Đặc điểm sự cố y khoa tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
ĐẶC ĐIỂM SỰ CỐ Y KHOA  
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2020  
Kiều Quang Phát1, Nguyễn Huy Ngọc2,  
Nguyễn Thị Kim Ngân3, Nguyễn Quang Ân4  
medical establishments. The study cross-sectional  
analysis of hospital medical incident reports from May  
2019 to April 2020. 365 medical incidents reported  
and analyzed by medical staff of the hospital: 56.7%  
of incidents were reported in the internal group,  
36.2% occurred in the treatment room, 8.5 % of  
incidents occurred on Friday every week, 21.6% of  
incidents occurred during the day between 12-18h,  
61.1% of crash subjects were patient, 62.7% of  
reported incidents caused level minor injuries, 58.4%  
of incidents occur, increasing resources for the  
patient, 60.8% of the causes of incidents are caused  
by medical staff. Medical incidents reported at Phu  
Tho general hospital are not many, but the  
characteristics are very diverse and is a new database  
in the problem of reporting medical incidents in Vietnam.  
Keywords: Characteristics medical incidents.  
TÓM TẮT32  
Sự cố y khoa là các tình huống không mong muốn  
xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị  
có thể gây hai hoặc nguy cơ gây hại, tác động sức  
khỏe, tính mạng của người bệnh, cán bộ y tế và cơ sở  
y tế.Việc báo cáo, tổng hợp, phân tíchcác sự cố y  
khoa giúp giảm thiểu sự cố tái diễn. Mong muốn đưa  
ra những số liệu có cơ sở khoa học tại Việt Nam về  
một số đặc điểm của sự cố y khoa được báo cáo, góp  
phần làm giàu thêm giữ liệu còn khá mới trong việc  
quản lý và phòng ngừa sự cố y khoa tại các cơ sở y tế  
Việt Nam. Nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích các  
báo cáo sự cố y khoa của bệnh viện từ tháng 5 năm  
2019 đến tháng 4 năm 2020. 365 sự cố y khoa được  
nhân viên y tế của bệnh viện báo cáo ghi nhận và  
phân tích: 56,7% sự cố xảy ra được báo cáo tại nhóm  
chuyên môn khối Nội, 36.2% sự cố xảy ra tại buồng  
điều trị, 8,5% sự cố xảy ra vào ngày Thứ Sáu hàng  
tuần, 21,6% sự cố xảy ra trong ngày vào thời gian từ  
12-18h, 61.1% đối tượng xảy ra sự cố là người bệnh,  
62,7% sự cố được báo cáo gây ra mức độ tổn thương  
nhẹ, 58,4% sự cố xảy ra làm tăng nguồn lực phục vụ  
cho người bệnh, 60,8% nguyên nhân gây ra sự cố do  
nhóm nhân viên y tế. Sự cố y khoa được báo cáo tại  
bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ chưa nhiều, tuy nhiên  
đặc điểmrất đa dạng và là cơ sở dữ liệu mới trong vấn  
đề báo cáo sự cố y khoa tại Việt Nam.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sự cố y khoa là các tình huống không mong  
muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm  
sóc và điều trị có thể gây hai hoặc nguy cơ gây  
hại, tác động sức khỏe, tính mạng của người  
bệnh, cán bộ y tế và cơ sở y tế. Trên thế giới số  
lượng sự cố y khoa được báo cáo tại các nước  
khá nhiều, các nước Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nhật  
Bản là những nước đi tiên phong và cung cấp  
nhiều số liệu về các sự cố y khoa trong môi  
trường y tế, tại Anh ước tính hàng năm tổn thất  
do sự cố y khoa tới hàng tỷ bảng, Nhật Bản thì  
các tòa án phải mất hàng năm cho việc giải  
quyết các sự cố do người bệnh khiếu nại [7],[8].  
Tại Việt Nam, bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển,  
Uông Bí, Quảng Ninh công bố 2311 sự cố y khoa  
trong 6 năm từ năm 2013-2018 thì trong đó  
84.6% các sự cố làm tăng nguồn lực phục vụ  
người bệnh của bệnh viện, Phạm Đức Mục cho  
rằng sự cố xảy ra nhiều nhất tại các khu vực liên  
quan tới phẫu thuật có thể tới 50% các sự cố y  
khoa. Văn hóa báo cáo sự cố y khoa tại Việt  
Nam còn là một rào cản lớn, chính vì vậy cơ sở  
dữ liệu về các vấn đề này không dễ ràng tìm  
được tại Việt Nam. Vì những lý do trên chúng tôi  
tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là  
mô tảđặc điểm sự cố y khoa của bệnh viện đa  
khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020.  
Từ khóa: Đặc điểm sự cố y khoa.  
SUMMARY  
CHARACTERISTICS MEDICAL INCIDENT AT  
PHU THO GENARAL PROVINCIAL  
HOSPITAL 2020  
Medical incidents are undesirable situations  
occurring in the course of diagnosis, care and  
treatment that can cause two or more harm risks,  
affecting the health and life of the patient or health  
worker. and medical facility. Reporting, synthesizing  
and analyzing medical incidents helps to reduce  
recurrence. Desiring to provide science-based data in  
Vietnam on some of the characteristics of reported  
medical incidents, contributing to enriching the  
relatively new data in the management and  
prevention of medical incidents. in Vietnamese  
1Trung tâm Y tế huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ  
2Sở Y tế Phú Thọ  
3Trường Đại học Y tế công cộng  
4Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Huy Ngọc  
Ngày nhận bài: 15.3.2021  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Nghiên cứu định lượng: Số liệu thứ cấp  
báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện là các báo  
cáo sự cố y khoa trong thời gian từ 01 tháng 5  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 20.5.2021  
133  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
3.2. Thời gian xảy ra sự cố  
Bảng 3. Sự cố xảy ra theo thời gian thứ  
trong tuần  
Số sự cố xảy ra  
năm 2019 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020.  
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ  
tháng 3/2020 đến tháng 8/2020, tại bệnh viện  
đa khoa tỉnh Phú Thọ.  
Số  
lượng  
19  
Tỷ lệ %  
theo thứ  
Thứ Hai  
Thứ Ba  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tảcắt  
ngang phân tích số liệu định lượng từ số liệu thứ cấp.  
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn  
toàn bộ các báo cáo sự cố y khoa được lưu trữ  
và quản lý tại phòng QLCL trong thời gian từ 01  
tháng 5 năm 2019 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020.  
Phương pháp phân tích số liệu: Tất cả  
các báo cáo được chọn theo phương pháp trên  
được mở, lấy thông tin để nhập vào phần mềm  
excel và được mã hóa phân loại sự cố theo tiêu  
chí nghiên cứu. Số liệu được chuyển sang phần  
mềm SPSS để thực hiện phân tích số liệu.  
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu: Nghiên  
cứu được thực hiện sau khi có sự đồng ý của  
Ban Giám đốc bệnh viện. Kết quả sẽ được phản  
hồi với Ban Giám đốc và toàn thể các khoa,  
phòng, trung tâm trong bệnh viện, làm cơ sở cho  
các giải pháp cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu  
quả hoạt động báo cáo sự cố y khoa tại bệnh  
viện khi kết thúc nghiên cứu.  
5,2  
6,3  
23  
Thứ Tư  
Thứ Năm  
Thứ Sáu  
22  
30  
31  
6,0  
8,2  
8,5  
Thứ Bảy  
8
21  
211  
365  
2,2  
5,8  
57,8  
100,0  
Chủ Nhật  
Không ghi nhận  
Tổng số  
Bảng 4. Thời gian sự cố xảy ra trong ngày  
Thời gian xảy ra  
Số lượng  
Tỷ lệ%  
sự cố  
0-6h  
6-12h  
12-18h  
18-24h  
7
44  
79  
1,9  
12,1  
21,6  
7,1  
26  
Không ghi nhận  
Tổng số  
209  
365  
57,3  
100,0  
3.3. Đối tượng xảy ra sự cố  
Bảng 5. Phân loại sự cố theo đối tượng  
xảy ra sự cố  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Trong khoảng thời gian 12 tháng từ 01 tháng  
5 năm 2019 đến 30 tháng 4 năm 2020 chúng tôi  
đã nghiên cứu toàn bộ các sự cố y khoa được  
báo cáo tại bệnh viện với số lượng là 365 sự cố  
và thu được các kết quả sau:  
Số Tỷ lệ  
Thời gian xảy ra sự cố  
lượng  
%
Người bệnh  
Nhân viên y tế  
Máy, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng  
Người nhà người bệnh, khách đến  
thăm  
223 61,1  
97  
26  
26,6  
7,1  
3.1. Nơi xảy ra sự cố  
Bảng 1. Khu vực xảy ra sự cố theo khối  
3
0,8  
Số  
lượng  
207  
127  
6
1
24  
Tỷ lệ  
Không ghi nhận  
Tổng số báo cáo của bệnh viện  
16  
4,4  
Số lượng sự cố theo khối  
%
365 100,0  
Lâm sàng hệ nội  
Lâm sàng hệ ngoại  
Cận lâm sàng  
Các phòng chức năng  
Không ghi đơn vị  
Tổng số báo cáo  
56,7  
34,8  
1,6  
0,3  
6,6  
3.4. Mức độ tổn thương của người bệnh  
Bảng 6. Phân loại ban đầu sự cố theo  
mức độ tổn thương của người bệnh  
Phân loại theo mức độ tổn  
thương của người bệnh  
Tổn thương nhẹ (NC1)  
Tổn thương trung bình (NC2)  
Tổn thương nặng (NC3)  
Chưa xảy ra (NC0)  
Số  
lượng  
229  
83  
24  
22  
Tỷ lệ %  
365  
100,0  
62,7  
22,7  
6,6  
6,0  
1,9  
Bảng 2. Vị trí cụ thể xảy ra sự cố  
Vị trí cụ thể xảy ra  
Tỷ lệ  
%
Số lượng  
sự cố  
Buồng điều trị  
Phòng mổ  
Nhà vệ sinh  
132  
19  
13  
11  
11  
9
36,2  
5,2  
3,6  
3,0  
3,0  
2,5  
2,2  
Không phân tích được  
7
Tổng số báo cáo của bệnh viện 365  
100,0  
3.5. Mức độ ảnh hưởng của sự cố lên tổ  
Buồng khám  
Phòng cấp cứu  
Buồng tiêm, thủ thuật  
Hành lang  
chức  
Bảng 7. Phân loại sự cố theo mức độ  
ảnh hưởng trên tổ chức  
8
Phân loại theo mức độ ảnh  
hưởng trên tổ chức  
Tăng nguồn lực phục vụ cho  
người bệnh  
Số  
Tỷ lệ %  
Khác  
Không ghi nhận  
Tổng số sự cố  
27  
135  
365  
7,4  
37,0  
100,0  
lượng  
213  
58,4  
134  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Tổn hại tài sản  
Khiếu nại của người bệnh  
Quan tâm của truyền thông  
Tổn hại danh tiếng  
Can thiệp của pháp luật  
Khác  
65  
7
1
0
0
49  
30  
365  
17,8  
1,9  
0,3  
0,0  
0,0  
13,4  
8,2  
100,0  
Thời gian xảy ra sự cố: Thời gian xảy ra sự  
cố theo thứ trong tuần được ghi nhận trong  
nghiên cứu của chúng tôi khá đồng đều trong  
các ngày trong tuần với 5,2%-8,5% các sự cố  
xảy ra từ Chủ Nhật đến Thứ Sáu, riêng ngày Thứ  
Bảy sự cố ít nhất chỉ có 2,2% sự cố diễn ra trong  
ngày này. Tuy nhiên việc báo cáo để ghi nhận  
được số liệu này còn chưa triệt để còn có 57,8%  
số sự cố được báo cáo không ghi nhận được số  
liệu này. Tương tự kết quả trên, khoảng thời  
gian xảy ra sự cố trong ngày cũng được cán bộ  
cung cấp chưa đầy đủ với 57,3% sự cố được báo  
cáo không cung cấp thông tin này. Khoảng thời  
gian trong ngày xảy ra sự cố nhiều nhất được  
báo cáo là 12-18h, điều này chúng tôi cũng chưa  
phân tích được nguyên nhân. Nghiên cứu phỏng  
vấn cán bộ về vấn đề này của Lê Thanh Tùng  
ghi nhận thời gian buổi tối là thời điểm dễ xảy ra  
sự cố. Các nghiên cứu khác cũng chưa tìm thấy  
có số liệu này được công bố [1],[2],[4],[5],[6].  
Mức độ tổn thương của người bệnh:  
Phần lớn các sự cố được báo cáo của chúng tôi  
là các sự cố gây ra mức độ tổn thương nhẹ, với  
62,7% các tác giả Phạm Đức Mục, Lương Ngọc  
Khuê cũng đưa ra nhận định tương tự tại Việt  
Nam về mức độ này, Nguyễn Thị Thu Hà là 1%,  
các tác giả Gao X, Howell cho rằng mức độ này  
chỉ là phần nổi có thể nhìn thấy thực tế có thể  
rất khác nhau tùy từng bệnh viện; nghiên cứu  
cho thấy các sự cố gây nên tổn thương mức độ  
trung bình chiếm tỷ lệ 22,7%, Phạm Đức Mục  
nhận định con số này khoảng 20%, Nguyễn Thị  
Thu Hà là 32,9%, Nuckol, Cousin cho rằng mức  
độ này cũng không có tỷ lệ chung ở các bệnh  
Không ghi nhận  
Tổng số báo cáo của bệnh viện  
3.6. Nguyên nhân gây ra sự cố  
Bảng 8. Phân loại nhóm nguyên nhân  
gây ra sự cố  
Nhóm nguyên nhân  
gây ra sự cố  
Nhân viên  
Số  
lượng  
222  
48  
Tỷ lệ  
%
60,8  
13,2  
4,9  
12,9  
8,2  
100,0  
Người bệnh  
Môi trường làm việc  
Khác  
Không phân tích được  
Tổng số báo  
18  
47  
30  
365  
IV. BÀN LUẬN  
Các khối chuyên môn và sự cố y khoa:  
Sự cố xảy ra tại các đơn vị thuộc khối nội của  
bệnh viện có số lượng nhiều nhất với 56,7%, ghi  
nhận 18/23 đơn vị có xảy ra sự cố; các đơn vị  
thuộc khối ngoại xảy ra 34,8%, ghi nhận ở 12/12  
đơn vị có xảy ra sự cố; khối cận lâm sàng 1,6%,  
ghi nhận ở 3/9 đơn vị; 03% các sự cố xảy ra tại  
khối phòng chức năng, ghi nhận ở 1/9 đơn vị.  
Qua trên ta thấy số lượng sự cố xảy ra ở khối nội  
được báo cáo nhiều hơn, tuy nhiên khi đi vào cụ  
thể từng đơn vị thì số sự cố xảy ra tại một đơn vị  
thì đơn vị khối ngoại xảy ra nhiều sự cố hơn,  
điều này tương đồng với các nghiên cứu của các  
tác giả Phạm Đức Mục, Lương Ngọc Khuê,  
Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Kim Yến, viện khác nhau; nghiên cứu của chúng tôi có sự  
Toyabe…[2],[3],[4].  
cố gây nên tổn thương nặng chiếm tỷ lệ 6,6%,  
Nơi xảy ra sự cố: Ta thấy vị trí xảy ra sự cố Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng mức độ này là  
được báo cáo nhiều nhất là buồng điều trị với 13,1%, Phạm Đức Mục nhận định mức độ này  
36,2%, phòng mổ 5,2%, nhà vệ sinh 3,6%,  
buồng khám và phòng cấp cứu 3,0%, hành lang  
2,2%, vị trí khác 7,4% và 37,0% không ghi nhận  
vị trí xảy ra. Điều này cho thấy buồng bệnh là nơi  
xảy ra sự cố nhiều nhất bởi đây là nơi người bệnh  
ở nhiều nhất và cũng là nơi thực hiện nhiều công  
việc chăm sóc và điều trị cho người bệnh, do đó  
các sự cố xảy ra nhiều ở buồng bệnh cũng là điều  
dễ hiểu, số liệu này tương đồng với nghiên cứu  
của Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Kim  
Yến, Chiang, AbuAlrub về nhận định nơi xảy ra sự  
cố nhiều nhất qua phỏng vấn sâu. Và số liệu này  
không tương đồng với các nghiên cứu của Phạm  
Đức Mục và Lương Ngọc Khuê cho rằng phòng  
mổ là nơi xảy ra nhiều sự cố nhất với trên 18%  
các sự cố y khoa [3],[4].  
thường gặp khoảng 5%; đặc biệt có sự cố chưa  
xảy ra (near miss) chiếm tỷ lệ 6,0%, Nguyễn Thị  
Thu Hà là 1%, Nuckol, Cousin,Gao X, Howell cho  
rằng mức độ này thường là nhiều nhất trong các  
sự cố, có thể lên tới 50% các sự cố diễn ra, tuy  
nhiên phần lớn không được ghi nhận. Nhận định  
chung về những hậu quả trên cho thấy hậu quả  
của sự cố y khoa là vô cùng phức tạp, nó phức  
tạp ngay trong các sự cố gây hậu quả ít và cả  
các sự cố gây hậu quả nhiều. Rất khó để so sánh  
về hậu quả của sự cố đối với các bệnh viện khác  
Mức độ ảnh hưởng của sự cố trên tổ  
chức: nhận thấy số lượng sự cố gây ra mức độ  
ảnh hưởng tới bệnh viện phải tăng nguồn lực  
phục vụ cho người bệnh là ảnh hưởng nhiều  
135  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
nhất tới 58,4% các sự cố được báo cáo, điều này tại bệnh viện, Nguyễn Thị Thu Hà nghiên cứu có  
cũng phù hợp vì thực tế khi sự cố xảy ra đều kết quả đối tượng nhiều nhất cũng là người bệnh  
phải cần một nguồn lực nhất định để giải quyết và chiếm 67,7%, các tác giả Dương Minh Đức,  
ngay sự cố ấy, nguồn lực có thể là nhân lực giải Lê Thanh Tùng và một số tác giả trong nước  
quyết sự cố, cán bộ y tế phải để ý theo dõi cũng đưa ra các nhận định đối tượng xảy ra sự  
người bệnh, dành nhiều thời gian hơn cho người cố nhiều nhất là người bệnh. Các tác giả nước  
bệnh… So sánh với một số tác giả khác cũng ngoài Johnston, Mansuri cũng có kết quả đối  
thấy được hậu quả này là phổ biến trong các tượng người bệnh chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong  
nghiên cứu tham khảo được, như của Nguyễn các sự cố [1],[2],[6]. Nhân viên y tế là đối tượng  
Thị Thu Hà hậu quả này với bệnh viện tới xảy ra sự cố đứng thứ hai sau người bệnh với  
84.6%, các tác giả Dương Minh Đức, Lê Thanh 26,6%, kết quả này của chúng tôi tương đồng  
Tùng, Nguyễn Thị Thu, Phạm Đức Mục cũng cho với nhận định của các tác giả Dương Minh Đức,  
nhận định đây là ảnh hưởng phổ biến nhất của Lê Thanh Tùng về số sự cố xảy ra với đối tượng  
sự cố y khoa tại nước ta [1],[2],[4],[5],[6], các nhân viên y tế là đứng hàng thứ 2. Tuy nhiên so  
tác giả Nuckol, Cousin,Gao X, Howell cho rằng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà  
đây là mức độ ảnh hưởng lớn và nhiều nhất, có lại khác biệt khá nhiều với các sự cố xảy ra với  
thể tính ra hàng tỷ USD cho các bệnh viện phải nhân viên chỉ đứng hàng thứ ba sau người bệnh  
chí phí hàng năm cho vấn đề này. Đứng thứ 2 về và trang thiết bị, Gao X cũng đưa ra nhận định  
hậu quả ảnh hưởng tới bệnh viện trong nghiên nhân viên y tế là đối tượng xảy ra sự cố thứ hai  
cứu của chúng tôi là tổn hại tài sản với 17,8% số sau người bệnh [1],[2],[6],[7]. Với đối tượng là  
sự cố gây ra ảnh hưởng này, tác giả Nguyễn Thị máy móc, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng có 7,1%  
Thu Hà có kết quả này là 4,2% và là ảnh hưởng là đối tượng xảy ra sự cố, tác giả Nguyễn Thị  
đứng thứ 3, tác giả Dương Minh Đức nghiên cứu Thu Hà có kết quả nghiên cứu về đối tượng này  
cho kết quả nhân viên nhận định về hậu quả này đứng hàng thứ hai với tỷ lệ 26,6%, một số tác  
tới 70,1%, như vậy về hậu quả này còn khác giả khác cũng cho rằng đối tượng xảy ra sự cố là  
nhau ở các nghiên cứu và khác với kết quả trang thiết bị cũng đứng háng thứ ba như  
nghiên cứu của chúng tôi [1],[2],[3],[4],[5],[6]. nghiên cứu của chúng tôi [3],[4],[6],[7]. Đối  
Các tác giả Nuckol, Cousin cho rằng tỷ lệ của tượng xảy ra sự cố là người nhà người bệnh và  
mức độ này không tương đồng ở các bệnh viện khách đến thăm trong nghiên cứu của chúng tôi  
do mỗi bệnh viện có các tài sản trị giá khác là 0,8% và đứng hàng thứ 4, về đối tượng này  
nhau. Bàn luận về hậu quả người bệnh khiếu nại phần lớn các tác giả tham khảo được Nguyễn Thị  
trong nghiên cứu của chúng tôi có 1,9% số sự Thu Hà, Dương Minh Đức, Lê Thanh Tùng, Gao  
cố được báo cáo gây ra hậu quả này cho bệnh X, Phạm Đức Mục đều cho rằng đối tượng này là  
viện, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng hậu ít xảy ra sự cố nhất so với các đối tượng trên  
quả này chỉ chiếm 0,1% qua nghiên cứu của [1],[2],[4],[6],[7].  
mình. Các tác giả khác trong nước cũng cho rằng  
Nguyên nhân gây ra sự cố: Nhóm nguyên  
hậu quả này thường thấp dưới 2% thu được qua nhân gây ra sự cố gặp nhiều nhất là nguyên  
qua phỏng vấn cán bộ y tế [1],[2],[5],[6], tác nhân do nhóm nhân viên y tế gây nên chiếm tỷ  
giả Shimizu cho rằng thiệt hại tính theo thời gian lệ 60,8% các sự cố. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà  
có thể lên tới hàng năm làm việc của các tòa án cho rằng nhóm nguyên nhân gây ra sự cố do  
tại Nhật Bản để giải quyết vấn đề này [8]. Điều nhân viên cũng chỉ chiếm tỷ lệ 42,1% và xếp  
đó chứng tỏ thêm nữa hậu quả gây ra của sự cố hàng thứ 4 trong các nguyên nhân gây ra sự cố.  
y khoa thực sự rất phức tạp, các hậu quả phân Các tác giả Lương Ngọc Khuê và Phạm Đức Mục  
tích ở trên là những hậu quả mà đã được hướng cho rằng nhóm nguyên nhân do nhân viên y tế  
dẫn trong Thông tư 43/2018-BYT, do vậy có thể là chủ yếu trong các sự cố y khoa [2],[3],[4],  
nhận định trong tương lai hậu quả này sẽ được các tác giả Nuckol, Cousin,Gao X, Howell cho  
cập nhật thêm các mức độ ảnh hưởng tới bệnh rằng có thể tới 90% các sự cố do nguyên nhân  
viện trong các văn bản quy pháp pháp luật về đến từ nhân viên y tế, nhưng 85% trong số đó  
vấn đề này.  
có thể phòng ngừa được.Đối với nhóm nguyên  
Đối tượng xảy ra sự cố: Trong nghiên cứu nhân do người bệnh trong nghiên cứu của chúng  
của chúng tôi đối tượng xảy ra sự cố là người tôi chiếm tỷ lệ 13,2% và xếp hàng thứ 2, tác giả  
bệnh có số lượng nhiều nhất với 61,1%, điều Nguyễn Thị Thu Hà 42,1%. Các tác giả Lương  
này là khá phù hợp với thực tế vì đây là đối Ngọc Khuê và Phạm Đức Mục cho rằng nhóm  
tượng chính của quá trình chăm sóc và điều trị nguyên nhân này là thứ yếu sau nguyên nhân do  
136  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
nhân viên y tế trong các sự cố y khoa Howell cho đối tượng xảy ra sự cố là người bệnh, 62.7% sự  
rằng chỉ 5% là nguyên nhân đến từ người bệnh. cố được báo cáo gây ra mức độ tổn thương nhẹ,  
Nguyên nhân môi trường chúng tôi nghiên cứu  
thấy nhóm này chiếm tỷ lệ 4,9% nguyên nhân  
gây ra sự cố và xếp hàng thứ 5, trong khi đó tác  
giả Nguyễn Thị Thu Hà là 9,7% và xếp hàng thứ  
3 [2]. Tác giả Gao X thì cho rằng điều này tùy  
thuộc vào môi trường của từng bệnh viện [7].  
Nhóm nguyên nhân khác chúng tôi có kết quả  
chiếm tỷ lệ 12,9%, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là  
4,8%, Lương Ngọc Khuê, Phạm Đức Mục chưa  
đưa ra nhận định này. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi còn nhận định thấy có 8,2% sự cố được  
báo cáo không phân tích được nguyên nhân, việc  
này cũng đúng với nhận định của các tác giả  
Lương Ngọc Khuê, Phạm Đức Mục về sự phức tạp  
trong nguyên nhân gây ra sự cố sẽ ngày càng  
nhiều và sẽ cần được bổ sung trong các văn bản  
hướng dẫn về vấn đề này [2],[3],[4].  
58.4% sự cố xảy ra làm tăng nguồn lực phục vụ  
cho người bệnh, 60.8% nguyên nhân gây ra sự  
cố do nhóm nhân viên y tế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Dương Minh Đức (2018), "Báo cáo sự cố y  
khoa và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện  
Hữu Nghị Việt Đức năm 2018", Luận văn thạc sỹ.  
2. Nguyễn Thị Thu Hà (2019), "Thực trạng báo  
cáo sự cố y khoa và một số yếu tố ảnh hưởng tại  
bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí giai đoạn  
2013-2019". Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện.  
3. Lương Ngọc Khuê (2014), "Tài liệu đào tạo liên  
tục an toàn người bệnh", Nhà xuất bản Y học.  
4. Phạm Đức Mục (2012), "Giảm thiểu sự cố y  
khoa trong các bệnh viện", Hội điều dưỡng Việt  
Nam. Website của Bộ y tế Việt Nam.  
5. Nguyễn Thị Thu (2017), "Nghiên cứu thực trạng  
báo cáo sự cố y khoa và một số yếu tố ảnh hưởng  
tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Phụ Sản Hà  
Nội", Luận văn thạc sỹ.  
6. Lê Thanh Tùng (2019), "Thực trạng báo cáo sự  
cố y khoa và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh  
viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới", Luận  
văn thạc sỹ.  
7. X. Gao et al (2019), "Implications from China  
patient safety incidents reporting system", Ther  
Clin Risk Manag. 15, tr. 259-267.  
8. T. Shimizu, Y. Tokuda (2012), "Pivot and  
cluster strategy: a preventive measure against  
diagnostic errors", Int J Gen Med. 5, tr. 917-21.  
V. KẾT LUẬN  
Đặc điểm của các sự cố y khoa được báo cáo  
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ rất đa dạng  
với 365 sự cố y khoa được nhân viên y tế của  
bệnh viện báo cáo ghi nhận và phân tích: 56.7%  
xảy ra tại nhóm chuyên môn khối Nội, 36.2% sự  
cố xảy ra tại buồng điều trị, 8.5% sự cố xảy ra  
vào ngày Thứ Sáu hàng tuần, 21.6% sự cố xảy  
ra trong ngày vào thời gian từ 12-18h, 61.1%  
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH  
VIÊM GAN B NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG  
BỆNH VIỆN TỈNH BẾN TRE, 2018  
Nguyễn Ngọc Bích1, Nguyễn Thị Mỹ Khánh2, Nguyễn Thu Hà3  
định tính đã được thực hiện từ tháng 4 năm 2018 đến  
TÓM TẮT33  
tháng 8 năm 2018, qua phát vấn 420 điều dưỡng tại  
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu. Đồng thời, có 03 cuộc  
phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo Phòng  
Điều dưỡng, lãnh đạo Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và  
01 cuộc thảo luận nhóm cũng đã được tiến hành. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy 89,5% điều dưỡng có thực  
hành đúng từ 2/3 tiêu chí trong dự phòng phơi nhiễm  
viêm gan B nghề nghiệp. Nhóm điều dưỡng có kiến  
thức về bệnh viêm gan B nghề nghiệpkhông đạt có  
thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp không  
đúng gấp 2,3 lần so với nhóm có kiến thức đạt (p =  
0,007). Nhóm điều dưỡng có kiến thức phòng bệnh  
viêm gan B nghề nghiệpkhông đạt có thực hành  
phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp không đúng gấp  
4,3 lần so với nhóm có kiến thức đạt (p < 0,0001).  
Nghiên cứu khuyến nghị tăng cường kiến thức về  
bệnh cũng như kiến thức về cách phòng bệnh viêm  
gan B nghề nghiệp cho điều dưỡng lâm sàng tại bệnh  
viện, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các  
Viêm gan B nghề nghiệp là một bệnh tiềm ẩn nguy  
cơ đe doạ sức khoẻ nhân viên y tế, đặc biệt là điều  
dưỡng do thường xuyên tiếp xúc với máu, dịch của  
người bệnh nhiễm vi rút viêm gan B. Nghiên cứu tìm  
hiểu một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng  
bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm  
sàng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre.  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp  
1Trường Đại học Y tế công cộng  
2Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre  
3Viện Sức khoẻ nghề nghiệp và Môi trường  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Ngọc Bích  
Ngày nhận bài: 9.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 18.5.2021  
137  
               
pdf 5 trang yennguyen 16920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm sự cố y khoa tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_su_co_y_khoa_tai_benh_vien_da_khoa_tinh_phu_tho_nam.pdf