Hiệu quả điều trị cường giáp bằng IOD phóng xạ tại khoa y học hạt nhân Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CƯỜNG GIÁP BẰNG IOD PHÓNG XẠ  
TẠI KHOA Y HỌC HẠT NHÂN BỆNH VIỆN UNG BƯỚU  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2019  
1
1
2
LÊ BÁ PHƯỚC , NGUYỄN HUỲNH KHÁNH AN , VÕ KHẮC NAM  
TÓM TẮT  
Giới thiệu: cường giáp là bệnh gây ra những ảnh hưởng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của bệnh  
nhân với nhiều biến chứng nặng nề. Phương pháp điều trị chính bao gồm thuốc kháng giáp, phẫu thuật và  
Iod phóng xạ. Iod phóng xạ là một phương pháp có tiềm năng hiệu quả cao, đã được ứng dụng điều trị  
cường giáp.  
Mục tiêu: nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ điều trị thành công, tỉ lệ cường giáp tồn tại sau  
điều trị phóng xạ và như tỉ lệ cần tái điều trị sau liều điều trị đầu tiên cũng như phân tích mô tả những đặc  
điểm của các bệnh nhân đã điều trị thành công.  
Đối tượng và phương pháp: Tất cả những bệnh nhân cường giáp đang điều trị tại khoa Y học hạt  
nhân, đã được điều trị Iod phóng xạ và theo dõi ít nhất 3 tháng sau khi điều trị nhằm đánh giá hiệu quả. Xử  
lý số liệu với phần mềm SPSS 25.0 và MS excel.  
Kết quả: Nghiên cứu này thu nhận tổng cộng 89 bệnh nhân đạt đủ tiêu chuẩn với 73 bệnh nhân nữ  
(82%) và 16 bệnh nhân nam (18%). Trong đó, có 69 bệnh nhân (77,53%) được chẩn đoán là basedow và  
20 bệnh nhân (22,47%) được chẩn đoán là nhân giáp độc. Liều I131 trung bình được sử dụng cho lần điều  
trị đầu tiên là 9,13mCi (± 3,778). Tỉ lệ thành công sau lần điều trị I131 lần đầu là 30,3%. Số bệnh nhân  
phải điều trị Iod phóng xạ lần 2, lần 3 và lần 4 lần lượt là 30, 5 và 5 bệnh nhân. Tỉ lệ điều trị thành công  
trong năm 2019 đạt 59,55%. Tỉ lệ thành công sẽ tiếp tục gia tăng khi bệnh nhân được điều trị các đợt tiếp  
theo. Trong nhóm bệnh nhân điều trị thành công, liều I131 trung bình là 13,83mCi và có số đợt điều trị  
trung bình là 1,64 lần.  
Kết luận: Cần có sự thay đổi trong chiến lược điều trị, hướng đến điều trị liều I131 cao hơn hiện tại để  
tăng tỉ lệ thành công và rút ngắn thời gian điều trị đảm bảo chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tốt hơn.  
Từ khoá: Nhiễm độc giáp, Iod phóng xạ, TP Hồ Chí Minh.  
thức điều trị cường giáp bào gồm thuốc kháng giáp,  
phẫu thuật và Iod phóng xạ.  
GIỚI THIỆU  
Nhiễm độc giáp là bệnh cảnh thường gặp ở nữ  
Theo ATA 2016, mục tiêu khi điều trị Iod phóng  
xạ là đưa bệnh nhân đạt được suy giáp trong bệnh  
cảnh Basedow hoặc giảm tình trạng cường giáp  
trong bệnh cảnh nhân giáp độc. Khi bệnh nhân đạt  
suy suy giáp sau điều trị phóng xạ, chỉ cần cho bệnh  
nhân sử dụng hormon giáp tổng hợp nhằm đạt được  
trạng thái bình giáp cho bệnh nhân.  
giới, gây các biến chứng nghiêm trọng. Có nhiều  
nguyên nhân gây ra nhiễm độc giáp, nhưng phần  
lớn đến từ hai nguyên nhân chính là bệnh lý  
Basedow do cơ chế tự miễn và bệnh đơn nhân/ đa  
nhân giáp hóa độc. Gây ra bệnh cảnh cường giáp  
với việc tăng tiết hormon giáp vào tuần hoàn khiến  
bệnh nhân có những triệu chứng như hồi hộp, đánh  
trống ngực, run đầu chi, lồi mắt... ảnh hưởng đến  
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Những mô  
Liều điều trị I131 ngày nay có thể là liều cố định  
từ 10 - 15mCi hoặc dùng liều tính toán dựa vào khối  
Địa chỉ liên hệ: Lê Bá Phước  
Ngày nhận bài: 08/10/2020  
Ngày phản biện: 03/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020  
1 Bác sĩ điều trị khoa Y Học Hạt Nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
2 ThS.BS. Trưởng khoa Y Học Hạt Nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
48  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
lượng tuyến giáp và độ tập trung I131 giờ thứ 12  
hoặc thứ 24.  
theo dõi sau điều trị, hoặc các bệnh nhân nhiễm độc  
giáp do viêm giáp, do thuốc, do ung thư tuyến giáp  
di căn.  
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh  
giá hiệu quả điều trị nhiễm độc giáp với Iod phóng xạ  
theo công thức tình hoạt độ, đồng thời hồi cứu lại  
hiệu quả đạt được đối với bệnh lý nhiễm độc giáp  
trong năm 2019 để có những chiến lược điều trị hiệu  
quả hơn trong tương lai.  
Thiết kế nghiên cứu  
Thiết kế mô tả cắt ngang.  
Quy trình nghiên cứu  
Bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm độc giáp tất  
cả đều đã điều trị đầu tay với thuốc kháng giáp tổng  
hợp hoặc kết hợp phẫu thuật giảm thể tích tuyến  
giáp nhưng thất bại sau thời gian theo dõi nên được  
nhập khoa Y Học Hạt Nhân xét chỉ định điều trị với  
Iod phóng xạ. Sau khi thực hiện các cận lâm sàng  
với siêu âm đo thể tích tuyến giáp và xạ hình giáp đo  
độ tập trung với I131, bệnh nhân được hội chẩn với  
sự tham gia của nhiều bác sĩ có kinh nghiệm điều trị  
nhằm xác định hoạt độ phóng xạ điều trị cho bệnh  
nhân.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Đối tượng nghiên cứu  
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán cường giáp  
và điều trị bằng Iod phóng xạ trong năm 2019 tại  
khoa Y học hạt nhân bệnh viện Ung Bướu thành phố  
Hồ Chí Minh và được theo dõi sau đó đủ 3 tháng.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Những bệnh nhân đươc loại khỏi nghiên cứu  
gồm những bệnh nhân nào được chẩn đoán cường  
giáp hoặc đa nhân giáp hóa độc đã hoàn tất điều trị  
trước năm 2019, bệnh nhân chưa đủ thời gian  
Áp dụng công thức sau để tính hoạt độ sau:  
Các trường hợp hợp còn lại được xem là thất bại  
cần điều trị tiếp.  
Trong đó, trong lượng tuyến giáp được dựa vào  
siêu âm đo thể tích tuyến giáp hoặc dựa vào khám  
lâm sàng bởi chuyên gia. Theo ATA, mục tiêu liều  
hấp thu vào mô giáp từ 15 - 20Gy mới đạt được hiệu  
quả điều trị, qua đó, mỗi gam tuyến giáp cần hấp thu  
từ 0,15 - 0,2mCi. Tại đơn vị của chúng tôi, áp dụng  
hệ số là 0,16.  
Phương pháp thu thập số liệu  
Lọc danh sách bệnh nhân qua hệ thống  
eHospital của bệnh viện Ung Bướu. Sau đó tiến  
hành tìm hồ sơ và thu thập thông tin theo bẳng thu  
thập thông tin.  
Trước khi điều trị, bệnh nhân được dặn dò ăn  
chế độ ăn ít Iod trong khoảng 10 - 14 ngày, đồng  
thời ngưng thuốc kháng giáp tổng hợp. Với  
methiamazole, bệnh nhân được dặn ngưng thuốc từ  
5 - 7 ngày, còn PTU, bệnh nhân được dặn ngưng 2  
tuần. Trước khi điều trị, bệnh nhân đều đã được xét  
nghiệm beta hCG nhằm phát hiện bệnh nhân mang  
thai.  
Phương pháp phân tích số liệu  
Xử lý số liệu qua phần mềm SPSS 25.0 và MS  
Excel.  
KẾT QUẢ  
Tổng quan  
Qua khảo sát 139 hồ sơ bệnh án nhiễm độc  
giáp đang thuộc quản lý của khoa Y Học Hạt Nhân  
trong năm 2019, có 89 hồ sơ đạt đủ tiêu chí đề ra khi  
là bệnh nhân được điều trị Iod phóng xạ vào năm  
2019 và được theo dõi ít nhất 3 tháng sau khi điều trị  
Iod phóng xạ. Dân số nghiên cứu có độ tuổi trung  
bình 41,08 ± 13,604 năm, có 73 bệnh nhân nữ và 16  
bệnh nhân nam, tỉ số nữ/nam là 5,85:1. Như vậy, số  
lượng bệnh nhân nữ chiếm 82% tổng số bệnh nhân.  
Trong đó, có 69 bệnh nhân chiếm 77,5% bệnh nhân  
được chẩn đoán là Basedow và có 20 bệnh nhân  
Sau khi điều trị, bệnh nhân được tái khám và  
đánh giá lại chức năng tuyến giáp mỗi 1 - 2 tháng.  
Nếu thất bại với đợt trước, bệnh nhân sẽ được chờ  
từ 4 - 6 tháng để có thể tiếp tục điều trị lại I131 đợt  
tiếp theo. Trong thời gian đó, bệnh nhân được sử  
dụng thuốc kháng giáp nhằm giảm triệu chứng  
nhiễm độc giáp. Qua theo dõi, nếu bệnh nhân đang  
không dùng kháng giáp mà đạt suy giáp hoặc bình  
giáp trên chức năng tuyến giáp duy trì trong 02  
tháng thì đánh giá bệnh nhân đã điều trị thành công.  
49  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
chiếm 22,5% bệnh nhân được chẩn đoán nhân giáp  
độc. Phần lớn bệnh nhân, hơn 95%, đã được điều trị  
với kháng giáp trước đó, chỉ có 4 bệnh nhân là đã  
từng phẫu thuật giảm thể tích tuyến giáp đồng thời  
điều trị thuốc kháng giáp. Với nhiều bệnh nhân có  
thời gian mắc bệnh lâu, từ lúc được chẩn đoán, thất  
bại với các phương pháp và được chuyển sang sử  
dụng Iod phóng xạ khoảng 5,23 năm, với thời gian  
lâu nhất là 20 năm.  
Trong năm 2019, 89 bệnh nhân nhiễm độc giáp  
điều trị I131, có 53 bệnh nhân khỏi bệnh chiếm tỉ lệ  
59,55%, 36 bệnh nhân đã thất bại bước đầu với  
I131, đang trong thời gian chờ điều trị I131 đợt tiếp  
theo. Trong số các bệnh nhân thành công sau điều  
trị, có 24 bệnh nhân đã được đưa về bình giáp và  
29 bệnh nhân đã trở thành suy giáp cần bù hormon  
giáp.  
Bảng 2. Kết cục điều trị nhiễm độc giáp với I131  
Trong tổng số 89 bệnh nhân, khi được tính toán  
hoạt độ I131 điều trị, áp dụng trong lượng tuyến giáp  
bằng kinh nghiệm của nhiều bác sĩ lâm sàng, có  
nhiều nhiều kinh nghiệm trong điều trị cường giáp  
thông qua hình thức hội chẩn. Trong đó, trọng lượng  
trung bình của các bệnh nhân này là 37,6 ± 15,74  
gam. Và có 60 bệnh nhân được khảo sát thêm bằng  
cách tham khảo định lượng thể tích tuyến giáp qua  
siêu âm, với thể tích trung bình là 31,04 ± 28,8ml.  
Độ tập trung Iod 131, trong 89 bệnh nhân này, đạt  
được 0,80357 ± 0,132. Trong toàn bộ 89 bệnh nhân,  
có 49 bệnh nhân chỉ điều trị 01 lần, 30 bệnh nhân  
điều trị 02 lần, 5 bệnh nhân điều trị 03 lần, 5 bệnh  
nhân điều trị 04 lần, chiếm lần lượt là 55,1%, 33,7%,  
5,6% và 5,6% (bảng 1).  
trong năm 2019  
Kết cục  
Thất bại đang chờ điều trị tiếp  
Thành công  
Số bệnh nhân (%)  
36 (40,45%)  
53 (59,55%)  
Bình giáp  
24 (45,28%)  
Suy giáp  
29 (54,72%)  
Phân tích dưới nhóm  
Điều trị I131 lần 01  
Sau khi điều trị I131 lần 01, trong 89 bệnh nhân  
thì chỉ có 27 bệnh nhân (chiếm 30,33%) đã điều trị  
thành công, với 10 bệnh nhân suy giáp (chiếm  
37,03%), 17 bệnh nhân đạt bình giáp (62,97%). Với  
hoạt độ I131 trung bình là 9,13 (± 3,778) mCi.  
Bảng 1. Đặc điểm của các bệnh nhân nhiễm độc  
giáp được điều trị I131 năm 2019  
Đặc điểm  
Dữ liệu (%)  
Bảng 3. Kết cục sau khi điều trị I131 lần 01  
Tuổi  
Giới  
41,08 ± 13,604  
năm  
Đặc điểm  
Số bệnh nhân đã điều trị I131 lần 01  
Liều I131 lần 1  
Dữ liệu (%)  
89 bệnh nhân  
9,13 ± 3,778 mCi  
27 (30,33%)  
10 (37,03%)  
17 (62,97%)  
8,63mCi  
Nam  
16 (18%)  
73 (82%)  
Tỉ lệ thành công sau I131 lần 01  
Suy giáp  
Nữ  
Chẩn đoán  
Basedow  
Bình giáp  
69 (77,5%)  
20 (22,5%)  
Liều trung bình thành công sau đợt 01  
Thất bại sau I131 lần 01  
Nhân giáp độc  
62 (69,67%)  
Điều trị trước đó  
Kháng giáp đơn thuần  
85(95,5%)  
4(4,5%)  
Trong 89 bệnh nhân đã điều trị I131, có 49  
bệnh nhân chỉ trải qua 1 đợt điều trị và 27 bệnh nhân  
(30,33%) đã thành công đạt được mục tiêu khỏi  
bệnh là suy giáp hoặc bình giáp; còn 22 bệnh nhân  
vẫn đang trong thời gian chờ đủ thời gian để tiếp tục  
điều trị đợt 2.  
Kháng giáp và phẫu thuật  
Thời gian nhiễm độc giáp đến I131  
Thể tích tuyến giáp trên siêu âm  
5,253 ± 4,546 năm  
31,04 ± 28,804 ml  
37,64 ± 15,743 g  
Trọng lượng tuyến giáp trên lâm  
sàng  
Như vậy, sau đợt điều trị đầu tiên, 62 bệnh  
nhân (69,67%) đã thất bại, cần điều trị tiếp tục  
những đợt kế tiếp. Trong đó, 40 bệnh nhân được  
điều trị tiếp với các liều phóng xạ tiếp theo.  
Độ tập trung I131  
0,80357 ± 0,132  
Số đợt điều trị  
1 đợt  
49 (55,1%)  
30 (33,7%)  
5 (5,6%)  
Điều trị I131 đợt 02  
2 đợt  
Trong các bệnh nhân đã được tiếp tục điều trị,  
có 30 bệnh nhân đã trải qua điều trị I131 lần 2, và có  
3 đợt  
4 đợt  
5 (5,6%)  
50  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
21 bệnh nhân (70%) đã thành công, với liều I131  
trung bình lần 2 này là 7,80 mCi( 3,18) và tổng 02  
đợt có hoạt độ trung bình là 16,43mCi. Trong đó,  
sau điều trị, có 6 bệnh nhân (28,57%) bình giáp 15  
bệnh nhân suy giáp (71,42%), 9 bệnh nhân thất bại  
đang chờ điều trị đợt 3. Với các bệnh nhân đã điều  
trị thành công, liều I131 trung bình là 17,28mCi.  
Bảng 6. Đặc điểm của các bệnh nhân đã điều trị  
thành công  
Đặc điểm  
Dữ liệu  
53  
Số lượng  
Trọng lượng giáp trung bình trên lâm sàng  
Độ tập trung trung bình  
45,84 g  
0,792  
Bảng 4. Kết quả sau khi điều trị I131 đợt 2  
Trung bình số đợt  
1,64 đợt  
13,83 mCi  
Tổng liều trung bình  
Đặc điểm  
Tổng số bệnh nhân điều trị I131 lần 2  
Liều I131 lần 2  
Dữ liệu  
30  
BÀN LUẬN  
7,80 3,18mCi  
16,43 mCi  
21 (70%)  
6
Nhiều hướng dẫn điều trị và các chuyên gia đều  
cho rằng khi điều trị nhiễm độc giáp với Iod phóng xạ  
cần cân bằng giữa hoạt độ điều trị và an toàn bức xạ  
đảm bảo sao cho vẫn đủ để đạt được mục tiêu là  
diệt bớt tế bào biểu mô giáp giúp cải thiện các triệu  
chứng, đưa về bình giáp hoặc suy giáp nhưng vẫn  
đảm bảo giảm thấp các nguy cơ về nhiễm phóng xạ  
không cần thiết cho cả bệnh nhân và thân nhân.  
Hoạt độ trên mỗi gam tuyến giáp được nhiều hướng  
dẫn điều trị uy tín nhu Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kì đề  
ra từ 0,15 - 0,2mCi và nhận thấy tại khoảng liều này  
tính toán đạt được hoạt độ đạt được hiệu quả mong  
muốn.  
Tổng liều trung bình  
Thành công sau I131 lần 2  
Bình giáp  
Suy giáp  
15  
Tổng liều trung bình thành công đợt 2  
Thất bại sau I131 lần 2  
17,28mCi  
9 (30%)  
Điều trị I131 lần 03 và lần 04  
Trong điều trị lần 3, 5 bệnh nhân đã được uống  
I131 với liều trung bình 7,7 (1,947) mCi và có 02  
bệnh nhân đã thành công, thất bại 03 bệnh nhân  
đang chờ điều trị đợt 04. Thêm vào đó, trong số 05  
bệnh nhân đã điều trị I131 04 lần, có 03 bệnh nhân  
đã thành công không còn nhiễm độc giáp (bảng 6).  
Nhiều nghiên cứu với hoạt độ I131 được tính  
toán cho thấy hiệu quả cao. Chẳng hạn như kết quả  
hổi cứu trên 316 bệnh nhân Basedow tại Đại học  
Michigan, Mỹ cho thấy tỉ lệ thành công sau 01 đợt  
điều trị đạt 93%. Tuy nhiên, khi khai thác các dữ liệu  
khác, tại nghiên cứu này, liều I131 trung bình là  
18,1 ± 6,8mCi, còn trong nghiên cứu này, liều I131  
trung bình của đợt điều trị đầu tiên là 9,13 ±  
3,778mCi, chỉ bằng một nửa hoạt độ được sử dụng  
trong nghiên cứu trên.  
Bảng 5. Kết quả sau điều trị I131 đợt 3  
Đặc điểm  
Dữ liệu  
Tổng số bệnh nhân điều trị I131 lần 3  
Liều I131 lần 3  
5
7,70 ± 1,947mCi  
Tổng liều trung bình sau 03 đợt  
Thành công sau I131 lần 3  
Tổng số bệnh nhân điều trị I131 lần 4  
Liều I131 lần 4  
23,40mCi  
Trong dân số nghiên cứu thu nhận được, với tỉ  
số nữ:nam là 4,56:1, độ tuổi trung bình là 41,06 năm  
và có hơn 2/3 bệnh nhân được chẩn đoán Basedow,  
trong khi chưa đến 1/3 bệnh nhân còn lại được chẩn  
đoán nhiễm độc giáp do nhân giáp hóa độc. Sự khác  
nhau về chẩn đoán dẫn đến những mục tiêu điều trị  
khác nhau, có thể làm thay đổi kết quả điều trị, tuy  
nhiên, những sự khác biệt này là không đáng kể bởi  
chúng tôi áp dụng chung hệ số trên mỗi gam tuyến  
giáp. Ngoài ra, trọng lượng tuyến giáp được sử dụng  
trong công thức có trị số trung bình là 37,64 ±  
15,743 g, trọng lượng này chỉ đạt khoảng 75% so  
với nghiên cứu là 50,2 ± 18,1g. Sự khác biệt này  
đến từ sự khác biệt về chủng tộc cũng như thể trạng  
của người Việt Nam so với người Âu Mỹ và ngoài ra  
bởi đây là trọng lượng tuyến giáp được ước tính bởi  
thăm khám lâm sàng của các chuyên gia nên có thể  
dẫn đến sự sai lệch do chủ quan và quan điểm của  
2
5
11,00 mCi ( ± 5,339)  
Tổng liều trung bình sau 04 đợt  
Thành công sau I131 lần 4  
Thất bại sau lần 03 và 04  
43,20mCi  
3
5
Thành công sau điều trị I131  
Với các bệnh nhân đã điều trị thành công, khi  
khảo sát, trọng lượng tuyến giáo trung bình là  
45,84g và độ tập trung trung bình là 0,792. Ngoài ra,  
số lần điều trị trung bình của các bệnh nhân này là  
1,64 đợt.  
51  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
cá nhân. Thêm vào đó, một sự khác biệt đáng kể  
khác là độ tập trung, khi so sánh các nghiên cứu  
khác, nghiên cứu này có độ tập trung 0,80357 ±  
0,132, cao hơn 40% khi so với độ tập trung của  
nghiên cứu trên là 0,57 ± 0,17. Sự khác nhau này là  
một trong những yếu tố dẫn đến sự khác biệt rõ ràng  
về hoạt độ I131 điều trị, cũng như hiệu quả đạt được  
sau 01 lần điều trị.  
1,64 đợt cho thấy phần lớn các bệnh nhân cần nhiều  
hơn 01 đợt để đạt được thành công trong điều trị.  
Qua đó, nếu mong muốn đạt tỉ lệ thành công  
trong điều trị cao hơn, ta có thể thực hiện theo hai  
hướng. Hướng thứ nhất, ta tăng liều điều trị cho  
bệnh nhân từ ban đầu có thể vẫn đảm bảo hiệu quả  
mà rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân, làm  
cho bệnh nhân có nhanh nhất có thể trở về bình giáp  
hoặc suy giáp. Tuy nhiên theo hướng này có thể làm  
bệnh nhân gia tăng khả năng phơi nhiễm một lúc  
liều lượng phóng xạ lớn, có thể đưa đến các tác  
dụng phụ không mong muốn, mặc dù tỉ lệ này rất  
thấp và trong giới hạn cho phép. Hướng thứ hai, ta  
dùng liều thấp như hiện tại và cho bệnh nhân điều trị  
nhiều đợt cho đến khi bệnh nhân đạt đến hiệu quả  
điều trị mong muốn.  
Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được tỉ lệ thành  
công trong năm 2019 với 53 bệnh nhân chiếm  
59,55%, trong đó, tỉ số giữa bình giáp và suy giáp là  
1:0.89, ưu thế dẫn đến suy giáp. Điều này hợp lý với  
mục tiêu khi điều trị là đưa bệnh nhân về suy giáp  
sau đó bù thêm hormon giáp ngoại sinh cho bệnh  
nhân, để dễ dàng hơn trong cân bằng chất lượng  
sống và rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân.  
Mặc dù chưa đến 60% bệnh nhân được điều trị  
thành công trong năm 2019, 36 bệnh nhân thất bại  
sẽ được tiếp tục theo dõi và điều trị I131 ở thời điểm  
thích hợp. Khi tích luỹ theo thời gian, tỉ lệ thành công  
sẽ tăng dần lên cho đến khi đạt được mục tiêu.  
Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn, nếu ta chọn  
theo hướng thứ hai, bệnh nhân phải trải qua nhiều  
đợt điều trị liều thấp dẫn đến thời gian điều trị khá  
lâu bởi khoảng cách giữa 2 đợt từ 3 - 6 tháng theo  
khuyến cáo, ảnh hưởng đến các yếu tố xã hội của  
bệnh nhân như công việc, thu nhập... Ngoài ra, bệnh  
nhân sẽ phải chịu những đợt tái phát, cơ thể bị ảnh  
hưởng bởi tình trạng nhiễm độc giáp tái lại, làm cho  
bệnh nhân tăng nguy cơ gặp các biến chứng tim  
mạch, cơ xương, mắt ảnh hưởng trực tiếp đến hệ  
quả là chất lượng cuộc sống kém. Đồng thời, phần  
lớn các bệnh nhân cường giáp là nữ đang trong độ  
tuổi sanh đẻ, việc kéo dài thời gian điều trị phóng xạ  
có thể ảnh hưởng đến kế hoạch mang của bệnh  
nhân. Thêm vào đó, việc điều trị nhiều lần với liều  
thấp sẽ làm bệnh nhân phơi nhiễm nhiều lần phóng  
xạ, dẫn đến liều tích luỹ của bệnh nhân sẽ gia tăng,  
và làm cho bệnh nhân nản lòng và mong muốn tìm  
đến phương pháp điều trị nhanh hơn là phẫu thuật  
hoặc bệnh nhân bỏ trị. Tóm lại, hướng thứ nhất tăng  
liều điều trị cho lần đầu tiên điều trị của bệnh nhân là  
hợp lý và đảm bảo cho hiệu quả điều trị của bệnh  
nhân tốt hơn.  
Khi đi sâu hơn về từng nhóm bệnh nhân, sau  
01 đợt điều trị, 62 bệnh nhân đã thất bại cần được  
điều trị tiếp tục và với 30 bệnh nhân điều trị 02 đợt,  
cho thấy 70% bệnh nhân đã điều trị thành công, chỉ  
có 30% bệnh nhân - 9 bệnh nhân đã thất bại sau đợt  
02 cần chờ để điều trị đợt 03. Như vậy khi liều tích  
luỹ gia tăng sẽ tương ứng gia tăng tỉ lệ thành công.  
Tương tự như vậy, với 10 bệnh nhân đã được điều  
trị 03 hoặc 04 đợt, đạt 50% bệnh nhân thành công,  
chỉ còn 5 bệnh nhân cần được theo dõi sát và tiếp  
tục điều trị. Thêm vào đó, những trường hợp đáp  
ứng kém với điều trị thường rơi vào các bệnh cảnh  
lâu năm, thể tích tuyến giáp to và thuộc chẩn đoán  
nhân giáp độc. Những yếu tố này ảnh hưởng đến  
hiệu quả đạt được trên những bệnh nhân đã điều trị  
3 - 4 đợt như trên. Liều tích lũy ở những bệnh nhân  
này ngày càng cao đòi hỏi phải điều trị dứt điểm cho  
bệnh nhân nhằm đưa họ về chất lượng cuộc sống  
tốt hơn. Thêm vào đó, khi tham vấn điều trị cho  
những bệnh nhân này, chúng tôi cũng đưa ra lựa  
chọn phẫu thuật nhằm giúp bệnh nhân đạt được  
thành công điều trị nhanh hơn. Tuy nhiên, các bệnh  
nhân thất bại này vẫn còn đang trong thời gian theo  
dõi kể từ đợt điều trị cuối cùng. Cần đánh giá nhiều  
khía cạnh hơn nữa nhằm đưa ra phương án tối ưu.  
KẾT LUẬN  
Điều trị nhiễm độc giáp với I131 là một phương  
pháp tiếp cận điều trị đầu tay, đạt được thành công  
khả quan. Tuy nhiên, hiệu quả sau lần điều trị đầu  
tiên còn khá thấp, cần nhiều đợt để nâng tỉ lệ thành  
công lên cao hơn. Cần có sự thay đổi trong chiến  
lược điều trị bệnh cảnh bằng việc tăng liều điều trị  
đầu tiên hướng đến chất lượng cuộc sống tốt hơn và  
rút ngắn thời gian điều trị của bệnh nhân.  
Ngoài ra, khi phân tích sâu hơn về nhóm bệnh  
nhân đã đạt được thành công trong điều trị, trong số  
53 bệnh nhân, chúng tôi nhận thấy nhóm bệnh nhân  
này có trọng lượng tuyến giáp đạt 45,84g, cao hơn  
trung bình của dân số nghiên cứu 37,64 ± 15,743g  
và tổng liều điều trị trung bình là 13,83mCi cao hơn  
đáng kể so với liều trung bình sau 01 đợt điều trị là  
9,13 ± 3,778mCi. Với số lần điều trị trung bình là  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Douglas S. Ross, Henry B. Burch, David S.  
Cooper, M. Carol Greenlee, Peter Laurberg, Ana  
Luiza Maia, Scott A. Rivkees, Mary Samuels,  
52  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Julie  
Ann  
Sosa,  
4. Vishnu Sundaresh, Juan P. Brito, Prabin Thapa,  
Rebecca S. Bahn, and Marius N. Stan,  
Comparative Effectiveness of Treatment Choices  
for Grave’s Hyperthyroidism: historical Cohort  
Study, THYROID, Volume 27, Number 4, 2017.  
Marius N. Stan, and Martin A. Walter, 2016  
American Thyroid Association Guidelines for  
Diagnosis and Management of Hyperthyroidism  
and Other Causes of Thyrotoxicosis  
2. Mai Trọng Khoa, Asia and Oceania Federation of  
Nuclear Medicine and Biology, Beijing (China);  
246 p; 2004; p. 124; 8. Asia Oceania Congress  
of nuclear medicine and biology; Beijing (China);  
9-13 Oct 2004.  
5. Y Khalid, DM Barton, V Baskar, H Kumar P.  
Jones, T E T West, and H N Buch, Efficacy of  
Fixed High Dose Radioiodine Therapy for  
Hyperthyroidism – a 14 - year Experience: A  
focus on Influence of Pre-treatment Factors on  
Outcomes,  
British  
Journal  
of  
Medical  
3. Ka Kit Wong, Barry L. Shulkin, Milton D. Gross  
and Anca M. Avram, Efficacy of radioactive  
iodine treatment of graves’ hyperthyroidism  
using a single calculated I131 dose.  
Practitioners, September 2011, Volume 4,  
Number 3.  
53  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ABSTRACT  
The efficiency of the hyperthyroidism treatment with radioactive iodine at  
Ho Chi Minh City Oncology Hospital in 2019  
Introduction: Hyperthyroidism is a disease that affects the health and quality of life of the patient with  
many serious complications. The main treatments include anti-thyroid drugs, surgery, and radioactive iodine.  
Radioactive iodine I131 has been potential in the treatment of hyperthyroidism.  
Objectives: This study aims to determine the rate of treatment success, the rate of hyperthyroidism that  
persists after radiotherapy, and the rate of need for re-treatment after the first dose and described the features  
of patients who had successful treatment.  
Subjects and methods: All hyperthyroid patients being treated in the Nuclear Medicine department, have  
been on radioactive iodine treatment and monitored for at least 3 months after treatment to evaluate  
effectiveness. Data processing with SPSS 25.0 software and MS excel.  
Results: This study enrolled a total of 89 eligible patients with 73 female patients (82%) and 16 male  
patients (18%). Of these, 69 patients (77.53%) were diagnosed as Basedow and 20 patients (22.47%) were  
diagnosed with thyroid toxic adenoma. The mean dose of I131 used for the first treatment was 9.13mCi  
(± 3,778). The success rate after the first I131 treatment was 30.3%. The numbers of patients receiving second,  
third, and fourth radioactive iodine treatment were 30, 5, and 5 respectively. The rate of successful treatment in  
2019 reached 59.55%. The success rate continued to increase as the patient receives further treatment. In the  
group of patients treated successfully, the mean dose of I131 was 13.83mCi and the average number of  
treatments was 1.64 times.  
Conclusion: There is a need for a change in the treatment strategy, targeting higher current doses of I131  
to increase success rates and shorten treatment duration to ensure a better quality of life for patients.  
Keywords: Thyrotoxicosis, radioactive iodine, Ho Chi Minh City.  
54  
pdf 7 trang yennguyen 22320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả điều trị cường giáp bằng IOD phóng xạ tại khoa y học hạt nhân Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_dieu_tri_cuong_giap_bang_iod_phong_xa_tai_khoa_y_ho.pdf