Bài giảng Thực hành Hóa học đại cương - Vũ Huy Định

TS. VŨ HUY ĐỊNH  
ThS. LÊ KHÁNH TOÀN, ThS. ĐẶNG THẾ ANH  
THùC HµNH  
HãA HäC §¹I C¦¥NG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2019  
TS. VŨ HUY ĐỊNH,  
ThS. LÊ KHÁNH TOÀN, ThS. ĐẶNG THẾ ANH  
BÀI GIẢNG  
THỰC HÀNH HÓA HỌC ĐẠI CƢƠNG  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2019  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG…………………………………………………………….iv  
i
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
iv  
LỜI NÓI ĐẦU  
Hóa học đại cương là môn học tổng hợp kiến thức về cấu tạo chất, kiến  
thức về cơ sở lý thuyết các quá trình hóa học. Thực hành hóa học đại cương là  
một module trong học phần Hóa học đại cương, được giảng dạy cho sinh viên  
năm thứ nhất. Phần thực hành củng cố cho người học nội dung kiến thức, đồng  
thời phát triển các kỹ năng thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, các kỹ năng sử  
dụng thiết bị, dụng cụ, các kỹ năng bố trí thí nghiệm và những hiểu biết về thiết  
bị, máy móc… Trên cơ sở các kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật thu được trong  
thực hành, người học tiếp cận với thế giới nghiên cứu khoa học thực nghiệm;  
đồng thời tạo nền tảng kỹ năng cho người học tiếp tục học các môn cơ sở ngành,  
chuyên ngành và các công việc có liên quan đến phòng thí nghiệm trong quá  
trình học tập, cũng như trong quá trình làm việc.  
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đào tạo đại học cho các nhóm ngành về sinh  
học, khoa học môi trường, quản lý tài nguyên, lâm nghiệp, lâm học, bảo vệ thực  
vật, thú y… của sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp, chúng tôi soạn thảo Bài  
giảng thực hành Hóa học đại cương, với mong muốn có được tài liệu phục vụ  
giảng dạy các nhóm ngành không chuyên sâu về hóa học.  
Nhóm biên tập chân thành cảm ơn các Thầy cô trong Bộ môn Hoá học đã  
góp ý, bổ sung hoàn thiện bài giảng.  
Nhóm tác giả  
1
Bài 1  
KỸ THUẬT SỬ DỤNG DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT  
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM  
1.1. An toàn trong phòng thí nghiệm  
Người học tập và lao động cần biết và vận dụng các kỹ thuật an toàn khi sử  
dụng hóa chất trong phòng thí nghiệm và trong đời sống, biết các quy tắc an  
toàn lao động trong phòng thí nghiệm, biết sử dụng đúng cách các dụng cụ và  
biết sử dụng kỹ thuật cơ bản khi thí nghiệm, thực hành.  
Việc đảm bảo an toàn trong phòng thí nghiệm hóa học là một công tác cần  
đặc biệt chú trọng. Để tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra, người làm việc  
trong phòng thí nghiệm cần tuân thủ một số các quy tắc an toàn sau:  
– Không ăn, uống hay hút thuốc lá trong phòng thí nghiệm. Không nếm bất  
cứ hóa chất nào, không ngửi trực tiếp bất kỳ hơi hoặc khí nào. Thông báo ngay  
cho cán bộ hướng dẫn khi xảy ra tai nạn;  
– Đặc biệt cẩn thận khi sử dụng hóa chất, chỉ sử dụng khi đã được hướng  
dẫn. Không tự ý thực hiện bất cứ thí nghiệm nào nếu chưa có sự hướng dẫn. Sau  
khi kết thúc thí nghiệm cần thu gom hóa chất thừa vào đúng nơi quy định. Mặc  
áo bảo hộ, đeo kính bảo hộ khi làm việc trong phòng thí nghiệm. Thực hiện các  
phản ứng hoặc pha chế hóa chất cần thực hiện trong tủ hút độc đối với trường  
hợp hóa chất nguy hiểm, có mùi, sinh ra chất độc hoặc gây kích ứng da, mắt.  
Rửa sạch dụng cụ thí nghiệm ngay sau khi sử dụng. Không để các hóa chất dễ  
cháy, nổ ở nơi có nhiệt độ cao hoặc gần ngọn lửa;  
– Biết vị trí và cách sử dụng các thiết bị an toàn và sơ cứu khi có tình  
huống nguy hiểm xảy ra, đặc biệt là thiết bị chữa cháy. Đám cháy được chia  
thành loại A, B, C, D, E; với A là đám cháy bắt nguồn từ những vật rắn như: gỗ,  
giấy, lụa, nhựa… B là đám cháy chất lỏng như cồn, xăng, dầu… C là đám cháy  
liên quan đến chất khí như khí ga, metan… D là đám cháy bắt nguồn từ những  
kim loại K, Na, Mg… E là đám cháy liên quan đến những thiết bị điện. Trong  
trường hợp các đám cháy nhỏ, có thể sử dụng bình cứu hỏa dạng bột (thường là  
NaHCO3, tỉ lệ trên 80%) và bình cứu hỏa dạng khí (CO2) có sẵn trong phòng thí  
nghiệm để dập tắt. Tùy theo kí hiệu trên vỏ bình mà dùng cho các loại đám cháy  
tương ứng. Tuy nhiên, bình khí CO2 không được dùng cho nơi có không gian  
hẹp và không dùng để dập các đám cháy than hay kim loại nóng đỏ, chỉ dùng  
cho đám cháy A, B, C, E. Bình dạng bột có thể dùng cho các loại đám cháy khác  
3
nhau (ABC, BC, AB). Trường hợp đám cháy loại D có thể dùng bình bột dập  
cháy. Để kích hoạt bình chữa cháy, kéo chốt ra khỏi tay cầm, sau đó hướng vòi  
phun về phía chân ngọn lửa và ấn cò bóp. Bình khí CO2 giúp dập tắt ngọn lửa và  
làm nguội nhanh chất dễ cháy. Khi mở van bình, do có sự chênh lệch về áp suất,  
CO2 lỏng trong bình thoát ra ngoài qua hệ thống ống dẫn và loa phun chuyển  
thành dạng như tuyết, lạnh tới – 78,9oC, điều này có thể gây bỏng lạnh cho  
người dùng. Khi phun vào đám cháy, CO2 có tác dụng làm loãng nồng độ hỗn  
hợp hơi khí cháy, đồng thời làm lạnh vùng cháy dẫn tới triệt tiêu đám cháy.  
Ngay sau khi sử dụng, trả lại bình chữa cháy về kho để nạp lại. Đối với bình bột,  
khi mở van bột khô trong bình được phun ra ngoài nhờ lực đẩy của khí nén (nén  
trực tiếp với bột hoặc trong chai riêng) qua hệ thống ống dẫn. Khi phun vào đám  
cháy bột có tác dụng kìm hãm phản ứng cháy và cách ly chất cháy với oxi không  
khí, mặt khác ngăn cản hơi khí cháy tiến vào vùng cháy dẫn đến đám cháy bị  
dập tắt. Trong trường hợp bình cứu hỏa không thể dập tắt đám cháy, cần sơ tán  
người ra khỏi phòng thí nghiệm ngay lập tức và gọi cho đội cứu hỏa.  
Hình 1.1. Đồ bảo hộ lao động và thiết bị chữa cháy  
1.2. Kỹ thuật an toàn khi sử dụng hóa chất  
Việc sử dụng hóa chất trong phòng thí nghiệm luôn đi kèm theo những  
nguy cơ về mất an toàn. Nếu không nắm vững và tuân thủ nghiêm ngặt các  
nguyên tắc của kỹ thuật an toàn hay các chỉ dẫn sẽ dẫn đến những hậu quả đáng  
tiếc cho con người, tài sản và môi trường.  
Trên các hộp, lọ đựng hóa chất thường có các biểu tượng cảnh báo nguy  
hiểm. Những biểu tượng báo nguy hiểm nhằm cảnh báo những hóa chất, vật thể  
nguy hiểm, có thể gây hại như: dòng diện, chất độc, chất phóng xạ. Sử dụng các  
kí hiệu này cần được tuân thủ theo quy định, được thống nhất trên toàn thế giới.  
Các biểu tượng này có thể xuất hiện với màu, nền, đường viền khác nhau để  
4
phân loại mức độ nguy hiểm và đôi khí có bổ sung thêm thông tin. Biểu tượng  
cảnh báo được đặt ở chỗ dễ nhận ra và được hiểu giống nhau cho dù viết bằng  
ngôn ngữ khác nhau.  
Bảng 1.1. Các chỉ báo trên bình chứa hóa chất thƣơng mại  
Chỉ báo Biểu tƣợng  
Độ nguy hiểm  
Ví dụ  
Hóa chất độc hại có thể gây ra  
các ảnh hưởng đe dọa tính mạng  
dù chỉ với một lượng nhỏ và thời  
gian phơi nhiễm ngắn. Không để  
chất tiếp xúc với da, mắt; không  
nếm hoặc hít hơi. Chất thâm  
nhập qua đường thở, tiêu hóa,  
qua da với lượng ít có thể gây tử  
vong hoặc có tác dụng cấp tính  
hoặc mãn tính.  
(T+): Xianhidric, cacbon  
monooxit, P trắng, nicotine.  
(T): Axit sunfuric đặc,  
TNT, metanol, amoniac,  
Độc (T),  
Rất độc  
(T+)  
metanal,  
hidrosunfua,  
(Đầu lâu,  
xương chéo)  
benzen, cacbondisunfua,  
nitroglyxerin.  
Có hại  
(Xn),  
gây kích  
thích  
Với lượng ít đã gây ra cảm giác Xn: Butan, axetandehit,  
khó chịu hoặc kích thích khi tiếp kali đicromat  
xúc qua da hoặc đường thở; gây Ni: Axeton, etanol, nhựa  
kích thích mắt.  
thông, nước Javel.  
(Có hại)  
(Ni)  
(F+): Hidro, axetylen,  
propan, butan, dietyl ete,  
cacbondisulfua,  
axetandehit  
(F): Etanol, hexamin,  
axeton, xăng, metanol  
Hóa chất có thể cháy dễ dàng khi  
tiếp xúc với nguồn lửa, nguồn  
nhiệt, nguồn đánh lửa. Tránh các  
nguồn gây cháy, giữ khoảng  
cách, quần áo bảo hộ.  
Dễ cháy  
(F), Rất  
dễ cháy  
(F+)  
(Cháy)  
Chứa khí nén. Khí có thể rất lạnh  
khi nó bay hơi, thùng chứa có thể Bình gas, bình chứa  
nổ nếu được làm nóng. Không làm axetylen, bình nitơ lỏng,  
nóng, tránh tiếp xúc với da hoặc các loại bình xịt khí.  
mắt.  
Khí nén  
(Khí nén)  
Sản phẩm gây ảnh hưởng nghiêm  
trọng đến sức khỏe. Có thể gây  
ra các ảnh hưởng sức khỏe không Cacbontetraclorua, ete,  
thể phục hồi ngay cả khi tiếp xúc benzen  
ngắn. Không thở, ăn hoặc tiếp  
Ảnh  
hưởng  
lâu dài  
đến sức  
khỏe  
(Nguycơảnh  
hưởngsức  
khỏe)  
xúc với da hoặc mắt.  
5
Sản phẩm có thể gây ảnh hưởng  
đến sức khỏe hoặc tầng ozon.  
Ảnh  
hưởng  
đến sức  
khỏe  
Gây kích ứng, có thể gây kích  
ứng, phát ban hoặc ảnh hưởng  
sức khỏe trong thời gian ngắn Ete dầu hỏa, etyl axetat,  
(độc tính thấp). Không thở, ăn pentan, freon.  
hoặc cho phép tiếp xúc với da  
hoặc  
(Dấu cảm  
tầng  
hoặc mắt. Có thể gây thiệt hại  
thán)  
ozon  
cho tầng ozon. Không thải vào  
môi trường.  
Chất có độc tố với môi trường;  
có thể gây ra các ảnh hưởng ngắn  
Chất  
hạn hoặc lâu dài đối với động vật Cacbontetraclorua,  
hoang dã và môi trường; độc đối lindane, chì, thủy ngân,  
với thực vật và sinh vật dưới axit sunfuric.  
nước. Không thải vào môi  
độc môi  
trường  
(Cây chết,  
cá chết)  
trường.  
Chất ăn mòn có thể gây bỏng da  
hoặc tổn thương mắt vĩnh viễn.  
Chất  
phá hủy,  
ăn mòn  
(C)  
Tránh tiếp xúc với da và mắt, Các dung dịch clohidric  
không hít hơi hoặc sol và luôn từ 25%; axit photphoric  
mặc quần áo bảo hộ. Có thể phản từ 25%; nước Javel đặc;  
ứng mạnh với kim loại – tránh xa amoniac từ 10%.  
kim loại. Sản phẩm có thể phá  
(Phá hủy, ăn  
mòn)  
hủy các mô sống.  
Sản phẩm ở dạng lỏng, rắn có thể  
Butan, propan trộn với  
nổ dưới tác dụng của sự va  
không khí theo tỉ lệ nổ,  
Chất  
chạm, ma sát, ngọn lửa hoặc  
TNT, axeton peroxit,  
gây nổ  
nhiệt. Tránh các nguồn gây cháy,  
nitroglycerin, axit picric  
giữ khoảng cách, quần áo bảo hộ.  
(Nổ)  
Chất oxi hóa dễ cháy: Dễ cháy khi  
có hoặc không có oxi và có thể  
gây hỏa hoạn với các vật liệu dễ Axit nitric từ 70%, kali  
cháy khác như khi tiếp xúc với vật clorat, peroxit, kali  
liệu đóng gói như giấy, carton, pemanganat, oxi, kali  
gỗ… Tránh các nguồn gây cháy, nitrat  
giữ khoảng cách, dùng quần áo  
Chất  
gây  
cháy  
(Vòng lửa  
cháy)  
bảo hộ.  
6
Bảng 1.2. Biện pháp an toàn khi làm việc với hóa chất  
Phân  
loại  
Hóa chất  
Biện pháp an toàn  
– Đảm bảo độ kín của các thiết bị lưu trữ.  
– Tăng cường các biện pháp thông gió ở nơi làm việc  
– Đặt xa nguồn lửa hoặc nghiêm cấm lửa và thực hiện biện  
pháp chống phát sinh tia lửa do ma sát hoặc tĩnh điện.  
– Sử dụng các thiết bị điện an toàn chống cháy nổ.  
– Dùng mặt nạ phòng độc khi làm việc.  
Các khí Axetylen, metan,  
và hơi dễ  
hidro, hơi ete  
cháy nổ  
cacbondisunfua  
– Các dụng cụ, khu vực làm việc phải khô.  
– Không thao tác bằng tay trần mà phải sử dụng kìm  
gắp và găng tay khô.  
– Không dập lửa bằng nước (trừ dập đám cháy do photpho)  
mà phải dập bằng cát hoặc các chất chữa cháy đặc biệt.  
Các chất  
rắn dễ  
cháy  
Kali, natri,  
photpho, magie  
Muối clorat,  
amoni nitrat,  
hidropeoxit,  
Các chất này đều là các chất oxi hóa mạnh nên có nhiều  
nguy cơ về mặt cháy nổ cần tránh cho tiếp xúc với các chất  
Các chất  
dễ nổ  
muối peclorat, khử. Tránh va chạm mạnh và tránh nguồn nhiệt.  
axit pecloric  
– Đeo mặt nạ phòng độc có bộ lọc tương ứng với từng  
loại khí, hơi độc.  
– Nơi làm việc phải thoáng khí, khi có người hít phải  
Cl2, SO2, CO2,  
Các hơi  
hơi độc phải đưa nạn nhân ra nơi có không khí trong  
khí vô cơ NO2, PH3, CO,  
sạch. Với Cl2, SO2, PH3 cho nạn nhân thở hơi mù của  
dung dịch NaHCO3 0,3%, rửa mặt mũi và súc miệng  
bằng dd Na2CO3 loãng; trường hợp với NO2, CO2, CO,  
NH3, H2S cho thở oxi.  
độc  
NH3, H2S,  
– Trung hòa axit dư bằng dung dịch xà phòng, dung  
dịch Na2CO3 hoặc dung dịch NaHCO3. Trung hòa kiềm  
dư bằng giấm loãng hoặc dung dịch axit xitric.  
HCl, HF,  
H2SO4, HNO3,  
NaOH, KOH  
Các axit  
và kiềm  
– Khi thao tác phải sử dụng trang bị bảo hộ lao động.  
– Dụng cụ vận chuyển, bảo quản và sử dụng metanol  
phải bằng kim loại để tránh vỡ.  
– Không bảo quản etanol và metanol cạnh nhau tránh  
gây nhầm lẫn.  
– Khi làm việc phải mặc đồ bảo hộ lao động. Làm việc  
xong phải tắm rửa sạch sẽ và thay quần áo.  
– Đeo mặt nạ phòng độc khi làm việc ở nơi có nồng độ  
metanol trong không khí trên 2%.  
Các dung  
môi hữu  
cơ  
CH3OH,  
C2H5OH  
7
Phân  
loại  
Hóa chất  
Biện pháp an toàn  
Benzen, toluen, – Các nơi làm việc phải được hút khí và thông gió tốt.  
xylen,  
– Khi cần phải đeo mặt nạ khí và sử dụng trang phục  
bảo hộ.  
etylbenzen,  
xyclohexan,  
– Khi ngộ độc: Cho nạn nhân uống thuốc gây nôn, sau  
dung môi chứa đó cho uống MgSO4.7H2O, thở oxi và làm hô hấp nhân  
clo  
tạo nếu cần thiết.  
CH3COOH,  
– Nơi làm việc phải được thông gió tốt và sạch sẽ.  
Ca(CN)2, CaH2, – Khi làm việc phải mặc trang phục bảo hộ, khi cần thiết  
Các chất  
gây kích  
thích và  
hại da  
CaO, HCHO,  
HClO, iot,  
pyridin, kali  
bicromat  
phải đeo mặt nạ phòng độc và kính bảo vệ mắt.  
– Xoa kem bảo vệ lên các phần da để hở.  
– Sau khi làm việc cần tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo  
và đặc biệt chú ý rửa sạch những chỗ da hở.  
– Các dụng cụ, thiết bị có thủy ngân phải thật kín.  
– Các công việc liên quan đến thủy ngân kim loại phải được  
thực hiện trên mặt phẳng không thấm, có gờ bao quanh.  
– Nếu chẳng may để rơi vãi thủy ngân phải xử lý triệt  
để (thu gom bằng bột lưu huỳnh hoặc tạo hỗn hỗng với  
các mẩu kẽm, đồng…).  
Thủy ngân  
– Mặc trang phục bảo hộ, rửa tay, lau miệng sạch sẽ  
sau khi làm việc.  
Các chất  
vô cơ có  
độc tính  
cao  
– Mang mặt nạ phòng độc và mặc quần áo bảo hộ lao  
động khi làm việc với HCN.  
– Không ăn, uống, hút thuốc, nhai kẹo cao su trong khu  
làm việc với HCN.  
HCN  
– Khi ngộ độc cần nhanh chóng cho thở oxi và làm hô  
hấp nhân tạo. Sau đó, cho thở hơi amyl nitrit hoặc uống  
ngay amyl nitrit, đồng thời tiêm natri thiosunfat. Ở nơi  
làm việc với HCN luôn phải trữ sẵn thuốc giải độc  
amyl nitrit và natri thiosunfat.  
1.3. Sử dụng các dụng cụ thủy tinh trong phòng thí nghiệm  
Dụng cụ thủy tinh được sử dụng phổ biến nhất trong phòng thí nghiệm.  
Thuỷ tinh là chất liệu bền với đa số hoá chất, có thể khắc vạch chia, ở dạng  
trong suốt hoặc được pha màu, giá thành rẻ nên thường được dùng phổ biến để  
chế tạo các dụng cụ chứa các dung dịch hoá chất và dụng cụ đo thể tích.  
8
Hình 1.2. Một số dụng cụ thí nghiệm phổ biến  
1.3.1. Ống nghiệm  
Ống nghiệm có nhiều loại với các kích thước khác nhau. Ống nghiệm chủ  
yếu được dùng làm các thí nghiệm với lượng hóa chất nhỏ. Chất phản ứng đựng  
trong ống nghiệm phải là lượng ít, vào khoảng một phần bốn dung tích ống  
nghiệm. Để giữ ống nghiệm trong khi làm việc, để chúng trên các giá đựng hoặc  
được cầm bằng kẹp gỗ.  
9
Lấy hóa chất vào ống nghiệm: Với hóa chất rắn, gấp băng giấy thành máng,  
cho hóa chất vào đầu máng, từ từ đưa xuống đáy ống nghiệm, gõ nhẹ cho hóa  
chất rơi xuống. Với hóa chất lỏng, dùng ống nhỏ giọt, không để đầu ống hút  
chạm vào thành dụng cụ. Khi lấy hóa chất độc và gây hại không được dùng tay  
cầm ống nghiệm mà phải dùng kẹp gỗ, kẹp tại vị trí cách miệng ống khoảng một  
phần ba chiều dài ống.  
Trộn dung dịch trong ống nghiệm: Bằng cách lắc ống nghiệm theo 2 cách.  
+ Cách 1: Một tay cầm ống nghiệm bằng ngón cái và ngón trỏ, cầm gần  
miệng ống nghiệm và đỡ ống nghiệm bằng các ngón còn lại, dùng ngón trỏ của  
tay còn lại búng nhẹ vào phía dưới ống nghiệm.  
+ Cách 2: Một tay cầm ống nghiệm, lắc nhẹ ống nghiệm hoặc vỗ vào lòng  
bàn tay còn lại. Nếu lượng chất lỏng quá nửa ống nghiệm thì phải khuấy bằng  
đũa thủy tinh, đưa lên đưa xuống nhẹ nhàng tránh làm thủng đáy. Không được  
lấy ngón tay bịt ống nghiệm để lắc, làm như vậy không những đưa thêm chất lạ  
từ ngón tay vào ống nghiệm làm sai lệch kết quả thí nghiệm.  
Đun nóng ống nghiệm: Khi đun nóng phải cầm ống nghiệm bằng kẹp gỗ,  
kẹp ống nghiệm ở vị trí hai phần ba chiều dài từ đáy ống nghiệm, cầm hơi  
nghiêng, miệng ống hướng về phía không có người. Lúc đầu hơ nhẹ toàn thể  
ống nghiệm, vừa đun vừa lắc. Không đưa ngọn lửa thẳng vào đáy ống nghiệm,  
làm dung dịch sôi bùng lên và trào ra ngoài. Khi bọt khí bắt đầu xuất hiện, đưa  
ống sang bên để gần hay bên trên ngọn lửa, tiếp tục đun bằng không khí nóng.  
Rửa ống nghiệm: Dùng chổi lông để rửa ống nghiệm, xoay tròn chổi lông,  
không đưa lên đưa xuống mạnh làm thủng đáy, cần làm nhẹ nhàng tránh làm vỡ  
ống nghiệm. Nếu chất bẩn là các chất vô cơ đơn giản thì dùng nước lạnh hoặc  
nước nóng để rửa. Nếu chất bẩn là các hợp chất hữu cơ không tan trong nước, có  
thể rửa bằng các dung môi hữu cơ như: xà phòng, ete, axeton, xăng, rượu etylic…  
Làm khô nhanh ống nghiệm có thể dùng axeton, etanol để tráng ống nghiệm.  
1.3.2. Bình nón (bình tam giác, bình elen)  
Bình nón có thành mỏng đều, đáy bằng, miệng hẹp, có thể đun được. Do  
hình dạng của bình nên khi sử dụng dễ lắc quay tròn, cho phép trộn nhanh hóa  
chất đựng trong bình nên thường được dùng để chuẩn độ. Khi lắc bình nón trong  
khi chuẩn độ, người thí nghiệm nên cầm, giữ phần cổ bình bằng ba ngón tay  
(ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa), thả lỏng và lắc bình nhẹ nhàng bằng việc  
chuyển động cổ tay. Cũng do cấu tạo miệng bình hẹp nên bình tam giác còn  
thường được sử dụng khi cần đựng hóa chất sau khi lọc qua giấy lọc, phễu lọc.  
10  
Bình nón gồm có loại bình cổ trơn, cổ nhám (bình có nút đậy, nút nhám) và  
bình có nhánh dùng để nối với thiết bị hút chân không khi cần lọc.  
1.3.3. Bình cầu  
Bình cầu có nhiều cỡ khác nhau và nhiều loại khác nhau như bình cầu đáy  
bằng, bình cầu đáy tròn; bình cầu cổ ngắn hay cổ dài, cổ rộng hay cổ hẹp, cổ  
nhám hay không nhám; loại chịu nhiệt hoặc không chịu nhiệt; loại có nhánh  
hoặc không có nhánh được sử dụng theo từng mục đích thí nghiệm.  
Bình cầu đáy bằng dùng để đựng và pha hóa chất. Bình cầu đáy tròn dùng  
để chưng cất, đun sôi hoặc làm những thí nghiệm cần đun nóng. Khi đun nên  
dùng kẹp mắc trên giá để cặp cổ bình cầu và đáy phải lót lưới amiăng. Bình cầu  
đáy tròn phải có giá để.  
1.3.4. Các loại phễu  
Phễu thủy tinh: Phễu thủy tinh có kích thước khác nhau, thường có đường  
kính 6 – 10 cm. Hình dạng chung của các phễu là cuống dài, gốc phễu thường  
vót nhọn, nhờ vậy sẽ giúp cho tốc độ chảy nhanh. Khi dùng, ta đặt phễu lên giá  
đỡ. Giá đỡ gồm giá sắt và vòng phễu sắt, tùy loại phễu dùng lớn hay nhỏ mà  
chọn vòng phễu thích hợp để mắc. Cũng có khi người ta đặt phễu trực tiếp lên  
các dụng cụ hứng: chai, lọ, bình cầu, bình nón… Khi rót chất lỏng, mức chất  
lỏng trong phễu luôn thấp hơn miệng phễu 1,5 cm. Có thể dùng phễu rót chất  
lỏng với giấy lọc hoặc bông để lọc chất rắn ra khỏi chất lỏng và rửa chất rắn.  
Phễu lọc xốp thủy tinh: Loại phễu có sẵn lớp lọc ở đáy, không dùng giấy lọc.  
Kích thước lỗ lọc từ 4 – 60 μm; dung tích lọc rất đa dạng, từ 2 – 3.000 ml. Loại  
phễu này thích hợp nhất cho lọc dung dịch chất oxi hóa phản ứng với giấy học như:  
KMnO4, K2CrO7, H2O2, H2SO4 đặc, HNO3 và dung dịch có khả năng hòa tan giấy  
lọc: kiềm mạnh, nước Svayde. Khi lọc kết hợp với thiết bị hút chân không.  
Phễu lọc sứ: Phễu sứ cần thêm giấy lọc được cắt thành hình tròn và vừa  
khít với đáy của phễu. Kích thước lỗ lọc từ 1 – 2 mm; dung tích lọc rất đa dạng,  
từ 10 – 10.000 ml. Phễu lọc sứ thích hợp khi lọc với khối lượng lớn, được kết  
hợp với thiết bị hút chân không.  
Phễu chiết: Phễu chiết được sử dụng trong phương pháp chiết, nhằm tách  
các thành phần cần cho quá trình phân tích và thí nghiệm khỏi các hợp chất và  
hỗn hợp dạng lỏng. Với dụng cụ này, người sử dụng có thể nhanh chóng thu  
được chất cần phân tích và loại bỏ được các thành phần phụ không mong muốn  
bằng hỗn hợp 2 dung môi không trộn lẫn với nhau, thường là pha nước và pha  
hữu cơ. Phễu chiết có khóa thủy tinh hoặc khóa nhựa để tháo từng pha dung dịch  
ra khỏi phễu.  
11  
1.3.5. Cốc thủy tinh  
Cốc thủy tinh có dung tích rất đa dạng từ 50 ml đến 2 lít. Cốc thường có  
mỏ để dễ dàng cho việc rót chất lỏng. Cốc thường làm bằng thủy tinh chịu nhiệt  
để thực hiện các phản ứng, đun nóng. Cốc thủy tinh có chia độ, tuy nhiên trong  
các phép phân tích định lượng với yêu cầu độ chính xác cao thì cốc thủy tinh  
không được sử dụng để đo, đong chất lỏng vì các vạch chia độ lớn hay sai số  
dụng cụ lớn.  
1.3.6. Ống đong  
Ống đong được dùng để đo thể tích chất lỏng. Ống đong có nhiều loại dung  
tích khác nhau từ 5 – 5.000 ml. Ống đong hình trụ được chia độ thành 1 ml hoặc  
0,1 ml. Khi dùng các ống đong cần chú ý rằng độ chính xác phép đo thể tích phụ  
thuộc vào đường kính ống đong, ống đong có đường kính càng lớn thì độ chính  
xác càng kém. Không được dùng những ống đong lớn để đong thể tích nhỏ.  
Khi đong, nên chọn ống đong nào có thể tích gần nhất với thể tích cần đong  
để có độ chính xác cao hơn. Khi đong chất lỏng trong suốt, rót chất lỏng vào ống  
đo sao cho đáy dưới vòm khum của bề mặt chất lỏng ngang với vạch chia độ của  
ống đong, vạch đó sẽ chỉ thể tích chất lỏng. Đối với chất lỏng đục hoặc có màu,  
xác định thể tích theo mặt trên của vòm khum. Không được đun nóng ống đong  
cũng như không được đo chất lỏng đang nóng. Để tránh sai số trong lúc đọc mức  
đong, phải đặt ống đong trên một mặt phẳng và tầm mắt ngang tầm với bề mặt  
chất lỏng.  
1.3.7. Bình định mức  
Bình định mức là loại dụng cụ có thể tích chính xác chuyên dùng để pha  
chế dung dịch có nồng độ xác định. Bình định mức là bình hình cầu đáy bằng,  
cổ nhỏ và dài, nút thủy tinh mài hoặc nút nhựa, được đánh dấu bằng một vạch  
mảnh quanh cổ (vạch ngấn). Vạch này chỉ mức chất lỏng mà ở nhiệt độ xác định  
(thường là ở 20oC) thể tích của nó ứng đúng với giá trị ghi trên thành bình. Bình  
định mức thường dùng có dung tích 25, 50, 100, 250, 500 ml… Vì cổ bình hẹp  
nên việc thêm hay bớt một vài giọt chất lỏng cũng làm dịch chuyển đáng kể vị  
trí bề mặt của nó và vì vậy có thể đo chính xác thể tích chất lỏng.  
Khi pha dung dịch có nồng độ xác định từ chất rắn, cần thực hiện như sau:  
– Trước tiên cân chính xác lượng chất cần pha, đổ vào cốc thủy tinh rồi cho  
vào đó một ít dung môi để hòa tan, sau đó đổ vào bình định mức. Tráng cốc bằng  
dung môi vài lần, mỗi lần một lượng nhỏ sao cho khi đổ vào bình định mức chưa  
tới vạch;  
12  
– Trước khi đổ dung môi cho tới vạch phải lắc dung dịch trong bình thật  
đều, dùng hai bàn tay đỡ đáy và nút bình định mức và lắc cẩn thận để dung dịch  
không bắn lên miệng bình;  
– Việc hòa tan thường làm giảm hoặc tăng nhiệt độ của dung dịch, nên phải  
chờ cho đến khi nhiệt độ của dung dịch trong bình cân bằng với môi trường bên  
ngoài rồi mới cho thêm dung môi cho tới vạch;  
– Khi thêm dung môi cho tới vạch thì những giọt dung môi sau cùng phải  
thêm từ từ, có thể dùng pipet để nhỏ giọt từ từ, sau khi nhỏ một giọt ta phải chờ  
1 – 2 phút để dung môi có thời gian trôi xuống vì nó có thể dính thành bình. Khi  
xác định vòm khum cần để mắt nhìn ngang với ngấn;  
– Cuối cùng, đậy nắp bình và đảo bình 10 – 15 lần để đồng nhất dung dịch.  
1.3.8. Pipet  
Pipet dùng để lấy một lượng chính xác chất lỏng. Pipet là một ống thủy tinh  
nhỏ, ở giữa có bầu hoặc không. Pipet thường có dung tích 1, 2, 3, 5, 10, 20, 25,  
50 ml. Ngoài ra, người ta còn sử dụng micropipet để lấy những thể tích nhỏ chất  
lỏng với độ chính xác cao hơn.  
Phân loại pipet: pipet một vạch và pipet hai vạch, pipet chia độ và pipet có  
dung tích cố định (pipet bầu).  
– Đối với pipet một vạch thì khi ta hút chất lỏng đến vạch trên và thả tay  
cho chất lỏng chảy ra hết là đã lấy được đúng thể tích ghi trên pipet.  
– Đối với pipet hai vạch thì thể tích ghi trên pipet là thể tích chứa giữa hai  
vạch đó. Vì vậy, đối với pipet hai vạch này khi ta hút chất lỏng đến vạch trên và  
thả tay cho chất lỏng chảy ra đến vạch dưới thì dừng lại, lúc đó sẽ lấy được đúng  
thể tích ghi trên pipet.  
– Pipet chia độ là loại pipet tại phần giữa có các vạch chia độ.  
– Pipet bầu là loại pipet thường có bầu ở giữa, dùng để lấy một thể tích  
chính xác bằng số đo của nó.  
Muốn lấy chất lỏng vào pipet phải dùng quả bóp cao su:  
– Trước hết dùng tay phải bóp quả cao su để tạo ra sự chênh lệch áp suất,  
một tay cầm pipet, ngón trỏ để gần miệng trên pipet có thể sẵn sàng bịt lại khi đã  
lấy xong chất lỏng. Tay còn lại cầm quả bóp cao su, bóp không khí ra trước khi  
tiến hành lấy chất lỏng;  
– Nhúng pipet vào chất lỏng, gần đáy bình; đặt đầu hở quả bóp cao su (đã  
được bóp không khí) vào miệng pipet và nhả từ từ bóp cao su; chất lỏng bị hút  
vào pipet cho tới quá vạch cần thiết một chút thì dừng; dùng ngón trỏ bên tay  
13  
cầm pipet bịt lại; nhấc pipet ra khỏi bề mặt chất lỏng; quan sát mực chất lỏng  
ngang với tầm mắt; hé mở ngón trỏ để chất lỏng chảy từng giọt cho tới khi vòm  
khum khớp với vạch chia độ thì bịt chặt không cho dung dịch chảy ra nữa;  
– Đưa pipet sang bình đựng, mở ngón trỏ cho chất lỏng chảy vào bình. Nếu  
pipet có vạch ở phía dưới thì dùng ngón trỏ điều chỉnh cho vòm khum chất lỏng  
còn lại khớp với vạch dưới pipet. Nếu pipet không có vạch dưới thì để chất lỏng  
chảy ra hết.  
1.3.9. Buret  
Buret được dùng để đo một lượng nhỏ chất lỏng lấy ra. Buret là một ống  
thủy tinh đầu dưới vuốt nhỏ lại, có khóa, trên thành có khắc vạch chia ra 0,1 ml,  
vạch số 0 ở phía trên. Buret dùng để chuẩn độ thường có dung tích 10 ml, 25 ml  
và 50 ml. Với các thí nghiệm yêu cầu chính xác trong phòng thí nghiệm còn  
dùng microburet, được chia vạch 0,01 ml. Khi tiến hành chuẩn độ hay lấy chất  
lỏng, buret được kẹp trên giá sao cho thẳng đứng. Dùng buret chứa dung dịch  
kiềm thì cần rửa và ngâm nước sau khi thí nghiệm.  
Khi sử dụng buret để chuẩn độ, trước tiên cần thực hiện theo các động tác sau:  
– Rửa sạch buret trước khi sử dụng. Buret sạch nhận ra khi ta rót chất lỏng  
thì nó chảy từ từ theo thành bên trong của buret mà không dính giọt nào trên  
thành. Khi sử dụng nếu buret còn ướt thì ta phải tráng buret vài lần bằng chính  
chất lỏng được chứa;  
– Rót dung dịch chuẩn độ vào buret: Dùng loại phễu nhỏ có cuống ngắn,  
cuống phễu không được chạm tới vạch số 0. Trước khi rót ta phải xem lại đã  
khóa buret chưa. Sau đó, rót dung dịch và mở khóa để dung dịch chảy xuống  
chiếm đầy phần buret nằm dưới khóa đến tận đầu cùng của ống vuốt. Chú ý để  
cho phần dưới buret không có bọt khí. Nếu có bọt khí thì khi chuẩn độ thể tích  
bọt khí thay đổi và dẫn đến không thể đọc đúng thể tích hóa chất đã tiêu tốn.  
Trường hợp có bọt khí thì ta mở khóa cho chất lỏng chảy mạnh xuống cốc hứng  
để bọt khí theo ra. Cứ mỗi lần chuẩn độ ta phải rót dung dịch vào buret cho đến  
vạch số 0 để tránh sai số dụng cụ.  
Khi tiến hành chuẩn độ: Dùng tay ôm giữ khóa cẩn thận sao cho luôn có xu  
hướng kéo khóa vào phía trong lòng bàn tay. Căn chỉnh vạch số 0 bằng cách mở  
khóa cho dung dịch chảy từ từ từng giọt; nhìn ngang tầm mắt thấy mặt cong của  
chất lỏng trùng với vạch số 0 thì dừng;  
– Cho chất lỏng chảy ra buret không được quá nhanh, đặc biệt khi gần tới  
điểm tương đương.  
14  
Khi tiến hành xong thí nghiệm: Buret phải được rửa sạch bằng nước  
thường và tráng lại bằng nước cất, cặp nó vào giá và quay đầu hở xuống để bụi  
không rơi vào buret. Đối với loại buret có khóa nhám thì cần lấy khóa ra bọc  
khóa bằng giấy lọc sạch rồi lại đặt khóa vào buret, làm như vậy thì phần nhám  
được bảo vệ ít bị hỏng và cũng không bị dò chảy. Bình thường ta có thể bôi  
khóa buret bằng một lớp vaseline mỏng rồi xoay qua lại để lớp vaseline phân bố  
đều trước khi sử dụng.  
1.3.10. Nhiệt kế  
Có nhiều loại dụng cụ để đo nhiệt độ: nhiệt kế lỏng, nhiệt kế điện trở,  
piromet nhiệt điện, piromet quang học. Nhiệt kế lỏng là nhiệt kế có chứa chất  
lỏng. Chất lỏng đựng trong nhiệt kế thường là rượu màu, thủy ngân, toluen,  
pentan… Nhiệt kết chứa pentan đo nhiệt độ thấp đến – 220oC. Nhiệt kế thủy  
ngân đo đến nhiệt độ cao nhất là 550oC.  
Khi đo nhiệt độ một chất lỏng, nhúng ngập bầu chất lỏng trong nhiệt kế vào  
chất lỏng cần đo nhiệt độ, không để bầu nhiệt kế sát vào thành bình. Theo dõi  
đến khi cột chất lỏng không dâng lên nữa mới đọc kết quả, để mắt ngang với  
mực chất lỏng. Sử dụng nhiệt kế phải cẩn thận, tránh va chạm mạnh, rơi vỡ,  
không để nhiệt kế thay đổi nhiệt độ đột ngột, không được đo nhiệt độ cao quá  
nhiệt độ cho phép, sẽ làm nhiệt kế nứt vỡ.  
Cần đặc biệt lưu ý thủy ngân và hơi thủy ngân rất độc, nếu không may  
nhiệt kế vỡ, dùng mảnh giấy thu gom phần lớn các hạt thủy ngân vào lọ, không  
được nhặt bằng tay, khử thủy ngân còn sót bằng bột lưu huỳnh, hoặc tạo hỗn  
hỗng với kẽm…; đồng thời làm thay đổi không khí trong phòng như mở cửa,  
dùng quạt thông gió…  
1.3.11. Bình hút ẩm  
Bình hút ẩm là bình làm bằng thủy tinh dầy, phần dưới hình nón cụt, phía  
trên hình trụ, nắp đậy bằng thủy tinh có gờ mài nhám cho kín. Bình hút ẩm dùng  
làm khô từ từ các chất, bảo vệ các chất dễ hút ẩm trong không khí. Có 2 loại  
bình: bình hút ẩm thường, bình hút ẩm chân không. Ở đáy bình để các chất hút  
ẩm: CaCl2 khan, NaOH rắn, H2SO4 đặc, P2O5, silicagel… Những chất cần làm  
khô đựng trong cốc. chén sứ, mặt kính đồng hồ… đặt vào bình, trên khay sứ.  
Miệng bình và nắp thủy tinh mài nhám luôn bôi lớp vaseline mỏng. Khi mở bình  
phải đẩy nắp trượt về một bên theo chiều ngang, không được nhấc nắp theo  
chiều thẳng đứng. Khi đậy nắp, đẩy nắp trượt từ bên cạnh dần vào khít với  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 99 trang yennguyen 17960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Thực hành Hóa học đại cương - Vũ Huy Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_thuc_hanh_hoa_hoc_dai_cuong_vu_huy_dinh.pdf