Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
BÁO CÁO TÓM TẮT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA HÀNH VI  
ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN ĐẾN TÍNH THÔNG TIN CỦA  
GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Mã số: B2017-DDN4-05  
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phan Thị Đỗ Quyên  
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2019  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
DA  
Biến dồn tích tùy ý  
Điều chỉnh lợi nhuận  
Độ lệch chuẩn  
ĐCLN  
ĐLC  
GTTB  
NDA  
Non_syn/Ivol  
SL  
Giá trị trung bình  
Biến dồn tích không tùy ý  
Tính thông tin của giá cổ phiếu  
Số lượng  
TP  
Thành phố  
1
MỞ ĐẦU  
 . T nh cấp thi t của đề tài  
Giá cổ phiếu chịu tác động của cả thông tin vĩ mô và thông  
tin đặc thù công ty. Thông tin vĩ mô ảnh hưởng đến toàn bộ cổ phiếu  
trên thị trường, trong khi đó thông tin đặc thù công ty chỉ ảnh hưởng  
đến biến động giá cổ phiếu của công ty. Tính thông tin của giá cổ  
phiếu được hiểu là lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá  
trị được chứa đựng trong giá cổ phiếu. Tính thông tin của giá cổ  
phiếu cao hàm ý rằng giá cổ phiếu chứa đựng nhiều thông tin đặc thù  
công ty và ít thông tin vĩ mô của thị trường. Các nghiên cứu trên thế  
giới đã chứng minh rằng vốn và các nguồn lực khác được phân bổ  
hiệu quả hơn trong nền kinh tế khi giá cổ phiếu mang tính thông tin  
cao (Wurgler, 2000; Durnev, Morck & Yeung, 2004). Bên cạnh đó,  
tính thông tin của giá cổ phiếu là chỉ dấu giúp các nhà quản trị nhận  
biết phản ứng của thị trường về những quyết định của nhà quản trị,  
và do vậy giúp họ đưa ra những quyết định quản trị tốt hơn nhằm  
hướng đến làm tăng giá trị công ty (Durnev, Morck & Yeung, 2004;  
Chen, Goldstein & Jiang, 2007). Tính thông tin của giá cổ phiếu cho  
phép nhà đầu tư trên thị trường nhận diện chất lượng các quyết định  
của những nhà quản trị công ty và lựa chọn công ty cho mục đích  
đầu tư (Durnev, Morck & Yeung, 2004; Chen, Goldstein & Jiang,  
2007) từ đó xây dựng và quản lý có hiệu quả danh mục đầu tư. Có  
thể thấy, việc cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu ngày càng trở  
nên cấp thiết vì có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan quản lý Nhà  
nước, nhà quản trị cũng như nhà đầu tư.  
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng các  
đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập báo cáo tài chính và  
trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo  
tài chính nhằm làm cho các bên có liên quan đánh giá không chính  
xác về hiệu quả kinh tế hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả của các  
hợp đồng dựa trên số liệu kế toán báo cáo (Healy & Wahlen, 1999).  
Nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy rằng hành vi  
2
điều chỉnh lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến môi trường thông tin  
doanh nghiệp, cụ thể ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng thông  
tin. Do vậy, hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một trong những nhân tố  
có thể ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu (Jin & Myers,  
2006; Fernandes & Ferreira, 2009; Hutton, Marcus & Tehranian,  
2009; Brockman & Schutte, 2010; Kim & Shi, 2012). Nghiên cứu  
này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến  
tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở Giao  
dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Trước hết, về mặt lý  
luận, kết quả thực nghiệm làm rõ thêm mối quan hệ giữa hành vi  
điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu cho một quốc  
gia cụ thể như Việt Nam và có thể sử dụng cho việc nghiên cứu có  
liên quan. Thứ hai, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp  
những hàm ý chính sách đối với nhà đầu tư, các nhà quản trị công ty  
và các cơ quan quản lý Nhà nước.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Đánh giá tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính  
thông tin của giá cổ phiếu của của các công ty niêm yết trên HOSE.  
3. Câu hỏi nghiên cứu  
Mức độ điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên  
HOSE có ảnh hưởng như thế nào đến tính thông tin của giá cổ phiếu?  
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
+ Tính thông tin của giá cổ phiếu và hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
của các công ty niêm yết trên HOSE.  
+ Ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông  
tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên HOSE.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
+ Phạm vi không gian và thời gian: Đề tài nghiên cứu trên dữ  
liệu thu thập được của các công ty niêm yết trên HOSE (không bao  
gồm các ngân hàng) trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2014.  
+ Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng  
của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu  
của các công ty niêm yết trên HOSE, không phân tích cơ chế thông  
3
qua đó hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể tác động, nếu có, đến tính  
thông tin của giá cổ phiếu.  
5. Cách ti p cận và phƣơng pháp nghiên cứu  
5.1. Cách tiếp cận  
Tác giả sử dụng cách tiếp cận của Morck, Yeung & Yu  
(2000) và Jin & Myers (2006) để đo lường tính thông tin của giá cổ  
phiếu; sử dụng mô hình Jones điều chỉnh của Dechow, Sloan &  
Sweeney (1995) để ước lượng hành vi điều chỉnh lợi nhuận; và các  
nghiên cứu của Chan & Hameed (2006), Dang, Moshirian & Zhang  
(2015), Fernandes & Ferreira (2008), Piotroski & Roulstone (2004)  
để xác định các biến kiểm soát phù hợp cho mô hình.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
Để phân tích ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến  
tính thông tin của giá cổ phiếu, đề tài sử dụng phương pháp hồi quy  
gộp dữ liệu bảng. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng sai số chuẩn robust  
để giải quyết hiện tượng phương sai không đồng nhất và ước lượng  
sai số chuẩn theo cụm mỗi công ty để giải quyết vấn đề tự tương  
quan khi tính giá trị thống kê t (Petersen, 2009). Ngoài ra, tác giả sử  
dụng thêm một số kỹ thuật định lượng để giải quyết các vấn đề nội  
sinh trong mô hình hồi quy dữ liệu bảng nhằm khẳng định độ tin cậy  
của kết quả.  
6. Đóng góp của đề tài  
Những đóng góp mới về mặt học thuật:  
Các kết quả đến từ việc phân tích và đánh giá thực nghiệm làm  
rõ thêm mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông  
tin của giá cổ phiếu cho một quốc gia cụ thể như Việt Nam, có thể sử  
dụng cho việc nghiên cứu có liên quan.  
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:  
Kết quả nghiên cứu chính của đề tài về tác động của hành vi  
điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu cung cấp  
những hàm ý chính sách đối với nhà đầu tư, các nhà quản trị công ty  
và các cơ quan quản lý Nhà nước.  
8. K t cấu của đề tài  
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về ảnh  
4
hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ  
phiếu  
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu  
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Chương 4: Khuyến nghị đối với các bên liên quan  
CHƢƠNG   
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI  
QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN VÀ  
TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU  
1.1. Tổng quan về t nh thông tin của giá cổ phi u  
1.1.1. Khái niệm về tính thông tin của giá cổ phiếu  
Tính thông tin của giá cổ phiếu được hiểu là lượng thông tin  
đặc thù công ty được chứa đựng trong giá cổ phiếu.  
1.1.2. Ý nghĩa của tính thông tin của giá cổ phiếu  
Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng vốn và các  
nguồn lực khác được phân bổ hiệu quả hơn trong nền kinh tế khi giá  
cổ phiếu mang tính thông tin cao (Morck, Yeng & Yu, 2000;  
Durnev, Morck & Yeung, 2004). Tính thông tin của giá cổ phiếu là  
chỉ dấu giúp các nhà quản trị nhận biết phản ứng của thị trường về  
những quyết định của nhà quản trị, do vậy giúp họ đưa ra những  
quyết định quản trị tốt hơn nhằm hướng đến làm tăng giá trị công ty.  
Tính thông tin của giá cổ phiếu cho phép nhà đầu tư trên thị trường  
nhận diện chất lượng các quyết định của những nhà quản trị công ty  
và lựa chọn công ty cho mục đích đầu tư (Durnev, Morck & Yeung,  
2004; Chen, Goldstein & Jiang, 2007).  
1.1.3. Đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu  
Thứ nhất, dựa trên cách tiếp cận của Roll (1988), Morck,  
Yeung & Yu (2000) và Jin & Myers (2006), tính thông tin của giá cổ  
phiếu của mỗi công ty được đo lường cho mỗi năm dựa trên giá trị  
R2 từ hồi quy mô hình thị trường sau:  
ri,t = α + βrM,t + εi,t  
(1)  
ri,t : Tỷ suất lợi tức của cổ phiếu i tại tuần t của mỗi năm.  
rM,t : Tỷ suất lợi tức của danh mục thị trường tại tuần t của mỗi năm.  
5
R2 từ mô hình (1) là giá trị đo lường mức độ biến động của tỷ  
suất lợi tức cổ phiếu i (ri) được gây ra bởi biến động chung của thị  
trường (rM). Bởi vì giá trị R2 bị giới hạn giữa 0 và 1, R2 được biến  
đổi logarit để đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu như sau:  
Non_syni = log((1- R2)/R2)  
(2)  
Non_syni : tính thông tin của giá cổ phiếu của công ty i  
Thứ hai, đo lường tuyệt đối của tính thông tin của giá cổ phiếu  
được xác định dựa trên phần dư εi,t của mô hình (1) theo cách tiếp  
cận của Brockman & Yan (2009).  
Thứ ba, đo lường tiếp theo của tính thông tin giá cổ phiếu dựa  
trên xác suất giao dịch dựa trên thông tin PIN (probability of  
informed trading) (Easley, Hvidkjaer & O’Hara, 2002; Chen,  
Goldstein & Jiang, 2007; Brockman & Yan, 2009; Ferreira, Ferreira  
& Raposo, 2011).  
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu  
1.1.4.1. Các nhân tố vĩ mô  
Morck, Yeung & Yu (2000) là một trong những nghiên cứu  
đầu tiên đưa ra quan điểm về ảnh hưởng của môi trường thể chế  
quốc gia đến tính thông tin của giá cổ phiếu cho thấy giá cổ phiếu có  
tính thông tin thấp ở các nước đang phát triển, ở những nước có môi  
trường thể chế yếu hoặc thiếu sự bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư so  
với các nước phát triển. Jin & Myers (2006) cho rằng sự thiếu minh  
bạch thông tin kết hợp với sự yếu kém trong việc bảo vệ quyền lợi  
nhà đầu tư làm cho tính thông tin của giá cổ phiếu thấp hơn. Li và  
cộng sự (2004) thấy rằng tính thông tin của giá cổ phiếu thấp ở các  
nước có sự hội nhập thấp về mặt kinh tế tài chính vào nền kinh tế thế  
giới. Fernandes & Ferreira (2009) đánh giá tác động của việc thực thi  
luật giao dịch nội gián đến tính thông tin của giá cổ phiếu.  
Brockman, Liebenberg & Schutte (2010) thấy rằng tính thông tin của  
giá cổ phiếu giảm trong thời kì suy thoái kinh tế và tăng khi kinh tế  
phát triển. Eun, Wang & Xiao (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của văn  
hóa quốc gia đến tính thông tin của giá cổ cho thấy rằng giá cổ phiếu  
mang tính thông tin thấp ở những nước có nhiều ràng buộc khắt khe  
về văn hóa và ở những nước đề cao chủ nghĩa tập thể.  
6
1.1.4.2. Các nhân tố vi mô  
Piotroski & Roustone (2004) kiểm định tác động của các  
chuyên gia phân tích tài chính và hành vi giao dịch của cổ đông  
nội bộ. Fernades & Ferreira (2008) cho thấy việc niêm yết cổ phiếu  
của công ty ra nước ngoài có tác động khác nhau đến tính thông tin  
của giá cổ phiếu. Brockman & Yan (2009) thấy rằng cổ đông lớn  
giúp cải thiện vấn đề quản trị công ty và gia tăng chất lượng của  
thông tin được công bố ra công chúng, dẫn đến tính thông tin của cổ  
phiếu cao. An & Zhang (2013) cung cấp bằng chứng cho thấy tính  
thông tin của giá cổ phiếu có quan hệ thuận với sở hữu cổ đông lớn  
là nhà đầu tư tổ chức. Nghiên cứu của Gul, Cheng & Leung (2011)  
phản ánh mối quan hệ giữa tiền thưởng và tính thông tin của giá cổ  
phiếu tại thị trường Trung Quốc. Kim & Shi (2012) thấy rằng cổ  
phiếu của những công ty áp dụng các chuẩn mực IFRS mang tính  
thông tin cao. Haggard, Martin & Pereira (2008) cung cấp bằng  
chứng cho thấy việc tăng cường công bố thông tin tự nguyện làm  
tăng tính thông tin của giá cổ phiếu.  
 .2. Tổng quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
1.2.1. Định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
"Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng các  
đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập báo cáo tài chính và  
trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo  
tài chính nhằm làm cho các bên có liên quan đánh giá không chính  
xác về hiệu quả kinh tế hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả của các  
hợp đồng dựa trên số liệu kế toán báo cáo". (Healy & Wahlen, 1999)  
1.2.2. Động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy các động cơ sau thúc đẩy  
nhà quản trị thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận: (1) thu nhập của  
nhà quản trị; (2) thu hút tài trợ bên ngoài; (3) tránh vi phạm hợp  
đồng; (4) giảm chi phí chính trị.  
1.2.3. Các lý thuyết giải thích cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
1.2.3.1. Lý thuyết thông tin bất đối xứng  
1.2.3.2. Lý thuyết đại diện  
1.2.3.3. Lý thuyết kế toán thực chứng  
7
1.2.4. Cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện dựa trên hai cơ  
sở bao gồm điều chỉnh lợi nhuận dựa trên kế toán theo cơ sở dồn tích  
và điều chỉnh lợi nhuận thông qua điều chỉnh giao dịch thực.  
1.2.5. Các khuynh hướng và kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận  
1.2.5.1. Các khuynh hướng điều chỉnh lợi nhuận  
Việc điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp có thể được thực  
hiện theo ba khuynh hướng sau: điều chỉnh tăng lợi nhuận, điều  
chỉnh giảm lợi nhuận, hoặc điều chỉnh bình ổn lợi nhuận.  
1.2.5.2. Kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận  
a. Phân loại kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận  
+ Điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán  
+ Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thực hiện các ước tính kế toán  
+ Điều chỉnh lợi nhuận thông qua quyết định thời điểm thực  
hiện nghiệp vụ kinh tế  
+ Điều chỉnh lợi nhuận thông qua hành vi vận dụng sai các  
quy định kế toán.  
b. Nội dung các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận  
b1. Điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán  
+ Phương pháp ghi nhận doanh thu:  
+ Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho:  
+ Phương pháp tính giá trị sản phẩm dở dang:  
+ Phương pháp khấu hao tài sản cố định:  
+ Vốn hoá hay ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong  
kì đối với chi phí triển khai:  
+ Tiêu chí phân loại tài sản thuê thành thuê tài chính hoặc thuê  
hoạt động  
+ Phương pháp kế toán chi phí lãi vay:  
b2. Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thực hiện các ước tính kế toán  
+ Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp  
vụ phát sinh:  
+ Ước tính kế toán mỗi kì được thực hiện vào cuối mỗi kì kế toán:  
b3. Điều chỉnh lợi nhuận thông qua quyết định thời điểm thực hiện  
nghiệp vụ kinh tế  
8
1.2.6. Các mô hình biến dồn tích đo lường hành vi điều chỉnh lợi  
nhuận  
1.2.6.1. Cơ sở của các mô hình biến dồn tích đo lường hành vi điều  
chỉnh lợi nhuận  
Biến dồn tích là phần chênh lệch giữa lợi nhuận sau thuế với  
dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Biến dồn tích bao gồm hai phần:  
phần không thể điều chỉnh (phần biến dồn tích không tuỳ ý - NDA);  
phần còn lại có thể điều chỉnh (biến dồn tích tuỳ ý -DA).  
1.2.6.2. Các mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
* Mô hình của Healy  
* Mô hình DeAngelo  
* Mô hình Jones  
* Mô hình Jones điều chỉnh (Modified Jones Model)  
*Môhìnhperformancematched(môhìnhJonesđiềuchỉnhvớiROA)  
* Mô hình Raman & Sharur (2008)  
* Mô hình chất lượng biến dồn tích của Dechow và Dichev  
* Mô hình của McNichols  
* Mô hình của Dechow và cộng sự (2012)  
 .3. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của hành vi điều chỉnh lợi  
nhuận đ n t nh thông tin của giá cổ phi u  
Các nghiên cứu cung cấp minh chứng cho thấy mức độ điều  
chỉnh lợi nhuận càng tăng thì tính thông tin của giá cổ phiếu càng  
giảm. Hutton, Marcus & Tehrannian (2009) cho thấy sự thiếu minh  
bạch trong báo cáo tài chính sẽ làm giảm tính thông tin của giá cổ  
phiếu. Tương tự, Jing (2007) cho rằng tính thông tin của giá cổ phiếu  
có quan hệ tỷ lệ thuận với chất lượng lợi nhuận. Nghiên cứu của  
Johston (2009) đã kiểm định mối quan hệ giữa chất lượng biến dồn  
tích và tính thông tin của giá cổ phiếu cho thấy chất lượng biến dồn  
tích càng cao thì tính thông tin của giá cổ phiếu càng cao.  
 .4. K t luận chung về các công trình nghiên cứu thực nghiệm về  
t nh thông tin của giá cổ phi u & khoảng trống nghiên cứu  
Sự khác nhau về môi trường thể chế, sự bảo vệ quyền lợi của  
nhà đầu tư, môi trường thông tin, cơ chế quản trị công ty giữa các  
quốc gia có thể dẫn đến quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và  
9
tính thông tin của giá cổ phiếu cũng khác nhau, và thậm chí có thể  
không tồn tại, trên các quốc gia khác nhau. Vì vậy, đây là khoảng  
trống nghiên cứu mà đề tài cần thực hiện để bổ sung cơ sở lý thuyết  
cũng như bằng chứngthực nghiệmvề vấn đề này tại Việt Nam.  
 .5. K t luận  
CHƢƠNG 2  
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU  
2. . Giả thuy t về ảnh hƣởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
đ n t nh thông tin của giá cổ phi u  
Mức độ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị càng lớn thì  
tính thông tin của giá cổ phiếu càng thấp.  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
Infori,t = γ + δDAi,t+ ηControlsi,t + ζi,t  
Infori: Tính thông tin giá cổ phiếu của công ty i  
DAi: Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được đo lường bằng giá trị  
tuyệt đối của biến dồn tích tùy ý  
Controlsi: Các biến kiểm soát đặc thù công ty  
ζi,t: sai số ước tính của mô hình  
2.3. Đo lƣờng các bi n nghiên cứu  
2.3.1. Tính thông tin của giá cổ phiếu  
Tác giả dựa trên phương pháp của các nghiên cứu như Roll  
(1988), Morck, Yeung & Yu (2000) và Jin & Myers (2006) để đo  
lường tính thông tin của giá cổ phiếu của mỗi công ty cho mỗi năm.  
Cụ thể, tác giả sử dụng giá trị R2 từ hồi quy mô hình thị trường:  
ri,t = α + βrM,t + εi,t  
Tính thông tin của giá cổ phiếu: Non_syni = log((1- R2)/R2)  
Ivol = Std(εi,t)  
2.3.2. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
Đề tài vận dụng mô hình định lượng biến dồn tích Jones điều  
chỉnh (Dechow, Sloan & Sweeney, 1995) để đo lường hành vi điều  
chỉnh lợi nhuận là biến độc lập trong mô hình nghiên cứu.  
NDAit/ Ait-1 = α1(1/Ait-1) + α2((ΔREVit - ΔRECit) /Ait-1) + α3(PPEit/Ait-1)  
NDAit : biến dồn tích không tuỳ ý năm sự kiện t của công ty i  
Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t-1 của công ty i  
10  
ΔREVit = Doanh thu thuầnit - Doanh thu thuầnit-1  
ΔRECit: Phải thu khách hàng thuầnit - Phải thu khách hàng thuầnit-1  
PPEit : Nguyên giá ở thời điểm cuối năm t của TCSĐ hữu hình,  
TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư  
α1 α2 α3 : các tham số của từng công ty  
2.3.3. Biến kiểm soát  
Các biến kiểm soát đặc thù công ty được xác định dựa trên các  
nghiên cứu trước đây như Piotroski & Roulstone (2004), Chan &  
Hameed (2006), Fernandes & Ferreira (2008), Dang, Moshirian &  
Zhang (2015).  
+ Quy mô công ty (MV) được xác định bằng logarit tự nhiên của  
giá trị vốn hóa thị trường của công ty, trong đó giá trị vốn hóa thị trường  
được tính bằng giá thị trường của toàn bộ số cổ phiếu phổ thông đang lưu  
hành của công ty vào thời điểm cuối năm của năm được tính.  
+ Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ sách của cổ phiếu (MB)  
được xác định bằng logarit tự nhiên của tỷ số giá thị trường trên giá  
trịsổsáchcủacổphiếucôngtyvàothờiđiểmcuốinămcủanămđượctính.  
+ Đòn bẩy (LEV) được xác định bằng tỷ lệ nợ dài hạn trên  
tổng tài sản của công ty vào thời điểm cuối năm của năm được tính.  
+ Lợi nhuận trên tổng tài sản của công ty (ROA) được xác  
định bằng tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản của công ty vào thời điểm  
cuối năm của năm được tính.  
+ Tính bất ổn định của lợi tức cổ phiếu (StdRet) được xác định  
bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức tuần của cổ phiếu trong năm  
đang được tính.  
+ Lợi tức năm của cổ phiếu (Ret12) được xác định bằng chênh  
lệch giá cổ phiếu vào ngày giao dịch cuối cùng của năm đang được  
tính so với giá cổ phiếu vào ngày giao dịch cuối cùng của năm trước  
chia cho giá cổ phiếu vào ngày giao dịch cuối cùng của năm trước.  
2.4. Dữ liệu nghiên cứu  
Dữ liệu nghiên cứu là các thông tin trên báo cáo tài chính và  
dữ liệu giá cổ phiếu của toàn bộ các công ty niêm yết trên HOSE  
trong khoảng thời gian 2007-2014. Dữ liệu nghiên cứu không bao  
gồm các ngân hàng. Dữ liệu được cung cấp bởi StoxPlus, một công  
11  
ty chuyên thu thập và phân tích dữ liệu tài chính của các công ty ở  
Việt Nam.  
2.5. Xử lý dữ liệu nghiên cứu  
Để phân tích ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến  
tính thông tin của giá cổ phiếu, đề tài sử dụng phương pháp hồi quy  
gộp dữ liệu bảng. Tác giả sử dụng sai số chuẩn robust để giải quyết  
hiện tượng phương sai không đồng nhất và ước lượng sai số chuẩn  
theo cụm mỗi công ty để giải quyết vấn đề tự tương quan khi tính giá  
trị thống kê t như phương pháp của Petersen (2009). Để phân tích  
thêm về tính bền vững của kết quả, tác giả giải quyết các vấn đề nội  
sinh như sau:  
+ Thứ nhất, để hạn chế tác động theo chiều ngược lại từ tính  
thông tin của giá cổ phiếu đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, tác giả kiểm  
soát thêm biến trễ độc lập; biến trễ tính thông tin của giá cổ phiếu trong  
mô hình hồi quy.  
+ Thứ hai, tác giả kiểm soát thêm ảnh hưởng cố định công ty  
vào mô hình hồi quy.  
2.6. K t luận  
CHƢƠNG 3  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3. . K t quả đo lƣờng t nh thông tin của giá cổ phi u của các  
công ty niêm y t trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM giai  
đoạn 2007-2014  
3.1.1. Đặc trưng về tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty  
niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2007-  
2014  
Tính thông tin giá cổ phiếu trung bình là 1,990 trong khoảng  
thời gian mẫu được đo lường bằng giá trị biến đổi logistic của R2  
(Non_syni), và 0,055 như được đo lường bằng độ lệch chuẩn của  
phần dư εi,t của mô hình (1) (kí hiệu IVol).  
3.1.2. Phân tích biến động tính thông tin của giá cổ phiếu của các  
công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM giai  
đoạn 2007-2014  
Nhìn chung, tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty  
12  
niêm yết trên HOSE khi đo lường bằng Non_syn có xu hướng tăng  
trong giai đoạn nghiên cứu 2007-2014. Có thể thấy, xu hướng của  
tính thông tin giá cổ phiếu đo lường bằng Non_syn có nhiều biến  
động hơn so với Ivol. Xu hướng biến động của biến Ivol hầu như  
không có những thay đổi đáng kể qua các năm. Bảng 3.3 cho thấy  
ngành chăm sóc sức khỏe có tính thông tin của giá cổ phiếu cao nhất.  
Trong khi đó, ngành Dầu và gas có tính thông tin của giá cổ phiếu thấp  
nhất trong các ngành của giai đoạn nghiên cứu.  
3.2. K t quả đo lƣờng hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công  
ty niêm y t trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn  
2007-2014  
3.2.1. Đặc trưng về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty  
niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2007-  
2014  
Bảng 3.5 trình bày phân vị cho biến dồn tích tùy ý DA cho  
thấy nhìn chung, các công ty niêm yết trên HOSE có thực hiện hành  
vi điều chỉnh lợi nhuận trong giai đoạn nghiên cứu từ 2007 đến 2014.  
3.2.2. Phân tích biến động hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các  
công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM giai  
đoạn 2007 - 2014  
Xét trên toàn bộ thị trường, điều chỉnh tăng lợi nhuận là xu  
hướng chủ đạo của các công ty niêm yết. Tuy nhiên, có thể thấy, mức  
độ điều chỉnh lợi nhuận có xu hướng giảm. Tương đồng với xu hướng  
chung của toàn bộ thị trường, việc điều chỉnh tăng lợi nhuận chiếm ưu  
thế đối với hầu hết các ngành nghiên cứu từ năm 2007 đến 2014, Bên  
cạnh đó, mức độ điều chỉnh lợi nhuận của cả hai nhóm công ty điều  
chỉnh tăng lợi nhuận và nhóm công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận đều  
có xu hướng giảm đối với tất cả các ngành trong giai đoạn nghiên cứu.  
3.3. Kiểm định ảnh hƣởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đ n  
t nh thông tin của giá cổ phi u của các công ty niêm y t trên Sở  
Giao dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2007 - 2014  
3.3.1. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu của mô hình kiểm định  
ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin  
của giá cổ phiếu  
13  
3.3.1.1. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong mô hình  
Tính thông tin của giá cổ phiếu trung bình của các công ty là  
1,780 trong khoảng thời gian mẫu như được đo lường bằng giá trị  
biến đổi logistic của R2 (Non_syn) và 0,049 như được đo lường bằng  
giá trị độ lệch chuẩn của εi,t từ hồi quy mô hình thị trường. Trung  
bình, mức độ điều chỉnh lợi nhuận khoảng 14,9% trên tổng giá trị tài  
sản cho thấy các công ty niêm yết trên HOSE có thực hiện hành vi  
ĐCLN trong giai đoạn nghiên cứu 2007-2014.  
3.3.1.2. Ma trận hệ số tương quan của các biến nghiên cứu  
Biến hành vi ĐCLN có tương quan âm với biến tính thông tin  
của giá cổ phiếu Non_syn (hệ số tương quan cặp -0,100). Nhìn  
chung, tương quan giữa các biến độc lập là ở mức độ thấp, do đó loại  
bỏ khả năng xảy ra đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy.  
3.3.2. Ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông  
tin của giá cổ phiếu  
Kết quả cho thấy rằng biến hành vi ĐCLN có ảnh hưởng âm  
và có ý nghĩa thống kê đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Ảnh  
hưởng là nhất quán trên cả hai đo lường Non_syn và Ivol. Cụ thể,  
ước lượng hệ số của biến hành vi ĐCLN là -0,865 (t-statistic= -4,53)  
với mức ý nghĩa 1% đối với đo lường Non_syn, và -0,002 (t-  
statistic= -1,73) với mức ý nghĩa 10% đối với đo lường Ivol.  
3.3.3. Kiểm định sự bền vữngcủa kết quả nghiên cứu  
Thứ nhất, khả năng tác động ngược chiều của tính thông tin của  
giá cổ phiếu đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị vẫn có  
thể tồn tại. Để giải quyết vấn đề này, tác giả kiểm soát thêm biến trễ  
độc lập và biến trễ phụ thuộc tính thông tin của giá cổ phiếu trong  
mô hình hồi quy. Bảng 3.11 và 3.12 trình bày kết quả cho thấy ước  
lượng hệ số trên biến dồn tích tùy ý vẫn không thay đổi về mặt định  
tính và giá trị hệ số vẫn có ý nghĩa thống kê.  
Thứ hai, kết quả hồi quy Bảng 3.13 cho thấy, phân tích thêm  
với ảnh hưởng cố định công ty vẫn cho kết quả với dấu nhất quán với  
các phân tích ở phần trên và có ý nghĩa thống kê.  
Tóm lại, phân tích thêm về tính bền vững của kết quả nghiên  
cứu cho thấy độ tin cậy về tác động ngược chiều của hành vi điều  
14  
chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu và cơ bản quan  
hệ giữa này không chịu ảnh hưởng của vấn đề nội sinh.  
3.4. K t luận  
CHƢƠNG 4  
KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN  
4.1. Khuy n nghị đối với các nhà đầu tƣ  
Để có được quyết định đầu tư đúng đắn, nhà đầu tư cần có  
kiến thức đầy đủ hơn về báo cáo tài chính, phân tích logic các yếu tố  
cấu thành nên báo cáo tài chính để đánh giá chính xác hơn về chỉ tiêu  
lợi nhuận. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cần được trang bị kiến thức về  
hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị.  
4.2. Khuy n nghị đối với nhà quản trị công ty  
Tăng cường sự minh bạch trong công bố thông tin của các  
công ty niêm yết và hạn chế giao dịch nội gián là một yêu cầu cần  
thiết trong giai đoạn hiện nay.  
4.3. Khuy n nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nƣớc  
Các khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước tập trung  
trên hai phương diện: (1) thứ nhất, gia tăng tính minh bạch của môi  
trường thông tin; (2) thứ hai, tăng cường sự bảo vệ quyền lợi cho nhà  
đầu tư khi tham gia thị trường.  
4.4. K t luận  
KẾT LUẬN  
Về tính thông tin của giá cổ phiếu  
Có thể thấy, tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty  
niêm yết trên HOSE nằm trong phạm vi giá trị của tính thông tin của  
giá cổ phiếu của các nước đang phát triển trong các nghiên cứu trước  
đây trên thế giới (He & cộng sự, 2013). Ngành chăm sóc sức khỏe có  
tính thông tin của giá cổ phiếu cao nhất, trong khi đó, ngành Dầu và  
gas có tính thông tin của giá cổ phiếu thấp nhất trong các ngành của  
giai đoạn nghiên cứu.  
Về hành vi điều chỉnh lợi nhuận  
Nhìn chung, các công ty niêm yết trên HOSE có thực hiện  
hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong giai đoạn nghiên cứu từ 2007 đến  
2014. Xét trên toàn bộ thị trường, điều chỉnh tăng lợi nhuận là xu  
15  
hướng chủ đạo của các công ty niêm yết. Tuy nhiên, có thể thấy,  
mức độ điều chỉnh lợi nhuận có xu hướng giảm. Khi phân tích hành  
vi điều chỉnh lợi nhuận theo cấp độ ngành, việc điều chỉnh tăng lợi  
nhuận chiếm ưu thế đối với hầu hết các ngành nghiên cứu từ năm  
2007 đến 2014. Bên cạnh đó, mức độ điều chỉnh lợi nhuận có xu  
hướng giảm đối với tất cả các ngành trong giai đoạn nghiên cứu.  
Về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến  
tính thông tin của giá cổ phiếu  
Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi điều chỉnh lợi nhuận có  
ảnh hưởng ngược chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả  
này được giải thích dựa trên lý thuyết thông tin bất đối xứng và phù  
hợp với trường hợp của các nước đang phát triển. Điều này đặt ra  
yêu cầu cho các cơ quan Nhà nước cần xem xét những biện pháp  
nhằm tăng cường sự minh bạch của môi trường thông tin và có các  
chính sách hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo  
vệ quyền lợi nhà đầu tư. Bên cạnh đó, đối với các nhà quản trị công  
ty cần có trách nhiệm hơn trong việc cung cấp thông tin minh bạch ra  
thị trường để tạo được niềm tin và uy tín lâu dài đối với các nhà đầu  
tư. Ngoài ra, nhà đầu tư cần nâng cao trình độ đọc, hiểu, phân tích  
báo cáo tài chính doanh nghiệp để có quyết định đầu tư đúng đắn.  
Hạn ch  của đề tài và hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai  
Thứ nhất, khi đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận, nghiên  
cứu chỉ sử dụng mô hình định lượng biến dồn tích. Trong khi đó, các  
nghiên cứu trước đây trên thế giới đã sử dụng các đo lường khác  
(Leuz, Nanda & Wysocki, 2003). Thứ hai, tác động ngược lại từ tính  
thông tin của giá cổ phiếu đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận vẫn có  
thể tồn tại. Thứ ba, đề tài chưa phân tích cơ chế thông qua đó hành vi  
điều chỉnh lợi nhuận có thể tác động đến tính thông tin của giá cổ  
phiếu. Thứ tư, dữ liệu nghiên cứu chỉ giới hạn từ 2007-2014.  
Trong tương lai, các nghiên cứu sau này có thể sử dụng các  
cách đo lường khác nhau của tính thông tin của giá cổ phiếu và hành  
vi điều chỉnh lợi nhuận khi dữ liệu Việt Nam cho phép. Bên cạnh đó,  
về mặt phương pháp, các nghiên cứu có thể tìm hiểu và sử dụng biến  
công cụ phù hợp để giải quyết triệt để vấn đề nội sinh của mô hình  
16  
hồi quy dữ liệu bảng. Ngoài ra, về nội dung, có thể mở rộng phạm vi  
nghiên cứu thêm về hệ quả của tính thông tin của giá cổ phiếu đến  
chi phí vốn của doanh nghiệp hoặc nghiên cứu sự kiện về ảnh hưởng  
của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu  
trước và sau khi áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 21 trang yennguyen 13100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_nghien_cuu_anh_huong_cua_hanh_vi_dieu.pdf