Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
TỔNG HỢP LƯỠNG OXIT ZnO/CuO  
VÀ ỨNG DỤNG LÀM XÚC TÁC QUANG HÓA  
1,4  
2,4  
3,4  
Phạm Thị Thuận , Nguyễn Thị Hải Ngọc , Trần Thiên Trí ,  
4
5*  
Lương Văn Tri , Trần Thanh Minh  
1
Trường Phổ thông Trung học Huỳnh Thúc Kháng, Quảng Ngãi  
2
Trường Phổ thông Trung học Pleiku, Gia lai  
3
Trường Phổ thông Trung học Nguyễn Chí Thanh, Pleiku, Gia lai  
4
Trường Phổ thông Trung học Lê Lợi, Pleiku, Gia lai  
4
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
*
Ngày nhận bài: 20/02/2019; ngày hoàn thành phản biện: 02/4/2019; ngày duyệt đăng: 02/7/2019  
TÓM TẮT  
Trong nghiên cứu n|y, chúng tôi đề xuất phương ph{p mới để tổng hợp lưỡng oxit  
ZnO/CuO và ứng dụng để phân hủy xanh methylene (MB) dưới ánh sáng khả  
kiến. Lưỡng oxit ZnO/CuO được tổng hợp từ vật liệu khung cơ kim (Zn/Cu-BTC)  
bằng phương ph{p ph}n hủy nhiệt. Các vật liệu được đặc trưng bằng c{c phương  
pháp SEM (Scanning Electron Microscopy), XRD (X-ray Powder Diffraction), BET  
(Brunauer–Emmett–Teller) và UV-Vis-DRS (Ultraviolet -Visible Diffuse Reflectance  
Spectroscopy). Hoạt tính xúc t{c, cơ chế xúc tác và khả năng t{i sử dụng của  
ZnO/CuO đối với MB được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy ZnO/CuO có  
hình bát diện kích thước khoảng 5-10 µm và thể hiện hoạt tính xúc tác tốt đối với  
MB trong vùng khả kiến cao hơn so với ZnO và CuO, và hoạt tính xúc tác hầu như  
thay đổi không đ{ng kế sau vài lần tái sử dụng.  
Từ khóa: ZnO/CuO, xúc tác quang hóa, xanh methylen, Zn/Cu-BTC  
1. MỞ ĐẦU  
Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp như dệt may, sản xuất  
giấy, phẩm màu nhuộm, thuộc da, và in ấn đã l|m gia tăng lượng thuốc nhuộm tổng  
hợp thải ra môi trường. Hầu hết các thuốc nhuộm n|y có t{c động tiêu cực cho hệ sinh  
thái và sức khỏe con người vì chúng có thể gây ức chế sự phát triển của thủy sinh vật  
và gây ra nhiều bệnh nguy hiểm trong đó có ung thư ở người [1].  
31  
Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa  
Có nhiều phương ph{p hóa lý kh{c nhau như hấp phụ, xúc tác quang hóa,  
phản ứng Fenton, màng lọc, thẩm thấu và phân hủy sinh học được sử dụng để xử lý  
phẩm nhuộm trong nước thải. Trong đó, phương ph{p xúc tác quang hóa dị thể được  
sử dụng rộng rãi hơn cả do thể hiện được nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với các  
phương ph{p kh{c như: chi phí thấp, hiệu quả cao, dễ thu hồi và tái sử dụng vật liệu,  
đặc biệt có thể chuyển hóa hoàn toàn chất hữu cơ độc hại thành CO  
2
và H  
2
O [2]. TiO  
2
và ZnO l| hai oxit được biết đến như các chất bán dẫn có hiệu suất quang xúc tác cao  
đối với hầu hết các hợp chất hữu cơ khó ph}n hủy, tuy nhiên chúng chỉ có thể được  
kích thích bằng ánh sáng tử ngoại (UV) vì có vùng cấm rộng. Do đó, việc cải thiện hoạt  
tính xúc tác quang hóa của các oxit bán dẫn dưới ánh sáng khả kiến nhằm tăng khả  
năng ứng dụng của chúng trong thực tế ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của  
các nhà khoa học. So với TiO , kẽm oxit (ZnO), một chất bán dẫn có độ rộng vùng cấm  
2
khoảng 3,37 eV, được coi là một trong những chất xúc tác quang bán dẫn quan trọng  
v| được ưa dùng hơn vì có độ nhạy sáng v| độ ổn định cao, dễ tổng hợp và chi phí  
tổng hợp thấp. Trong thời gian gần đ}y, một số kim loại và oxit kim loại đã được đưa  
vào bên trong cấu trúc hoặc trên bề mặt của ZnO để tăng hoạt tính xúc tác của nó trong  
vùng khả kiến. Chẳng hạn như Peng Li v| cộng sự đã chứng minh rằng việc gắn các  
kim loại quý như Au trên bề mặt của ZnO có thể tăng cường khả năng tạo electron và  
ngăn sự tái hợp của các hạt mang điện (electron và lỗ trống) dẫn đến tăng hoạt tính xúc  
tác quang hóa [3]. Nhóm nghiên cứu của Wie Wu [4] đã ph{t triển vật liệu quang xúc  
tác có cấu trúc vi xốp dạng thanh trên cơ sở Fe  
2
O /ZnO để xử lý Rhodamine B. Kết quả  
3
nghiên cứu chỉ ra rằng sự tích hợp Fe vào cấu trúc của ZnO l|m tăng đ{ng kể khả  
2O3  
năng xúc t{c của ZnO trong cả vùng tử ngoại và khả kiến. Có hai tính chất quan trọng  
cần xem xét khi lựa chọn kim loại để pha tạp vào cấu trúc của ZnO đó l|: (i) có mức  
năng lượng phù hợp để vận chuyển hiệu quả các electron ở vùng dẫn (conduction  
band, CB) của ZnO đối với chất điện giải hấp phụ; ii) có độ bền hóa học cao trong phản  
ứng quang xúc t{c. Đồng oxit (CuO) loại p với vùng cấm hẹp là một trong những ứng  
cử viên phù hợp nhất cho mục đích pha tạp với ZnO nhằm tăng hoạt tính xúc tác. Hiện  
nay, lưỡng oxit ZnO/CuO với cấu trúc phân cấp được các nhà khoa học quan tâm  
nghiên cứu do chúng ít bị kết tụ và có nhiều t}m xúc t{c hơn so với ZnO/CuO dạng hạt  
kích thước nano. Kargar và cộng sự [5] đã tổng hợp thành công ZnO/CuO dạng dây  
nano phân nhanh ứng dụng cho sản xuất H bằng năng lượng mặt trời trong một chất  
2
điện phân trung tính. Benxia Li v| c{c đồng nghiệp [6] đã ph{t triển ZnO cấu trúc  
micro phủ CuO hình dạng giống l{ c}y để tăng hoạt tính xúc tác phân hủy Rhodamine  
B của ZnO trong ánh sáng khả kiến.  
Vật liệu khung cơ kim (MOF), lần đầu tiên được công bố bởi nhà khoa học  
Yaghi và cộng sự, là loại vật liệu được hình thành từ sự tự sắp xếp của các cation kim  
loại và các phối tử hữu cơ (chủ yếu là dẫn xuất của các acid đa chức [7]. MOF-199 được  
tổng hợp từ ion Cu(II) và benzene-1,3,5-tricarboxylic acid là một trong những MOF có  
32  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
cấu trúc xốp micro giống vật liệu khung zeolite [8]. MOF-199 được ứng dụng rộng rãi  
trong xúc tác [9; 10], điện hóa [11] và hấp phụ [12] để xử lý các chất ô nhiễm môi  
trường. Trong c{c oxit đa kim loại, việc đạt được sự ph}n t{n đồng đều của từng thành  
phần trong cấu trúc là một trong những vấn đề đang cần phải nghiên cứu giải quyết.  
Vật liệu MOF có thể chứa các kim loại kh{c nhau được phân t{n đồng nhất trong  
khung hữu cơ, do đó MOF có thể trở thành vật liệu trung gian trong việc tổng hợp oxit  
đa kim loại thông qua quá trình phân hủy nhiệt. Nhờ có hiệu ứng cộng hưởng giữa các  
thành phần riêng lẻ, c{c oxit đa kim loại sẽ sở hữu những đặc tính hóa lý ưu việt hơn  
so với từng thành phần của chúng [13].  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi để xuất phương ph{p đơn, giản hiệu quả để  
tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO cấu trúc xốp bát diện sử dụng để phân hủy MB dưới  
ánh sáng khả kiến. Đầu tiên, vật liệu khung cơ kim gồm Zn, Cu và benzene-1,3,5-  
tricarboxylic acid (BTC) (ký hiệu là Zn/Cu-BTC) được tổng hợp bằng phương ph{p lò  
vi sóng. Sau đó, nung ở nhiệt độ cao loại bỏ thành phần hữu cơ BTC trong Zn/Cu-BTC  
v| thu được lưỡng oxit ZnO/CuO xốp cấu trúc bát diện. Bên cạnh đó, c{c mẫu Zn-BTC,  
Cu-BTC, ZnO và CuO cũng được tổng hợp để làm mẫu so sánh.  
2. THỰC NGHIỆM  
2.1. Vật liệu và hóa chất  
Benzene-1,3,5-tricarboxylic acid (C  
trihydrate (Cu(NO .3H O, 99,5%), zinc nitrate tetrahydrate (Zn(NO  
methylene blue (C16 S,%, 82%, ký hiệu MB) được mua từ hãng Merck (Đức). Các  
dung môi dimethylformamide ((CH NCHO, ký hiệu DMF), ethanol (C OH) và  
OH) với độ tinh khiết 99% được mua từ hãng hóa chất HiMedia (Ấn  
6H  
3(COOH)  
3, ≥ 95%), copper(II) nitrate  
3
)
2
2
3
)
2
.4H O, 98,5%) và  
2
H
18ClN  
3
3)  
2
2H  
5
methanol (CH  
3
Độ).  
2.2. Tổng hợp vật liệu  
Zn/Cu-BTC được tổng hợp theo quy trình cải tiến được mô tả trong nghiên cứu  
[14]. Cụ thể, lấy một lượng x{c định của BTC (0,4410 g; 0,0021 mol), Cu(NO .3H  
(0,2289 g; 0,00095 mol) và Zn(NO .4H O (0,5757 g; 0,0022 mol) hòa tan trong 21 mL  
3)  
2
2O  
3
)
2
2
hỗn hợp gồm ethanol: nước cất: DMF với tỷ lệ 1:1:1 (theo thể tích) và khuấy liên tục  
bằng khuấy từ trong 5 phút. Hỗn hợp sau đó được chuyển vào bình tam giác dung tích  
250 mL v| được xử lý vi sóng trong thiết bị vi sóng gia dụng Sharp R-203VN-M ở mức  
công suất 250W. Phần chất rắn được ly tâm tách khỏi dung dịch, rửa ba lần với DMF  
o
và sấy khô ở 180 C trong 8 giờ. Các mẫu Zn-BTC và Zn-BTC được tổng hợp theo các  
quy trình tương tự như trên với muối kim loại tương ứng. Các tiền chất khung cơ kim  
o
Zn/Cu-BTC, Zn-BTC và Cu-BTC được nung ở nhiệt độ 500 C trong 5 giờ với tốc độ gia  
33  
Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa  
o
nhiệt 5 C/phút để đốt cháy hoàn toàn thành phần hữu cơ v| thu được c{c oxit tương  
ứng là ZnO/CuO, ZnO và CuO.  
2.3. Xác định các đặc trưng của vật liệu  
Cấu trúc tinh thể của vật liệu được xác định bằng phương pháp nhiễu xạ tia X  
(XRD) trên máy D8 Advance Bruker (Đức) dùng bức xạ đơn sắc của Cu-K ( = 1,5406  
Å), tại điện thế gia tốc 40 kV, cường độ dòng diện 30 mA, khoảng quét 2θ từ 5º đến 40º  
với tốc độ quét 0,02º/phút. Hình thái của các mẫu vật liệu được xác định bằng phương  
pháp hiển vi điện tử quét (SEM) trên máy Hitachi S-4800 (Nhật Bản). Diện tích bề mặt  
v| độ xốp của các mẫu vật liệu được xác định bằng phương pháp hấp phụ/giải hấp  
phụ nitơ lỏng Brunauer - Emmett - Teller (BET) trên máy phân tích Micromeritics-  
o
ASAP 2020 (Mỹ) ở nhiệt độ 77 K (-196 C) với áp suất tương đối 0,05 - 0,2. Quang phổ  
phản xạ khuếch tán tử ngoại-khả kiến được chụp trên máy quang phổ UV-Vis Cary  
5000 với tốc độ quét 600 nm/phút sử dụng BaSO làm mẫu tham chiếu.  
4
2.4. Khảo sát đặc tính xúc tác quang hóa của vật liệu  
Các thí nghiệm xúc t{c quang hóa được thực hiện trong cốc thủy tinh với 0,4 g  
chất xúc tác và 500 mL dung dịch MB có nồng độ từ 5-30 mg/L, đặt dưới nguồn sáng  
của đèn halogen kim loại công suất 160 W (Philips) có gắn bộ lọc cắt bước sóng ≤ 420  
nm (Philips, Actinic BL 18W, = 365 nm). Trước khi chiếu sáng, hỗn hợp được khuấy  
trong bóng tối trong khoảng thời gian từ 60-180 phút để đảm bảo quá trình hấp phụ  
đạt cân bằng. Sau khoảng thời nhất định, hút lấy 3 mL hỗn hợp, ly tâm loại bỏ chất xúc  
t{c v| x{c định nồng độ còn lại của MB bằng phương ph{p quang trắc trên máy quang  
phổ UV-Vis V-630 Jasco (Mỹ) tại bước sóng 664 nm. Hiệu suất loại bỏ MB (%) được  
tính theo công thức (1):  
     
 
 
    
       
(1)  
 
 
trong đó, C  
o
(mg/L) và C  
t
(mg/L) lần lượt là nồng độ của MB ban đầu và tại thời điểm t.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Xác định các đặc trưng của vật liệu xúc tác  
Cấu trúc pha tinh thể của các mẫu vật liệu khung cơ kim Cu-BTC, Zn-BTC và  
Zn/Cu-BTC khảo sát bằng phương ph{p nhiễu xạ tia X được thể hiện ở Hình 1a.  
34  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
Hình 1. Giản đồ XRD (a) của các tiền chất oxit;  
(b) Giản đồ XRD của các oxit ZnO, CuO và ZnO/CuO.  
Từ hình có thể thấy rằng trong giản đồ XRD của mẫu Cu-BTC và Zn/Cu-BTC  
xuất hiện c{c đỉnh nhiễu xạ từ các mặt mạng tinh thể đặc trưng cho MOF-199 tại (200),  
(220), (311), (222), (400), (331), (420), (422), (511), (440), (600), (444), (551), (553), (751)  
như mô tả trong thư viện [15; 16]. Điều này khẳng định Cu-BTC được tổng hợp trong  
̅
nghiên cứu này là MOF-199 với nhóm không gian là Fm m [8]. Giản đồ XRD của mẫu  
Zn-BTC tổng hợp trong nghiên cứu này xuất hiện đỉnh nhiễu xạ có cường độ lớn ở góc  
o
o
2 Theta = 10,5 và các đỉnh nhiễu xạ khác có cường nhỏ ở góc 2 Theta từ 16-42 (ở hình  
o
1 chỉ biểu diễn đến 38 ), kết quả này tương tự với Zn-BTC được tổng hợp bằng phương  
pháp vi sóng của nhóm tác giả Pereira da Silva [17].  
Sau khi nhiệt phân các hợp chất khung cơ kim Zn-BTC và Cu-BTC bị phá hủy  
và chuyển thành các oxit CuO dạng đơn t| (monoclinic) và ZnO dạng lục giác  
(hexagonal) tương ứng với JCPDS Card No. 48-1548 và 6-1451; còn Zn/Cu-BTC chuyển  
th|nh lưỡng oxit ZnO/CuO như được trình bày ở Hình 1b. Không có pic không xác  
định trong giản đồ XRD của các mẫu tổng hợp chứng tỏ sản phẩm thu được có độ tinh  
khiết cao v| đã tổng hợp th|nh công lưỡng oxit ZnO/CuO. Ngoài ra, các thông số  
mạng của CuO v| ZnO trong lưỡng oxit ZnO/CuO (CuO: a = 0,468448; b = 0,342113; c =  
0,512524; và ZnO: a = b = 0,324860; c = 0,520410) có sự sai lệch nhỏ so với thông số  
mạng của CuO (a = 0,468623; b = 0,342662; c = 0,512508) và ZnO (a = b = 0,324923; c =  
0,520787) tinh khiết. Điều này chứng tỏ các oxit liên kết với nhau một phần thông qua  
kết nối nội hạt. Kích thước trung bình của nano lưỡng oxit of ZnO/CuO tính theo  
phương trình Scherrer tại đỉnh nhiễu xạ của mặt (101) là khoảng 30 nm.  
35  
Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa  
Hình 2. Hình SEM của các mẫu: a) Cu-BTC, b) Zn-BTC, c) Zn/Cu-BTC,  
d) CuO, e) ZnO, f) ZnO/CuO  
Hình thái của các mẫu vật liệu trước và sau khi thiêu kết được nghiên cứu bằng  
phương ph{p hiển vi điện tử quét SEM được trình bày ở Hình 2. Mẫu Cu-BTC có các  
tinh thể hình bát diện mịn kích thước khoảng 10 m và thể hiện độ kết tinh khá cao  
(Hình 2a). Sau khi nhiệt phân các hạt Cu-BTC đã bị phá hủy tạo thành các hạt biến  
dạng có kích thước không đều nhau như quan s{t ở Hình 2d. Mẫu Zn-BTC có hình thái  
rất khác so với Cu-BTC và có dạng thanh nano (nanorod) đường kính khoảng 200 nm.  
Mẫu ZnO thu được sau khi nhiệt phân Zn-BTC có hình dạng sợi (nanofiber) (Hình 2b)  
được hình thành từ các hạt nano có kích thước từ 30 đến 50 nm (Hình 2e). Điều đ{ng  
chú ý ở đ}y l| mẫu Zn/Cu-BTC chứa các hạt hình bát diện có bề mặt thay đổi lớn so  
với Cu-BTC. Có nhiều hạt kết tụ nhỏ xuất hiện trên bề mặt của các hạt bát diện (Hình  
2c). Các hạt nhỏ li ti này có thể là các mầm tinh thể của Zn-BTC bắt đầu lớn lên trên bề  
mặt của tinh thể Cu-BTC. Mẫu lưỡng oxit ZnO/CuO thu được từ quá trình nhiệt phân  
Zn/Cu-BTC vẫn duy trì được cấu trúc bát diện với đường kính 5-10 m chứng tỏ rằng  
mẫu lưỡng oxit có độ bền nhiệt cao hơn so với mẫu Cu-BTC.  
Một đặc tính rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến khả năng xúc t{c của vật liệu  
đó l| diện tích bề mặt riêng. Thông thường vật liệu có diện tích bề mặt lớn, hoạt tính  
xúc tác sẽ cao v| ngược lại. Trong nghiên cứu này diện tích bề mặt của các vật liệu  
được x{c định bằng phương ph{p hấp phụ-giải hấp phụ N  
Diện tích bề mặt riêng theo phương ph{p BET đối với mẫu Cu-BTC là 1567 m /g, giá trị  
n|y tương đương với mẫu Cu-BTC được tổng hợp bởi các tác giả khác [18; 19]. Trong  
2
theo phương trình BET.  
2
2
khi đó mẫu Zn-BTC có diện tích bề mặt rất thấp, khoảng 5 m /g và mẫu Zn/Cu-BTC có  
36  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
2
diện tích bề mặt trung bình so với hai mẫu còn lại, khoảng 844 m /g. Trong quá trình  
nhiệt phân, các hạt thường có khuynh hướng kết tụ lại với nhau dẫn đến diện tích bề  
mặt riêng của chúng giảm đ{ng kể. Trong trường hợp của ZnO/CuO thu được từ quá  
trình nhiệt phân Zn/Cu-BTC, diện tích bề mặt giảm xuống nhiều lần so với Zn/Cu-  
2
BTC, chỉ còn khoảng 33 m /g. Tuy nhiên giá trị n|y tương đối cao hơn so với ZnO (3,9  
2
2
m /g) và CuO (6,7 m /g) đơn pha; v| cao hơn lưỡng oxit ZnO/CuO được tổng hợp bằng  
2
phương ph{p kh{c là 14 m /g [20].  
Hình 3. a) Phổ phản xạ khuếch tán tử ngoại-khả kiến;  
b) Biểu đồ Tauc của ZnO, CuO và ZnO/CuO  
Khả năng hấp thụ ánh sáng các mẫu ZnO, CuO v| ZnO/CuO được nghiên cứu  
bằng phương ph{p đo phổ phản xạ khuếch tán tử ngoại-khả kiến tại nhiệt độ phòng  
(Hình 3a). Mẫu ZnO hấp phụ tốt ánh sáng ở vùng tử ngoại với dải bước sóng trong  
khoảng 350-390 nm tương ứng với năng lượng vùng cấm trong khoảng 3,5-3,2 eV, còn  
CuO có dải hấp thụ rộng ở vùng khả kiến. Hai dải không rõ r|ng nhưng có thể quan  
s{t được đối với mẫu ZnO/CuO được gán cho các dải hấp thụ đặc trưng của từng  
thành phần ZnO v| CuO. Điều đ{ng chú ý l| trong phổ hấp thụ của nanocomposite  
ZnO/CuO, dải hấp thụ của thành phần CuO dịch chuyển sang bước sóng ngắn v| được  
tích hợp với dải hấp thụ của ZnO, nghĩa l| c{c mặt phân cách giữa hai chất bán dẫn  
của CuO loại p và ZnO loại n tiếp xúc chặt chẽ và các mặt phân cách của chúng rất  
khớp nhau [6]. Biểu đồ Tauc đã được xây dựng để tính độ rộng của vùng cấm [21] như  
được thể hiện ở Hình 3b. Giá trị E của mẫu ZnO, CuO v| ZnO/CuO tương ứng là 3,19  
g
eV, 1,94 eV và 2,63 eV (trong các công bố trước là 3,2. – 3,3 eV đối với ZnO [22; 23], 1,4  
– 1,85 eV đối với CuO [23-25]). Dải hấp thụ của mẫu ZnO/CuO dịch chuyển đ{ng kể về  
vùng bước sóng d|i hơn so với ZnO.  
3.2. Khảo sát khả năng xúc tác của vật liệu đối với MB  
3.2.1. So sánh khả năng xúc t{c của các vật liệu và sự ảnh hưởng pH  
37  
Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa  
5
4
3
2
1
0
-1  
-2  
-3  
pHpzc = 7.9  
2
4
6
8
10 12  
pH  
Hình 4. Sự phân hủy MB bởi các mẫu BTC (a) v| c{c oxit (b) dưới ánh sáng tử ngoại (UV) và  
khả kiến (Vis); c) Điểm đẳng điện (hình nhỏ) và ảnh hưởng của pH đến khả năng loại bỏ MB  
của ZnO/CuO (Điều kiện: V = 500 mL; m= 400 mg; nồng độ MB=10 mg/L)  
Hình 4a thể hiện khả năng khử màu MB của các vật liệu khung cơ kim Zn-BTC,  
Cu-BTC và Zn/Cu-BTC. Như quan s{t được ở hình, các mẫu vật liệu khung cơ kim đều  
thể hiện khả năng hấp phụ cao đối với MB và quá trình hấp phụ đạt cân bằng sau 180  
phút. Mẫu Cu-BTC có hiệu suất hấp phụ cao nhất khoảng 82%, sau đó l| Zn/Cu-BTC  
khoảng 68% và Zn-BTC khoảng 21%. Thứ tự này phù hợp với các giá trị diện tích bề  
mặt riêng của các mẫu vật liệu. Đối với mẫu Cu-BTC, hiệu suất loại màu MB giảm 41-  
50% sau 60 phút chiếu sáng chứng tỏ Cu-BTC loại bỏ MB chủ yếu bằng cơ chế hấp phụ  
chứ không phải bằng xúc tác quang hóa v| đã xảy ra quá trình giải hấp khi chiếu sáng.  
Trong khi đó mẫu Zn-BTC thể hiện tính quang xúc tác cao, gần 60% MB được loại bỏ  
sau 240 phút. Điều n|y có thể l| do diện tích bề mặt Zn-BTC rất thấp đã l|m giảm số  
lượng c{c tâm hoạt động để hấp phụ v| ph}n hủy MB. Ngược lại, tất cả các mẫu oxit  
có hiệu suất hấp phụ khá thấp chỉ khoảng 10% (Hình 4b). Điều này có thể giải thích là  
do diện tích bề mặt riêng của các mẫu oxit giảm đ{ng kể và các tâm hấp phụ bị loại bỏ  
nhiều trong quá trình thiêu kết các vật liệu BTC. Dưới sự chiếu sáng, một số các oxit  
thể hiện tính xúc tác ở mức độ khác nhau. CuO có hoạt tính xúc tác phân hủy MB  
trung bình dưới ánh sáng UV, còn ZnO thể hiện tính xúc tác tốt cả trong trong ánh  
38  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
sáng tử ngoại và khả kiến, trong đó trong vùng tử ngoại hiệu suất loại bỏ MB của ZnO  
tốt hơn trong vùng khả kiến. Mẫu ZnO/CuO thể hiện tính xúc tác trung bình trong ánh  
sáng tử ngoại nhưng lại rất tốt trong ánh sáng khả kiến. Quá trình phân hủy MB đạt  
92% sau 60 phút chiếu ánh sáng khả kiến và diễn ra hoàn toàn sau 120 phút. Hoạt tính  
xúc tác trong vùng khả kiến của ZnO/CuO cao hơn hoạt tính xúc tác của ZnO và CuO,  
điều này cho thấy rằng tích hợp p-CuO và n-ZnO ở kích thước nano l|m gia tăng đ{ng  
kể hoạt tính xúc tác trong vùng ánh sáng khả kiến của vật liệu.  
Như thể hiện ở Hình 4c, điểm đẳng điện (pHpzc) của mẫu ZnO/CuO được xác  
định bằng phương ph{p trôi pH [26] có giá trị khoảng 7,9. Tại pH thấp hơn 7,9 bề mặt  
của ZnO/CuO tích điện dương v| có khuynh hướng đẩy các cation MB thông qua lực  
đẩy tĩnh điện. Khi pH tăng từ 2 đến 7, điện tích dương trên bề mặt giảm dần, từ đó  
tăng dần hiệu quả xử lý MB. Khi pH lớn hơn 7,9 bề mặt của mẫu ZnO/CuO tích điện  
}m, khi đó cation MB sẽ dễ dàng tiến đến bề mặt của chất xúc tác nhờ lực hút tĩnh điện.  
Như vậy, khi pH lớn hơn pHpzc sẽ thuận lợi cho quá trình xúc tác phân hủy MB.  
Phổ tử ngoại-khả kiến của dung dịch MB trong qu{ trình xúc t{c được thể hiện  
ở hình Hình 5a. Dải hấp thụ tại bước sóng 292 nm đặc trưng cho vòng thơm benzen v|  
dải hấp thụ tại 664 đặc trưng cho nhóm m|u kết hợp –N=N– của phân tử MB. Cường  
độ của các dải hấp thụ giảm theo thời gian chiếu sáng và hoàn toàn biến mất sau 90  
phút chiếu sáng. Sự mất màu của dung dịch MB có thể là do sự phá hủy của nhóm  
mang màu –N=N– trong quá trình xúc tác. Chỉ số COD của dung dịch MB được kiểm  
tra trong quá trình xúc t{c để chứng minh sự phân hủy MB. Có thể thấy ở Hình 5b, chỉ  
số COD của dung dịch trước phản ứng là 28,2 mg/L và sau 90 phút chiếu sáng COD  
giảm còn 0,13 mg/L (giảm 99,53%). Kết quả này chứng tỏ quá trình quang xúc tác phân  
hủy MB của vật liệu ZnO/CuO dưới ánh sáng khả kiến đã khoáng hóa hầu như ho|n  
toàn.  
Hình 5. a) Phổ hấp thụ UV-Vis của dụng dịch MB tại khác thời điểm khác nhau và b) COD của  
dung dịch MB trong quá trình xúc tác  
(V=500 mL; Co=10 mg/L; m= 400 mg; thời gian hấp phụ = 60 phút).  
39  
Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa  
3.2.2. Cơ chế xúc tác  
Có hai cơ chế thường được sử dụng để giải thích cho quá trình quang xúc tác  
của c{c oxit lưỡng kim ZnO/CuO ở vùng ánh sáng khả kiến. Thứ nhất, sự thay thế Cu  
vào mạng ZnO dẫn đến sự hình thành các oxit hỗn hợp cùng với các dải năng lượng  
trung gian Cu3d nằm giữa dải dẫn (CB) và dải hóa trị (VB) của ZnO. Ánh sáng nhìn  
thấy có thể kích thích các electron từ dải VB của ZnO đến mức Cu3d hoặc từ mức Cu3d  
-
+
2+  
đến CB để tạo thành các cặp electron/lỗ trống (e /h ). Mặc dù bán kính ion của Zn  
2+  
(0,74 Å) và Cu (0,73 Å) khá giống nhau, nhưng sự hình thành các oxit hỗn hợp như  
vậy là không thể vì cấu trúc tinh thể của ZnO (lục gi{c) v| CuO (đơn t|) kh{c nhau.  
Thứ hai, các oxit chỉ tiếp xúc ở cấp độ nano để tạo thành các cấu trúc dị thể, cơ chế  
ghép bán dẫn như vậy có thể được sử dụng để giải thích tính xúc t{c trong trường hợp  
này.  
+
-
ZnO/CuO + hv ZnO/CuO(h + e )  
(2)  
(3)  
(4)  
(5)  
(6)  
(7)  
(8)  
(9)  
-
-
ZnO/CuO(e /CB) (e /CB)ZnO/CuO  
*
MB + hv MB  
*
-
*+  
MB e + MB  
*+  
+
MB MB + h  
Cu(h+) + MB sản phẩm phân hủy  
-
•-  
ZnO(e /CB) + O  
2
O + ZnO  
2
•-  
O2  
+ MB sản phẩm phân hủy  
Do vị trí của dải dẫn của CuO và ZnO lần lượt là -4,07 eV và -4,35 eV (so với  
chân không) [5; 27] và giá trị của vùng cấm của CuO v| ZnO tương ứng là 1,94 và 3,19  
eV (như được x{c định ở trên) nên vị trí biên của dải hóa trị sẽ là -6,01 eV (đối với  
CuO) và -7,54 eV (đối với ZnO). Do sự hấp thụ ánh sáng mạnh của CuO trong vùng  
ánh sáng khả kiến, các electron trong CuO nhận năng lượng và bị kích thích bức khỏi  
-
+
vùng hóa trị di chuyển đến vùng dẫn từ đó tạo cặp e /h . Do CuO có vị trí vùng dẫn ít  
}m hơn ZnO nên khi được tạo ra các electron sẽ di chuyển sang vùng dẫn của ZnO, vì  
-
+
thế tr{nh được sự tái tổ hợp nhanh chóng của các cặp electron e và lỗ trống h (pt. 2,  
3). Mặt khác, các phân tử MB ở trạng th{i tĩnh có mức năng lượng -5,67 eV có thể bị  
*
kích thích bằng ánh sáng khả kiến và trở nên bị kích thích MB có mức năng lượng -  
3,81 eV [28; 29]. (pt. 4). MB có thể đóng vai trò l| chất nhạy quang cung cấp bổ sung các  
electron vào vùng dẫn của CuO và ZnO (pt. 5, 6). Thế của vùng hóa trị của CuO âm  
+
hơn so với MB, do đó c{c lỗ trống h có thể oxy hóa MB để tạo thành các sản phẩm  
phân hủy (pt. 7). Mặt khác, do vị trí biên của vùng dẫn của ZnO (-4,35 eV) }m hơn thế  
o
•
tiêu chuẩn E (O  
2/O2  
) (- 4,17 eV) [30], nên các electron trên vùng dẫn của ZnO có thể  
40  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
•
phản ứng với O  
2
tạo ra gốc superoxit O  
2
(pt. 8). Các gốc superoxit này có thể oxy hóa  
mạnh MB để tạo thành các sản phẩm phân hủy kém bền (pt. 9).  
3.2.3. Khảo sát khả năng t{i sử dụng  
Khả năng t{i sử dụng là một yếu tố quan trọng để đ{nh gi{ khả năng ứng dụng  
trong thực tế của vật liệu xúc tác dị thể. Sau khi sử dụng, ZnO/CuO được tách khỏi  
dung dịch bằng ly tâm, rửa sạch với nước và với rượu để loại bỏ MB. Sau đó, vật liệu  
o
được sấy ở 120 C trong 15 giờ v| được sử dụng ở những lần xúc tác tiếp theo.  
Hình 6. a) Hiệu suất phân hủy MB của ZnO/CuO qua nhiều tái sử dụng;  
b) Giản đồ XRD của ZnO/CuO sau 4 vòng tái sử dụng  
(V = 1000 mL, Co=10 mg/L, m= 800 mg; thời gian hấp phụ=60 phút; thời gian chiếu sáng= 80 phút).  
Ở Hình 6a, ta có thể thấy hiệu suất phân hủy MB của ZnO/CuO chỉ giảm nhẹ từ  
100% xuống còn 97,2% sau 3 lần tái sử dụng. Giản đồ XRD của mẫu ZnO/CuO hầu như  
không thay đổi sau khi 4 lần sử dụng, chứng tỏ vật liệu có độ bền cao trong quá trình  
sử dụng (Hình 6b). Như vậy có thể thấy, ZnO/CuO có sự ổn định cao về mặt cấu trúc  
và hoạt tính xúc tác trong quá trình sử dụng lâu dài.  
4. KẾT LUẬN  
Vật liệu lưỡng oxit ZnO/CuO được tổng hợp thành công bằng phương ph{p  
phân hủy nhiệt từ vật liệu khung cơ kim trên cơ sở Zn/Cu-MOF-199. Lưỡng oxit  
ZnO/CuO thu được có cấu trúc 3D được tạo từ các hạt bát diện và có hoạt tính xúc tác  
phân hủy phẩm màu nhuộm xanh methylen trong vùng ánh sáng khả kiến cao hơn so  
với đơn oxit ZnO v| CuO. Độ rộng của vùng cấm của ZnO/CuO có giá trị khoảng 2,7  
eV. Các kết quả nghiên cứu cho thấy lưỡng oxit ZnO/CuO có thể sử dụng như một vật  
liệu quang xúc tác triển vọng trong thực tế để xử lý các hợp chất hữu cơ trong nước  
thải công nghiệp nhờ có hoạt tính xúc tác cao, độ ổn định và khả năng t{i sử dụng cao.  
41  
Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. M. M. Hassan, and C. M. Carr (2018). A critical review on recent advancements of the  
removal of reactive dyes from dyehouse effluent by ion-exchange adsorbents,  
Chemosphere.  
[2]. M. T. Thanh, T. V. Thien, P. D. Du, N. P. Hung, and D. Q. Khieu (2018). Iron doped  
zeolitic imidazolate framework (Fe-ZIF-8): synthesis and photocatalytic degradation of  
RDB dye in Fe-ZIF-8, Journal of Porous Materials, Vol. 25 (3), pp. 857-869.  
[3]. P. Li, Z. Wei, T. Wu, Q. Peng, and Y. Li (2011). Au− ZnO hybrid nanopyramids and their  
photocatalytic properties, Journal of the American Chemical Society, Vol. 133 (15), pp. 5660-  
5663.  
[4]. W. Wu, S. Zhang, X. Xiao, J. Zhou, F. Ren, L. Sun, and C. Jiang (2012). Controllable  
synthesis, magnetic properties, and enhanced photocatalytic activity of spindlelike  
mesoporous α-Fe2O3/ZnO core–shell heterostructures, ACS applied materials & interfaces,  
Vol. 4 (7), pp. 3602-3609.  
[5]. A. Kargar, Y. Jing, S. J. Kim, C. T. Riley, X. Pan, and D. Wang (2013). ZnO/CuO  
heterojunction branched nanowires for photoelectrochemical hydrogen generation, Acs  
Nano, Vol. 7 (12), pp. 11112-11120.  
[6]. B. Li, and Y. Wang (2010). Facile synthesis and photocatalytic activity of ZnO–CuO  
nanocomposite, Superlattices and Microstructures, Vol. 47 (5), pp. 615–623.  
[7]. O. Yaghi, and H. Li (1995). Hydrothermal synthesis of a metal-organic framework  
containing large rectangular channels, Journal of the American Chemical Society, Vol. 117  
(41), pp. 10401-10402.  
[8]. S. S.-Y. Chui, S. M.-F. Lo, J. P. H. Charmant, A. G. Orpen, and I. D. Williams (1999). A  
Chemically Functionalizable Nanoporous Material [Cu3(TMA)2(H2O)3]n, Science, Vol. 283,  
pp. 1148-1150.  
[9]. S. L. Ho, I. C. Yoon, C. S. Cho, and H.-J. Choi (2015). A recyclable metal-organic  
framework MOF-199 catalyst in coupling and cyclization of β-bromo-α,β-unsaturated  
carboxylic acids with terminal alkynes leading to alkylidenefuranones, Journal of  
Organometallic Chemistry, Vol. 791, pp. 13-17.  
[10]. Y. Jiang, X. Zhang, X. Dai, W. Zhang, Q. Sheng, H. Zhuo, Y. Xiao, and H. Wang (2017).  
Microwave-assisted synthesis of ultrafine Au nanoparticles immobilized on MOF-199 in  
high loading as efficient catalysts for a three-component coupling reaction, Nano Research,  
Vol. 10 (3), pp. 876-889.  
[11]. A. Banerjee, U. Singh, V. Aravindan, M. Srinivasan, and S. Ogale (2013). Synthesis of CuO  
nanostructures from Cu-based metal organic framework (MOF-199) for application as  
anode for Li-ion batteries, Nano Energy, Vol. 2 (6), pp. 1158-1163.  
[12]. E. Ghorbani-Kalhor (2016). A metal-organic framework nanocomposite made from  
functionalized magnetite nanoparticles and HKUST-1 (MOF-199) for preconcentration of  
Cd (II), Pb (II), and Ni (II), Microchimica Acta, Vol. 183 (9), pp. 2639-2647.  
42  
                       
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
[13]. H. D. Mai, K. Rafiq, and H. Yoo (2017). Nano Metal‐Organic Framework‐Derived  
Inorganic Hybrid Nanomaterials: Synthetic Strategies and Applications, Chemistry–A  
European Journal, Vol. 23 (24), pp. 5631-5651.  
[14]. S. Loera-Serna, M. A. Oliver-Tolentino, M. de Lourdes López-Núñez, A. Santana-Cruz, A.  
Guzmán-Vargas, R. Cabrera-Sierra, H. I. Beltrán, and J. Flores (2012). Electrochemical  
behavior of [Cu3(BTC)2] metal–organic framework: The effect of the method of synthesis,  
Journal of Alloys and Compounds, Vol. 540, pp. 113-120.  
[15]. V. Stavila, J. Volponi, A. M. Katzenmeyer, M. C. Dixon, and M. D. Allendorf (2012).  
Kinetics and mechanism of metal–organic framework thin film growth: systematic  
investigation of HKUST-1 deposition on QCM electrodes, Chemical Science, Vol. 3 (5), pp.  
1531-1540.  
[16]. L. H. Wee, M. R. Lohe, N. Janssens, S. Kaskel, and J. A. Martens (2012). Fine tuning of the  
metal–organic framework Cu3(BTC)2 HKUST-1 crystal size in the 100 nm to 5 micron  
range, Journal of Materials Chemistry, Vol. 22 (27), pp. 13742-13746.  
[17]. C. T. Pereira da Silva, B. N. Safadi, M. P. Moisés, J. G. Meneguin, P. A. Arroyo, S. L.  
Fávaro, E. M. Girotto, E. Radovanovic, and A. W. Rinaldi (2016). Synthesis of Zn-BTC  
metal organic framework assisted by a home microwave oven and their unusual  
morphologies, Materials Letters, Vol. 182, pp. 231-234.  
[18]. G. A. Tompsett, W. C. Conner, and K. S. Yngvesson (2006). Microwave synthesis of  
nanoporous materials, Chemphyschem: a European journal of chemical physics and physical  
chemistry, Vol. 7 (2), pp. 296-319.  
[19]. K. Schlichte, T. Kratzke, and S. Kaskel (2004). Improved synthesis, thermal stability and  
catalytic properties of the metal-organic framework compound Cu3(BTC)2, Microporous  
and Mesoporous Materials, Vol. 73 (1-2), pp. 81-88.  
[20]. P. Sathishkumar, R. Sweena, J. J. Wu, and S. Anandan (2011). Synthesis of CuO-ZnO  
nanophotocatalyst for visible light assisted degradation of a textile dye in aqueous  
solution, Chemical Engineering Journal, Vol. 171 (1), pp. 136-140.  
[21]. J. Tauc (1968). Optical properties and electronic structure of amorphous Ge and Si,  
Materials Research Bulletin, Vol. 3 (1), pp. 37-46.  
[22]. K.-F. Lin, H.-M. Cheng, H.-C. Hsu, L.-J. Lin, and W.-F. Hsieh (2005). Band gap variation  
of size-controlled ZnO quantum dots synthesized by sol–gel method, Chemical Physics  
Letters, Vol. 409 (4-6), pp. 208-211.  
[23]. Y. Xu, and M. A. Schoonen (2000). The absolute energy positions of conduction and  
valence bands of selected semiconducting minerals, American mineralogist, Vol. 85 (3-4),  
pp. 543-556.  
[24]. Y. S. Chaudhary, A. Agrawal, R. Shrivastav, V. R. Satsangi, and S. Dass (2004). A study  
on the photoelectrochemical properties of copper oxide thin films, International Journal of  
Hydrogen Energy, Vol. 29 (2), pp. 131-134.  
[25]. K. Santra, C. Sarkar, M. Mukherjee, and B. Ghosh (1992). Copper oxide thin films grown  
by plasma evaporation method, Thin Solid Films, Vol. 213 (2), pp. 226-229.  
43  
                     
Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa  
[26]. M. V. Lopez-Ramon, F. Stoeckli, C. Moreno-Castilla, and F. Carrasco-Marin (1999). On the  
characterization of acidic and basic surface sites on carbons by various techniques,  
Carbon, Vol. 37 (8), pp. 1215-1221.  
[27]. B. Dhale, S. Mujawar, S. Bhattar, and P. Patil (2014). Chemical properties of n-ZnO/p-CuO  
heterojunctions for photovoltaic applications, Der Chemica Sinica, Vol. 5, pp. 59-64.  
[28]. H. Seema, K. C. Kemp, V. Chandra, and K. S. Kim (2012). Graphene–SnO2 composites for  
highly efficient photocatalytic degradation of methylene blue under sunlight,  
Nanotechnology, Vol. 23 (35), pp. 355705.  
[29]. T. Shen, Z.-G. Zhao, Q. Yu, and H.-J. Xu (1989). Photosensitized reduction of benzil by  
heteroatom-containing anthracene dyes, Journal of Photochemistry and Photobiology A:  
Chemistry, Vol. 47 (2), pp. 203-212.  
[30]. M. J. Islam, D. A. Reddy, J. Choi, and T. K. Kim (2016). Surface oxygen vacancy assisted  
electron transfer and shuttling for enhanced photocatalytic activity of a Z-scheme CeO2–  
AgI nanocomposite, RSC Advances, Vol. 6 (23), pp. 19341-19350.  
SYNTHESIS OF BIMETALLIC OXIDE ZnO/CuO COMPOSITE AND  
APPLICATION FOR PHOTOCATALYST  
1,4  
2,4  
3
Pham Thi Thuan , Nguyen Thi Hai Ngoc , Tran Thien Tri ,  
4
5*  
Lương Văn Tri Tran Thanh Minh  
1
Huynh Thuc Khang High School, Quang Ngai  
2
Pleiku High School, Pleiku, Gia lai  
3
4
Nguyen Chi Thanh High School, Pleiku, Gia Lai  
Nguyen Chi Thanh High School, Pleiku, Gia Lai  
5
University of Sciences, Hue University  
*
ABSTRACT  
This paper presents a study on the synthesis of ZnO/CuO composite by the  
thermal decomposition of metal organic framework material zinc/copper benzene-  
1,3,5-tricarboxylate (Zn/Cu-BTC) and application for degradation of methylene  
blue (MB) under visible light. The characterization of resulting materials was  
revealed by X-ray diffraction, scanning electron microscope (SEM), nitrogen  
adsorption/desorption isotherms, and UV–Vis diffuse reflectance spectroscopy.  
Catalytic activity, mechanism of catalysis and recyclability of ZnO/CuO for MB  
44  
         
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 2 (2019)  
were studied. It was found that the obtained ZnO/CuO composite with porous  
octahedral particles around 5-10 µm exhibited excellently the visble light driven  
photocatatlytic degradation surperior to monocomponent of ZnO or CuO and its  
catalytic activity was almost unchanged significantly after several recyles.  
Keywords: ZnO/CuO, photocatalysis, methylene blue, Zn/Cu-BTC  
Phạm Thị Thuận sinh ngày 24/08/1986 tại Quảng Ngãi. Bà tốt nghiệp cử  
nhân chuyên ngành Hóa học năm 2008 tai trường Đại học Quy Nhơn.  
Hiện tại đang là giáo viên Hóa học tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng,  
TP Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Hóa vô cơ  
Trần Thiên Trí sinh ngày 02/11/1979 tại Bình Định. Ông tốt nghiệp Cử  
nhân sư phạm chuyên ngành Hóa học năm 2001 tại Trường Đại học Quy  
Nhơn. Hiện ông là Giáo viên tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn  
Chí Thanh, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Hóa lí thuyết và Hóa lí.  
Lương Văn Tri sinh ngày 10/09/1980. Ông tốt nghiệp Cử nhân sư phạm  
ngành Hóa học năm 2004 tại Trường Đại học Quy Nhơn, tốt nghiệp Thạc  
sĩ chuyên ngành Hóa lý thuyết và hóa lý tại Trường Đại học Quy Nhơn.  
Hiện ông là Giáo viên tại trường trung học phổ thông Lê Lợi, thành phố  
Pleiku, tỉnh Gia Lai.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Hóa lý thuyết & Hóa lý  
Nguyễn Thị Hải Ngọc sinh ngày 10/04/1982 tại Gia Lai. Bà tốt nghiệp Cử  
nhân sư phạm ngành Hóa học năm 2004 tại Trường Đại học Quy Nhơn.  
Hiện bà là Giáo viên tại trường trung học phổ thông Pleiku, thành phố  
Pleiku, tỉnh Gia Lai.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Hóa lý thuyết & Hóa lý  
45  
pdf 16 trang yennguyen 11780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tổng hợp lưỡng oxit ZnO/CuO và ứng dụng làm xúc tác quang hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftong_hop_luong_oxit_znocuo_va_ung_dung_lam_xuc_tac_quang_hoa.pdf