Fe và Ni cho tỉ lệ  
phóng thích thấp hơn hẳn so với các nguyên tố còn lại, có thể  
do sự hình thành các phức có độ hòa tan thấp ở trong trà [24].  
Hơn nữa, tannin và tannic acid trong trà sẽ phản ứng hóa học  
với các nguyên tố trong trà, dẫn đến hàm lượng của mỗi  
nguyên tố không giống nhau giữa các loại trà do khác biệt về  
hàm lượng của 2 chất này [22]. Trong đó, đặc biệt là phản  
ứng kết tủa của các phức chelate làm giảm mạnh nồng độ của  
nguyên tố xác định trong nước trà. Những mẫu trà có hàm  
lượng tannin thấp cho tỉ lệ phóng thích các nguyên tố cao  
hơn những mẫu trà có hàm lượng tannin cao [19].  
dung dịch nước trà ở các điều kiện pha (Bảng 5). Riêng đối  
với Al, kết quả cho thấy tỉ lệ phóng thích tăng dần theo nhiệt  
độ pha trà và tăng chậm lại từ nhiệt độ 70 đến 100 0C. Riêng  
mẫu trà đỏ cho nồng độ Al cao nhất với tỉ lệ phóng thích cao  
0
nhất (28,4 % ở 100 C). Những dung dịch nước trà này có  
hàm lượng Al tổng từ 0,15-2,33 mg/L, dưới ngưỡng cho  
phép trong hướng dẫn của WHO về hàm lượng cho phép tối  
đa của Al trong nước trà là 15 mg Al tổng/L [25].  
3.3. Sự phóng thích của các nguyên tố trong nước trà ở các  
thời gian ngâm trà khác nhau  
Tỉ lệ phóng thích của các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng  
Na, K, Ca, Mg (Bảng 6) cho thấy hàm lượng nguyên tố  
trong nước trà tăng theo sự kéo dài thời gian ngâm trà từ 1  
phút đến 30 phút. Tuy nhiên, sự gia tăng tỉ lệ phóng thích  
theo thời gian ngâm trà không lớn như đối với thí nghiệm  
khảo sát về nhiệt độ của nước pha trà. Ở đây, có vai trò của  
nhiệt độ trong sự phóng thích các nguyên tố từ trà vào nước  
pha trà. Nhiệt độ cao giúp chiết hiệu quả các nguyên tố  
trong trà đi vào nước. Khi nhiệt độ pha trà đủ cao (70 0C),  
sự gia tăng thời gian ngâm trà không làm chiết thêm đáng  
kể các nguyên tố đi vào trong nước do sự cân bằng của từng  
nguyên tố giữa 2 pha (pha rắn - trà và pha lỏng - nước).  
Hơn nữa, trong suốt quá trình ngâm trà, nhiệt độ của hệ  
chiết giảm dần theo thời gian dẫn đến việc kéo dài thời gian  
ngâm trà không làm chiết thêm hàm lượng các nguyên tố  
Các nguyên tố không thiết yếu/nguyên tố độc được khảo sát  
trong nghiên cứu này bao gồm Al, Cd và Pb. Đối với các  
nguyên tố không thiết yếu, Cd và Pb không phát hiện trong  
Bảng 6 Tỉ lệ phóng thích (%) của các nguyên tố trong nước trà ở nhiều thời gian ngâm trà khác nhau (“-”: không phát hiện)  
STT  
Mẫu  
Na  
K
Ca  
1
Mg  
B
Cr  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Mn  
24,3  
24,5  
25  
25,5  
26,1  
29,1 16,1  
30,1 17,1  
26,4  
29,4  
30  
Fe  
2,5  
2,8  
3,3  
4,8  
10  
Ni  
4,2 11,7 29,8  
11,9 31,7  
4,3 12,4 32,2  
4,3 12,6 32,6  
Cu  
Zn  
As  
Se  
Al  
Cd  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Pb  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
1
2
3
4
5
6
7
8
9
AW - 1 34,8 28,5  
AW - 5 36,2 28,6  
AW - 10 36,8 29,5  
AW - 15 37,3 30,6  
AW - 20 37,8 31,7  
AW - 25 45,5 33,7  
AW - 30 47  
AG - 1 24,3 30,7  
AG - 5 24,7 33,3  
6,3 34,6  
6,9 36,9  
6,6 35,8  
6,7 37,2  
7,1 37,6  
7,6 38,8  
7,8 38,6  
7,1 42,1  
14,6  
14,8  
15,1  
15,2  
16,4  
16,7  
16,9  
16  
16,9  
18,1  
18,7  
18,8  
19  
1,1  
1,2  
1,3  
1,7  
1,8  
2
1,1  
1,3  
1,6  
1,7  
4
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
4,4  
4,3 13,3 39,9  
4,5 13,5 42  
3,9 13,8 35,6  
4,4 13,9 37  
13  
33,2  
34,7  
4,4  
5
5,9  
8,4  
7,3  
7,7 43,3  
8,9 43,3  
43  
10 AG - 10 25,7 34,2  
11 AG - 15 26,1 35,3  
12 AG - 20 27,3 35,6  
13 AG - 25 28,3 37,5  
14 AG - 30 30,3 39,3  
4,8 15,1 37,3  
5,6 16,2 39,2  
5,7 17,1 40,5  
5,7 17,1 41,7  
33,5  
1,9 10,2 43,4  
11,5 43,5  
2,2 11,6 46,3  
36,4 11,4  
36,9 11,8  
38,5 12,4  
12,8  
13,2  
2
5,8 17,8  
43  
-
-
-
18,8  
20,6  
21,7  
15  
16  
AR - 1 19,4 22,7  
AR - 5 20,3 23,5  
0,7  
0,8  
4
43,7  
3,9  
4,4  
2,5  
2,7  
8,1 11,2  
8,6 11,9  
4,5 43,9  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 12  
30  
STT  
Mẫu  
Na  
K
Ca  
0,8  
0,8  
1,1  
1,2  
1,2  
0,7  
0,7  
0,8  
0,9  
1,1  
1,2  
1,3  
0,8  
0,9  
1,1  
1,2  
1,4  
1,5  
1,6  
Mg  
4,6 46,2  
4,8  
5
B
Cr  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Mn  
13,9  
18,9  
19  
19,1  
19,4  
12,5  
12,6  
12,8  
13,1  
13,4  
Fe  
4,8  
5,3  
5,8  
6
Ni  
2,9  
Cu  
9
Zn  
12  
As  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Se  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Al  
Cd  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Pb  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
17 AR - 10 20,5 24,5  
18 AR - 15 21,4 26,5  
19 AR - 20 21,9 28,7  
20 AR - 25 22,6 28,8  
21 AR - 30 24,4  
22  
23  
24 OFS - 10 12,3 19,6  
25 OFS - 15 12,4 20,4  
26 OFS - 20 12,6 21,1  
27 OFS - 25 15,1 22,4  
28 OFS - 30 15,6 23,1  
29 OKT - 1 12,2 17,6  
30 OKT - 5 12,4 19,1  
31 OKT - 10 12,9 19,6  
32 OKT - 15 13,1 20,2  
33 OKT - 20 13,7 20,4  
34 OKT - 25 14,2 21,5  
35 OKT - 30 15,2 22,6  
23,1  
28,2  
29  
29,4  
30,1  
9,8  
46  
46,9  
5,1 11,5 20,6  
5,7 11,8  
6,3 12  
7,8 12,5 23,6  
2,7  
2,5  
2,8 10,4 17,5  
2,8 10,6 17,7  
2,8 10,8  
2,8 11,1 21,6  
2,9 11,2 22,8  
2,4 11,4 18,6  
2,7 11,5 19,3  
3,0 12,5 19,5  
3,4 13,4 20,5  
3,5 14,1 21,1  
3,5 14,2 21,8  
3,6 14,7 22,5  
22  
22,5  
5,2 47,1  
5,2 47,8  
3,2 17,6  
3,5 18,8  
3,4 18,2  
3,4 18,9  
3,6 19,2  
3,8 19,8  
3,9 19,6  
2,8 20,3  
2,8 20,8  
29  
19  
19,1  
6
OFS - 1 11,6  
OFS - 5 12  
1,7  
1,8  
2,1  
3,2  
6,6  
9,7 16,2  
9,9 17,2  
9,9  
10,1  
10,1  
11  
11,1  
11,3  
10,6  
11,3  
12  
12,4  
12,5  
12,6  
12,5  
18  
14,9 10,6  
15,5 11,2  
11,5  
12,8  
13,1  
14,6  
15,9  
16,1  
16,8  
3,0  
3,4  
4
5,6  
7,6  
7,9  
8,3  
3
20,9  
3,5 20,9  
4
4,4  
4,5 22,4  
21  
21  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Tương tự, đối với trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đa  
lượng, việc kéo dài thời gian ngâm trà cũng làm tăng tỉ lệ  
phóng thích nhưng không tăng nhiều như trường hợp khảo  
sát ảnh hưởng của nhiệt độ pha trà. Thứ tự tỉ lệ phóng thích  
giảm dần theo B > Mn > Zn > Cu > Fe > Ni. Tỉ lệ phóng  
thích của Fe và Ni được cải thiện khi tăng thời gian ngâm  
trà (lên đến 30 phút) với tỉ lệ phóng thích cao nhất lần lượt  
là 17,1 % và 7,8 % (so với giá trị cao nhất 7,8 % và 6,4 %  
trong phần khảo sát nhiệt độ); tuy nhiên đây là 2 nguyên tố  
được xem là chiết trung bình - kém [26] nên hàm lượng của  
chúng trong nước trà sẽ không tăng nhiều. Kết quả cho thấy  
sự tăng dần tỉ lệ phóng thích đối với Al khi kéo dài thời  
gian ngâm trà. Giá trị nồng độ Al cao nhất trong nước trà ở  
mẫu trà đỏ khoảng 2,5 mg/L, nằm trong giới hạn cho phép  
của WHO [25].  
trong AOAC. Hàm lượng của các nguyên tố trong dung  
dịch nước trà ở các điều kiện nhiệt độ nước pha trà và thời  
gian ngâm trà khác nhau được đánh giá qua việc tính toán tỉ  
lệ phóng thích. Kết quả cho thấy tỉ lệ phóng thích của các  
nguyên tố đều tăng theo sự tăng nhiệt độ và thời gian ngâm  
trà, trong đó yếu tố về nhiệt độ đóng góp vai trò quan trọng.  
Với hàm lượng nguyên tố trong trà và trong nước trà ở nhiều  
điều kiện pha, đặc biệt là nguyên tố không thiết yếu như Pb,  
Cd và Al, cho thấy rằng hàm lượng của các nguyên tố này  
không vượt quá các tiêu chí về ngưỡng an toàn theo WHO,  
chứng minh tính an toàn đối với người tiêu dùng. Tuy  
nhiên, khi cần xác định hàm lượng các nguyên tố này ở  
mức độ thấp hơn, cần thiết phải phát triển thêm những kĩ  
thuật phân tích cho độ nhạy cao hơn.  
Lời cảm ơn  
4 Kết luận và đề xuất  
Nghiên cứu được tài trợ bởi Quĩ phát triển Khoa học và  
Công nghệ - Đại học Nguyễn Tất Thành, mã số đề tài:  
2020.01.054/HĐ-KHCN.  
Phương pháp phân tích hàm lượng tổng của các nhóm  
nguyên tố trong mẫu trà khô thành phẩm trên thiết bị ICP-  
MS được thẩm định, thỏa mãn các tiêu chí của Phụ lục F  
Tài liệu tham khảo  
1. Madalena Monsanto, M.F., Separation of polyphenols from aqueous green and black tea. 2015.  
2. Zhang, J., R. Yang, R. Chen, Y. Peng, X. Wen, and L. Gao, Accumulation of heavy metals in tea leaves and potential  
health risk assessment: a case study from Puan County, Guizhou Province, China. International Journal of Environmental  
Research and Public Health, 2018. 15(1): p. 133.  
3. Engelhardt, U.H., Chemistry of Tea, Reference Module in Chemistry, Molecular Sciences and Chemical Engineering.  
2013, Elsevier.  
4. Shahidi, F., J.-K. Lin, and C.-T. Ho, Tea and tea products: Chemistry and health-promoting properties. 2008: CRC press.  
5. Naczk, M. and F. Shahidi, Extraction and analysis of phenolics in food. Journal of Chromatography A, 2004. 1054(1): p. 95-111.  
6. Namal Senanayake, S.P.J., Green tea extract: Chemistry, antioxidant properties and food applications – A review. Journal  
of Functional Foods, 2013. 5(4): p. 1529-1541.  
7. Hung, Y.-T., P.-C. Chen, R.L.C. Chen, and T.-J. Cheng, Sequential determination of tannin and total amino acid contents  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 12  
31  
in tea for taste assessment by a fluorescent flow-injection analytical system. Food Chemistry, 2010. 118(3): p. 876-881.  
8. Seenivasan, S., N. Manikandan, N.N. Muraleedharan, and R. Selvasundaram, Heavy metal content of black teas from  
South India. Food Control, 2008. 19(8): p. 746-749.  
9. Shekoohiyan, S., M. Ghoochani, A. Mohagheghian, A.H. Mahvi, M. Yunesian, and S. Nazmara, Determination of lead,  
cadmium and arsenic in infusion tea cultivated in north of Iran. Iranian Journal of Environmental Health Science &  
Engineering, 2012. 9(1): p. 37.  
10. Schwalfenberg, G., S. Genuis, and I. Rodushkin, The Benefits and Risks of Consuming Brewed Tea: Beware of Toxic  
Element Contamination. 2013.  
11. Mossion, A., M. Potin-Gautier, S. Delerue, I. Le Hécho, and P. Behra, Effect of water composition on aluminium,  
calcium and organic carbon extraction in tea infusions. Food Chemistry, 2008. 106(4): p. 1467-1475.  
12. Falahi, E. and R. Hedaiati, Heavy metal content of black teas consumed in Iran. Food Additives & Contaminants: Part B,  
2013. 6(2): p. 123-126.  
13. Hoàng, C.V. and D.T.T. Anh, Nghiên cứu xác định đồng thời lượng siêu vết đồng và cadimi trong mẫu Trà bằng phương  
pháp von-ampe hòa tan, sử dụng điện cực nano cacbon ống biến tính. Tạp chí Phân tích Hóa, Lí và Sinh học, 2015. 4(20).  
14. TCVN 5609:2007: Tea-Sampling (2007).  
15. QCVN 01–28:2010/BNNPTNT: National Technical regulation for tea - Procedures for sampling,analysis of quality and  
food safety (2010).  
16. TCVN 9738:2013: Tea - Preparation of ground sample of known dry matter content (2013).  
17. Wong, M.H., K. Fung, and H. Carr, Aluminium and fluoride contents of tea, with emphasis on brick tea and their health  
implications. Toxicology letters, 2003. 137(1-2): p. 111-120.  
18. Mládková, L., L. Boruvka, and O. Drábek, Distribution of aluminium among its mobilizable forms in soils of the Jizera  
mountains region. Plant Soil and Environment, 2004. 50(8): p. 346-351.  
19. Dambiec, M., L. Polechońska, and A. Klink, Levels of essential and non-essential elements in black teas commercialized  
in Poland and their transfer to tea infusion. Journal of Food Composition and Analysis, 2013. 31(1): p. 62-66.  
20. Zhang, J., R. Yang, R. Chen, Y. Peng, X. Wen, and L. Gao, Accumulation of Heavy Metals in Tea Leaves and Potential  
Health Risk Assessment: A Case Study from Puan County, Guizhou Province, China. 2018. 133(15).  
21. QCVN8-2: 2011/BYT: National technical regulation on the limits of heavy metals contamination in food (2011).  
22. Brzezicha-Cirocka, J., M. Grembecka, and P. Szefer, Monitoring of essential and heavy metals in green tea from  
different geographical origins. Environmental Monitoring and Assessment, 2016. 188(3): p. 183.  
23. Aksuner, N., E. Henden, Z. Aker, E. Engin, and S. Satik, Determination of essential and non-essential elements in various tea  
leaves and tea infusions consumed in Turkey. Food additives & contaminants. Part B, Surveillance, 2012. 5: p. 126-132.  
24. Soomro, M.T., E. Zahir, S. Mohiuddin, A.N. Khan, and I. Naqvi, Quantitative assessment of metals in local brands of tea  
in Pakistan. Pakistan Journal of Biological Sciences: PJBS, 2008. 11(2): p. 285-289.  
25. WHO. Environmental Health Criteria 194. Aluminium. Geneva: World Health Organization (1997).  
26. Salahinejad, M. and F. Aflaki, Toxic and Essential Mineral Elements Content of Black Tea Leaves and Their Tea  
Infusions Consumed in Iran. Biological Trace Element Eesearch, 2009. 134: p. 109-17.  
Assessment of multi-elemental concentrations in various tea types cultivated in Vietnam  
Le-Thi Anh-Dao, Nguyen Cong-Hau*  
Faculty of Environmental and Food Engineering, Nguyễn Tất Thành University  
Abstract Tea (Camellia sinensis L.) has been considered the second most popular non-alcoholic beverage in the world.  
Tea has high nutritional and medicinal values because it contains not only various antioxidant compounds, amino acids  
but also many essential macro-nutrients and micro-nutrients. In this study, the inductively coupled plasma-mass  
spectrometry (ICP-MS) was validated and applied to evaluate the release of elements, including macro-nutrients, micro-  
nutrients and non-essential elements in tea infusions prepared with various brewing temperatures and durations. The  
results showed that the increase in the brewing water temperature played a more important role in rising the percentage of  
0
element released into the infusion than lengthening the infusion durations at the brewing temperature of 70 C. The  
release percentages of the micro-nutrients gradually decreased in the order of B > Mn > Zn > Cu > Fe > Ni, in which Fe  
and Ni exhibited their lower values compared to other elements. The highest Al concentration in tea water was recorded  
in red tea samples (approximately 2,5 mg/L), under the permitted limits of WHO.  
Keywords Camellia sinensis L., ICP-MS, tea infusion, elements, release percentage.  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
pdf 7 trang yennguyen 17600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hàm lượng đa nguyên tố trong nước trà của một số loại trà ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ham_luong_da_nguyen_to_trong_nuoc_tra_cua_mot_so_lo.pdf