Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu tổng hợp hợp chất dẫn điện từ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
BÁO CÁO TÓM TẮT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP HỢP CHẤT DẪN ĐIỆN TỪ  
TETRACYANOQUINONDIMETAN (TCNQ)  
Mã số: Đ2014-03-63  
Chủ nhiệm đề tài: Ths Trần Đức Mạnh  
Đà Nẵng, Tháng 11 Năm 2014  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
BÁO CÁO TÓM TẮT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP HỢP CHẤT DẪN ĐIỆN TỪ  
TETRACYANOQUINONDIMETAN (TCNQ)  
Mã số: Đ2014-03-63  
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài  
Chủ nhiệm đề tài  
Đà Nẵng, Tháng 11 Năm 2014  
DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU  
ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP THỰC HIỆN  
Chủ nhiệm đề tài: Ths Trần Đức Mạnh  
Những người tham gia:  
TS Vũ Thị Duyên  
Ths Võ Thắng Nguyên  
Đơn vị phối hợp chính:  
Khoa Hóa, trường Đại học Monash - Australia  
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Thông tin chung:  
- Tên đề tài: Nghiên cứu tổng hợp hợp chất dẫn điện từ  
tetracyanoquinondimetan (TCNQ)  
- Mã số: Đ2014-03-63  
- Chủ nhiệm: Ths Trần Đức Mạnh  
Điện thoại cơ quan: 05113.833327, Di động:  
- Thành viên tham gia: TS Vũ Thị Duyên, Ths Võ Thắng Nguyên  
- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng  
Địa chỉ: Số 459 Tôn Đức Thắng, thành phố Đà Nẵng  
Điện thoại: 05113. 841323, Email: [email protected]  
- Thời gian thực hiện: 12 tháng, từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 12  
năm 2014  
2. Mục tiêu:  
Đưa ra những phương pháp tổng hợp hóa học và điện hóa để tổng  
hợp những hợp chất từ tetracyanoquinodimetan (TCNQ) với cation kim  
loại chuyển tiếp như; Cu, Ag+, và aminoaxit Proline  
Nghiên cứu cấu trúc của hợp chất mới tạo thành  
Đánh giá các tính chất hóa lý như: khả năng dẫn điện, tính oxi hoá  
khử của những hợp chất mới và ứng dụng của nó.  
3. Tính mới và sáng tạo:  
- Đưa ra các phương pháp hóa học và điện hóa để tổng hợp một số  
hợp chất từ kim loại và amino axit với tetracyanoquinodimetan (TCNQ)  
- Đóng góp thêm các thông tin khoa học về các hợp chât tạo thành  
từ TCNQ.  
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về TCNQ.  
4. Tóm tắt kết quả nghiên cứu:  
1, AgTCNQ có thể được tổng hợp ở hai hình dạng và màu sắc tinh thể khác  
nhau. Tuy nhiên cấu trúc tinh thể và tính chất phổ của hai trạng thái là  
giống nhau, do đó có khả năng chúng là một pha. Quá trình khử của  
TCNQ(MeCN) trong Ag+  
trên điện cực làm việc GC, Pt và ITO, tạo  
(MeCN)  
thành tinh thể AgTCNQ hình thái học giống nhau. Tại giá trị thế thấp nhất  
có thể, nồng độ TCNQ.- tại bề mặt điện cực là thấp, tinh thể màu đỏ được  
hình thành trên bề mặt điện cực. Sau thời gian dài hơn và thế âm hơn, nồng  
độ TCNQ.- tại bề mặt điện cực cao sẽ tạo điều kiện cho việc tạo tinh thể  
nhỏ hơn một cách nhanh hơn thông qua quá trình khử Ag+[(TCNQ.-  
)(TCNQ)](MeCN). Điều này dẫn đến sự tạo màng mỏng vi tinh thể màu xanh  
AgTCNQ trên các tinh thể hình kim màu đỏ. Tại thế âm hơn nữa, các mầm  
kim loại Ag sẽ hạn chế sự phát triển của AgTCNQ. Sự ảnh hưởng của nồng  
độ TCNQ.-  
vào hình thái của vật liệu kết tinh điện hóa có thể liên  
(MeCN)  
quan đến phương pháp tổng hợp hóa học, khi nồng độ của Ag+  
và  
(MeCN)  
TCNQ.-  
là thấp thì sản phẩm là các tinh thể AgTCNQ hình kim màu  
(MeCN)  
đỏ cũng giống như trong trường hợp kim loại Ag ở trong dung dịch  
TCNQ(MeCN) và khi vi tinh thể AgTCNQ màu xanh được đun hồi lưu trong  
MeCN. Ngược lại, nếu hỗn hợp Ag+  
và TCNQ.-  
ở nồng độ cao  
(MeCN)  
(MeCN)  
thì sẽ tạo ra nhanh chống vi tinh thể AgTCNQ mà xanh. AgTCNQ cũng có  
thể tạo ra trên điện cực đã được biến đổi TCNQ(s) trong 0,1 M AgNO3(aq)  
.
Ở đó sự kết tủa kim loại Ag vào trong tinh thể TCNQ(s) thực hiện bằng quá  
trình trao đổi điện tích.  
2. Các kết quả nghiên cứu về X-Ray, IR, powder X-ray… cho thấy sự tồn  
tại của hai hình thái khác nhau của CuI(TCNQ). ĐIều này cho thấy rằng sản  
phẩm động học pha I của CuTCNQ hòa tan trong CH3CN và sau đó từ từ  
chuyển sang trạng thái vật liệu CuTCNQ (II) ổn định hơn về mặt nhiệt  
động học. Cả hai pha đều là vật liệu tinh thể màu tím. Không thể phân biệt  
thông thường hai pha này mà phải sử dụng SEM để phân biệt. Thành phần  
hóa học và tính chất điện cửa hai pha CuTCNQ là giống nhau, nhưng cấu  
trúc và tính chất là khác nhau hoàn toàn. Sự biến đổi từ pha I sang pha II có  
thể thực hiện thông qua điều khiển các điều kiện phản ứng. Các dữ liệu về  
dẫn điện cho thấy CuTCNQ pha I là chất bán dẫn trong lúc đó CuTCNQ  
(II) là chất gần như không dẫn.  
3. Đã tổng hợp được một phức chất có tính bán dẫn từ amino axit L-prolin  
với TCNQ. Cấu trúc phân tử của sản phẩm mô tả bằng công thức  
(Pro2H+)2(TCNQ.-)2.TCNQ. (Pro2H+)2(TCNQ.-)2.TCNQ xây dựng từ cơ sở  
cation và anion mạng lưới hai chiều hỗ trợ mở rộng tương tác liên kết  
Hydro dẫn đến có những tính chất điện bất thường. Các tính chất hóa lý của  
sản phẩm này là hoàn toàn phù hợp với cấu trúc tinh thể.  
4. Phản ứng giữa N,N-dimetyl-D-proline metyl ester với LiTCNQ tạo ra  
hỗn hợp hai tinh thể với các tỷ lệ khác nhau. Các tinh thể này được tách ra  
bằng tay và mỗi tinh thể được đặc trưng bằng các phương pháp phân tích  
bao gồm cấu trúc đơn tinh thể X- Ray, phổ IR, Raman trong trạng thái rắn  
và điện hóa trong dung dịch. Các kết quả phân tích này cho thấy sự tồn tại  
hai tinh thể với hai tỷ lệ khác nhau; 1:1 [Pro(CH3)2TCNQ] and 2:3  
[(Pro(CH3)2)2(TCNQ)3]. Điều đặc biệt là phương pháp điện hóa cung cấp  
một phương pháp nhạy để phát hiện chắc chắn hai tỷ lệ này. Quan trọng  
hơn nữa là độ dẫn điện của hỗn hợp tinh thể đã tìm thấy là 3,1 x 10-2 S.cm-1,  
nó nằm trong phạm vi của một chất bán dẫn.  
5. Tên sản phẩm:  
Tài liệu về kết quả nghiên cứu: Báo cáo tổng kết  
Kết quả phân tích cấu trúc của các sản phẩm tạo thành từ TCNQ  
6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng  
áp dụng:  
Số bài báo công bố: 01  
Số báo cáo tại hội nghị khoa học: 01  
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS  
1. General information:  
Project title: The synthesis of semiconductor compounds from  
tetracyaniquinondimethane (TCNQ)  
Code number: Đ2014-03-63  
Project Leader:Ms Tran Duc Manh  
Office tel: 05113.833327, Di động:  
Coordinator: Dr Vu Thi Duyen, Ms Vo Thang Nguyen  
Implementing institution: Danang University of Education  
Address: 459 Ton Duc Thang St., Danang City.  
Tel: 05113841323 ; E-mail: [email protected]  
Duration: From January 2014 to December 2014  
2. Objective(s):  
Given the integrated approach to chemical and electrochemical  
synthesis of compounds from tetracyanoquinodimethan (TCNQ) with  
transition metal cations such as: Cu, Ag and amino acid proline .  
Study about Structure of new compounds  
Evaluation of physicochemical properties such as electrical  
conductivity, oxidation-reduction properties of the new compounds and its  
application.  
3. Creativeness and innovativeness:  
Given the chemical and electrochemically methods for the  
synthesis of some compounds from metals and amino acids with  
tetracyanoquinodimethan (TCNQ)  
Contributed more information for scientific resources about about  
the compounds formed by TCNQ  
This is the first project about studies of TCNQ in Vietnam  
4. Research results:  
1, AgTCNQ may be synthesized in two different shaped and colored  
crystalline forms. However, the crystal structure and spectroscopic  
properties of the two forms appear to be identical and hence potentially are  
the same phase. Reduction of TCNQ(MeCN) in the presence of Ag+(MeCN) at  
GC, Pt, and ITO electrodes lectrocrystallizes either of the AgTCNQ  
morphologies. At minimum possible deposition potentials, the  
concentration of TCNQ.-(MeCN) at the electrode surface is low, allowing slow  
growth of high aspect ratio, red needle AgTCNQ crystals at well-spaced  
defect sites present on electrode surfaces. After longer periods and at more  
negative deposition potentials, the higher concentration of TCNQ.-  
(MeCN)  
favors faster growth of smaller crystals via reduction of Ag+[(TCNQ.-  
)(TCNQ)](MeCN). This results in deposition of a blue microcrystalline  
AgTCNQ thin film over the red needles. At even more negative potentials,  
Ag(metal) nucleates, inhibiting growth of AgTCNQ. The effect of TCNQ.-  
concentration on crystal morphology of electrocrystallized material  
(MeCN)  
can be related to the chemical synthetic routes, where low concentrations of  
Ag+(MeCN) and TCNQ.-(MeCN) produce red needles of AgTCNQ, as also is the  
case when Ag(metal) is placed into a solution of TCNQ(MeCN) and when  
blue microcrystalline AgTCNQ is refluxed in acetonitrile. In contrast,  
mixing high concentrations of Ag+  
and TCNQ.-  
results in rapid  
(MeCN)  
(MeCN)  
precipitation of blue icrocrystalline AgTCNQ. AgTCNQ can also form on  
a TCNQ(s) modified electrode in 0.1 M AgNO3(aq) where deposition of  
Ag(metal) onto the TCNQ(s) crystals allows a charge transfer process to  
occur.  
2. The results of this study establish the existence of two markedly different  
polymorphs of CuI(TCNQ) by X-ray photoelectron spectroscopy, infrared  
spectroscopy, powder X-ray diffraction techniques, and single-crystal X-  
ray methods. The key to this discovery was the recognition that the kinetic  
product (phase I) is soluble in acetonitrile and slowly converts to a more  
thermodynamically stable material (phase II). Both phases are dark purple,  
crystalline materials, and without the use of scanning electron microscopy  
and powder X-ray methods, it is not trivial to distinguish between the two  
samples. Conductivity data on pressed pellets of bulk samples of the two  
phases support the conclusion that the material responsible for switching in  
the films is phase II, which is a very poor semiconductor. Phase I is a much  
better conductor. It make informations for next studies.  
3. we have reported the first example of an amino acid/TCNQ derived  
semiconductor. The X-ray structure for the proline derivative shows a novel  
and unpredicted structure. ((Pro2H+)2(TCNQ.-)2).TCNQ is derived from  
sheets of cations and anions in the two-dimensional lattice supported by  
extensive H-bonding interactions resulting in unusual electronic properties.  
The extensive physicochemical characterization of this material is in  
complete accord with the crystal structure.  
4. The reaction mixture of N,N-dimethyl-D-proline methylester with  
LiTCNQ afforded a mixture of crystals with two cation : anion  
stoichiometries. These were separated by hand and each crystal form  
subjected to a series of analyses including single crystal X-ray diffraction,  
IR, Raman in the solid state and solution electrochemistry. This analysis  
demonstrated the existence of two stoichiometries; the 1 : 1  
[Pro(CH3)3TCNQ] and 2 : 3 [(Pro(CH3)3)2(TCNQ)3]. Interestingly, the  
electrochemical technique provided an exceptionally sensitive method of  
distinguishing these two stoichiometries and is definitive with or without  
X-ray crystallographic characterisation. Interestingly, the conductivity of  
the mixture of crystals (3,1 x 10-2 S.cm-1) was found to lie in the range  
observed for a semiconductor.  
5. Products:  
Material of research results: final report  
Results of the structural analysis of the products formed by TCNQ  
6. Effects, transfer alternatives of reserach results and applicability:  
The number of articles published: 01  
The number of reports at scientific conferences : 01  
MỞ ĐẦU  
Chất dẫn điện hữu cơ được tổng hợp từ TCNQ và dẫn xuất của nó  
đã trở thành một hướng nghiên cứu hấp dẫn từ khi nó lần đầu tiên được  
phát hiện vào những năm 1970. Hầu hết những chất dẫn điện nói trên được  
tạo thành từ những hợp chất trao đổi điện tích giữa anion TCNQ(1-) với  
một cation thích hợp khác chẳng hạn như các cation kim loại, phức chất cơ  
kim hay các cation hữu cơ. Thú vị hơn nữa, một hợp chất trao đổi điên tích  
hữu cơ thuần tuý TCNQ-TTF được tổng hợp lại có độ dẫn điện như các  
kim loại. Điều này rất có giá trị trong việc ứng dụng chất các hợp chất hữu  
cơ vào lĩnh vực điện tử. Nhiều hợp chất của TCNQ(1-) mang tính chất dẫn  
điện cao. Do đó, chúng đã được nghiên cứu để ứng dụng trong nhiều lĩnh  
vục điện tử, chẳng hạn như tụ điện điện phân, công tắc điện tử, vật liệu lưu  
trữ quang học. Mặc dù một vài ví dụ về hợp chất giữa TCNQ và các phân  
tử sinh học khác đã được nghiên cưú trong những năm gần đâu , nhưng  
việc xác định cấu trúc của chúng lại chưa mấy thành công. Đặc biệt ở Việt  
Nam chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu về TCNQ. Một lượng lớn  
các hợp chất bán dẫn lai hoá thông dụng dựa trên TCNQ đã được phát triển  
trong những ứng dụng tiêu biểu như bán dẫn, xúc tác, điện . Vì vậy việc  
nghiên cứu tổng hợp các hợp chất có khả năng dẫn điện từ  
tetracyanoquinodimethan (TCNQ) là cần thiết.  
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
Đưa ra những phương pháp tổng hợp hóa học và điện hóa để tổng  
hợp những hợp chất từ tetracyanoquinodimethan (TCNQ) với cation kim  
loại chuyển tiếp như; Cu, Ag+, và aminoaxit Proline  
Nghiên cứu cấu trúc của hợp chất mới tạo thành  
Đánh giá các tính chất hóa lý của những hợp chất mới và ứng dụng  
của nó.  
Nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài  
Nghiên cứu lý thuyết về tetracyanoquinodimethan (TCNQ)  
Nghiên cứu quy trình tổng hợp hợp chất mới từ  
tetracyanoquinodimethan (TCNQ) với các cation kim loại chuyển tiếp như:  
Cu2+, Ag+  
Nghiên cứu quy trình tổng hợp hợp chất mới từ TCNQ với  
aminoaxit Proline,  
Khảo sát cấu trúc, tính chất dẫn điện của các hợp chất mới tạo  
thành bằng các phương pháp phân tích hiện đại.  
Ý nghĩa của đề tài  
Đây là công trình nghiên cứu cơ bản có tính chất định hướng cho  
ứng dụng. Các kết quả trong đề tài góp phần bổ sung vào việc tổng hợp các  
hợp chất hữu cơ có tính bán dẫn, cũng như các ứng dụng khác cho khoa  
học kỹ thuật.  
Chương 1: Khái quát chung về polime dẫn điện và ứng dụng của nó  
Lịch sử phát triển của Polime dẫn điện , Bản chất về tính dẫn điện của  
Polime dẫn, Tổng quan về TCNQ và dẫn xuất của TCNQ  
Chương 2: các phương pháp nghiên cứu - thực nghiệm  
Hóa chất, dụng cụ, Tổng hợp chất, Tổng hợp AgTCNQ ,  
Tổng  
hợp  
CuTCNQ, Tổng hợp ProTCNQ , Tổng hợp N,N-dimetyl- Prolin metyl este  
với TCNQ Phương pháp nghiên cứu tính chất của hợp chất: Kính hiển vi  
điện tử quét (SEM), phương pháp nhiễu xạ tia X, Phương pháp phổ hồng  
ngoại IR, phương pháp đo độ dẫn điện..  
Chương 3: Kết quả và thảo luận  
Tổng hợp AgTCNQ  
Tính chất của AgTCNQ,( tạm gọi là pha I và pha II) khi tổng hợp bằng  
phương pháp hóa học  
Hình 1: Hình ảnh SEM của AgTCNQ tổng hợp bằng phương pháp hóa học.  
AgTCNQ màu xanh (a, c), màu đỏ (b và d) và kính hiển vi quang học ( a và b)  
Kết quả phổ của AgTCNQ tổng hợp bằng phương pháp hóa học (hình 2)  
Phổ IR (hình b) và Raman (hình a) cũng không thể phân biệt được  
hai pha I và II này, nhiễu xạ tia X cũng cho kết quả giống nhau cho pha I và  
pha II. (hình c)  
Hình 2. (a) phổ Raman, (b) phổ IR và (c) phổ X- ray của tinh thể AgTCNQ xanh và  
đỏ tạo thành bằng ppth hóa học, (d) X-của AgTCNQ.  
Như vậy bằng phương pháp tổng hợp hóa học chúng ta rất khó để  
phân biệt được quá trình diễn ra tạo hai pha khác nhau của AgTCNQ.  
Quét thế tuần hoàn Ag+(MeCN) và TCNQ(MeCN) trong CH3CN  
Quét thế vòng tuần hoàn của TCNQ trên bề mặt điện cực  
TCNQ(MeCN) cố định trên bề mặt điện cực kim loại hoặc GC sẽ xảy  
ra hai quá trình khử để tạo thành TCNQ.-  
và TCNQ2-  
(hình 3.a),  
(MeCN)  
(MeCN)  
thế quét vòng tuần hoàn cho TCNQ từ 230 đến -310 và ngược lại (so với  
Ag/AgCl).  
Quét thế tuần hoàn cho Ag+:Ag+(MeCN) sẽ bị khử tạo thành kim loại Ag  
Hình 3 : Quét thế vòng tuần hoàn trong MeCN (0,1 M Bu4NBF4) tại tốc độ quét  
100 mV/s: (a) 10 mM TCNQ(MeCN) , (b) hai chu kỳ quét thế của 10 mM Ag+  
(MeCN)  
trên điện cực GC đường kính 1,5 mm.  
Bảng 1 : Dữ liệu thế (E0) cho TCNQ và Ag trong H2O và MeCN  
Phản ứng  
Ag+(aq) + e-  
TCNQ(aq) + e-  
TCNQ.-(aq) + e-  
(E0) V  
0,557  
Ag(r)  
TCNQ.-  
0,115  
-0,128  
0,318  
0,21  
(aq)  
TCNQ2-  
(aq)  
Ag+  
+ e-  
Ag(r)  
(MeCN)  
TCNQ(MeCN) + e-  
TCNQ.- + e-  
TCNQ.-  
TCNQ2-  
(MeCN)  
-0,33  
(MeCN)  
(MeCN)  
Quá trình khử quét thế tuần hoàn của TCNQ(MeCN) trong CH3CN trong sự  
có mặt của Ag+  
.
(MeCN)  
Khi có mặt cả hai dung dịch 3,2 mM Ag+  
và 9,6 mM  
(MeCN)  
TCNQ(MeCN) trong MeCN (0,1 M Bu4NPF6), giản đồ quét thế tuần hoàn với  
tốc độ quét 20mV s-1 điện cực làm việc GC, dòng điện bắt đầu xuất hiện  
,
khi khử TCNQ(MeCN) tại 360 mV (giống như trường hợp không có  
Ag+(MeCN)). Tuy nhiên tại 290 mV , sự khử dòng điện tăng rất nhanh ( I  
kh  
trong hình 4a). Khi đảo chiều quét thế tại 285mV dòng điện tiếp tục tăng  
tới giá trị tối đa -58 μA tại 290 mV, sau đó giảm nhanh chóng khi quét về  
phía thế dương. Dòng điện đã cắt ngang với quá trình quét thế ban đầu tại  
360 mV, thể hiện rằng đã có sự tạo mầm và phát triển mầm của chất rắn  
khác kim loại Ag trên bề mặt điện cực. Thậm chí tại điện thế dương hơn  
nữa, xuất hiện píc nhọn của quá trình oxi hóa tại 420 mV ( I’strip) , theo sau  
đó là một pic rộng hơn tại 670 mV (I’’strip). Việc phát hiện quá trính tạo  
mầm/phát triển mầm, bắt đầu từ quá trình quét thế từ phía âm hơn để khử  
Ag+(MeCN) thành kim loại Ag có nghĩa là kết tinh tinh thể điện của AgTCNQ  
có thể xảy ra thông quá quá trình khử của TCNQ(MeCN) thành TCNQ.- trong  
sự có mặt của Ag+(MeCN). Khi tăng nồng độ của Ag+  
và TCNQ(MeCN)  
(MeCN)  
lên 9,1 mM, thì dòng điện cũng tăng lên cho toàn bộ quá trình quét thế  
(hình 4a). Trong chu kỳ quét thế thứ 2 và các chu kỳ tiếp theo dòng khử Ikh  
tăng lên đặc biệt tăng mạnh khi thế đạt đến thế cần thiết cho quá trình khử  
TCNQ(MeCN). Nếu tất cả AgTCNQ không được loại bỏ trong quá trình này  
thì sự phát triển mầm AgTCNQ có thể xảy ra trên các tinh thể còn sót lại  
trong các thí nghiệm chu kỳ quét thế tiếp theo. Sự cắt ngang điện thế tiếp  
tục được giữ nguyên trong các chu kỳ tiếp theo, nhưng dòng điện I’strip và  
I’’strip dần dần nhỏ hơn, nguyên nhân có thể là do việc hình thành AgTCNQ  
trên điện cực và AgTCNQ chỉ hòa tan với lượng nhỏ và có độ dẫn điện vừa  
phải.Nếu điện thế được mở rộng đến 185 mV, thì dòng khử vẫn tăng nhanh  
tại điểm khử TCNQ(MeCN) thành TCNQ.- nhưng lúc này lại xuất hiện đuôi  
pic tại 270 mV (Ikh + IIkh hình 4c). Khi chuyển đổi điện thế và quét về phía  
dương thì I’strip và I’’strip thay đổi nhiều hơn về điện thế dương và pic cao  
của I’strip nhỏ hơn I’’strip , ngược lại với quá trình quét thế tại 285mV (hình  
4b).  
Hình 4: Quét thế vòng tuần hoàn trong MeCN (0,1 M Bu4NBF4) bắt đầu ở thế 885  
mV ( a – d) trên điện cực GC đường kính 3 mm  
Sự tăng lên của tốc độ quét thế từ 20 tới 50, 100 và 200 mV/s(hình  
4.c) dẫn đến sự khử dòng điện trước khi chuyển đổi thế và tăng tuyến tính  
với căn bậc hai của tốc độ quét thế đồng thời các dòng oxi hóa cũng tăng.  
Khi quét thế tại 500 mV/s quá trình Ikh + IIkh di chuyển đến điện thế âm  
hơn là do quá trình tạo tinh thể điện hóa bắt đầu nhanh hơn.  
Khi điện thế được thay đổi về phía âm hơn -155 mV (hình 4.d), có  
một quá trình khử thứ 3 được xác định tại -100 mV và khi đảo ngược thế  
lại xuất hiện quá trình oxi hóa mạnh tại 380 mV cùng với hai quá trình oxi  
hóa AgTCNQ ghi nhận trước đây. Quá trình khử và oxi hóa mới xuất hiện  
tại thế gần với thế khử Ag+(MeCN) và thế oxi hóa kim loại Ag trên bề mặt  
điện cực trần GC. Điều này có thể là do vẫn còn dư ion Ag+  
và khả năng hòa tan của AgTCNQ trong CH3CN.  
Quá trình oxi hóa của tinh thể kết tinh AgTCNQ  
ban đầu  
(MeCN)  
Các dữ liệu cho thấy rằng kết tinh bằng điện hóa tạo ra AgTCNQ  
trên bề mặt điện cực làm việc, khi sự kết tủa xảy ra ở ở điện thế trước điện  
thế của quá trình khử Ag+  
về kim loại Ag. Nếu điện thế cho quá trình  
(MeCN)  
kết tủa kéo dài về phía âm và tăng thời gian kết tủa Ag lên thì sẽ có quá  
trình tạo mầm và phát triển mầm của Ag vì vậy nó sẽ hạn chế quá trình tạo  
AgTCNQ. Tuy nhiên về bản chất có thể xác định được hai khu vực điện thế  
cho quá trình oxi hóa AgTCNQ và kim loại Ag với sự thay đổi các điều  
kiện làm việc.  
Hình 5 : Quét thế stripping từ dung dịch chứa 9,1 mM TCNQ(MeCN) và Ag+  
(MeCN)  
trong MeCN ( 0,1 M Bu4NBF4) trên điện cực GC đường kính 3 mm với tốc độ quét  
thế 100 mV s-1 sau tạo tinh thể AgTCNQ ở các thế: (a) 285 mV, (b) 185 mV, (c) -  
155 mV  
Quét thế vòng tuần hoàn cho TCNQ và điện cực đã cố định AgTCNQ trong  
dung dịch điện ly 0,1 M AgNO3  
TCNQ cố định trên bề mặt điện cực làm việc trong dung dịch Ag+  
về nguyên tắc có thể có hai cách khác nhau để tạo AgTCNQ. Cách thứ nhất  
các ion Ag+ sẽ kết hợp với các gốc anion TCNQ, cách thứ hai là khử  
(aq)  
Ag+(aq) về kim loại Ag sau đó phản ứng với TCNQ(s). Tuy nhiên , thế cơ bản  
cho quá trình khử TCNQ0/.- là âm hơn so với Ag+/0 (bảng 1) do đó cách thứ  
nhất là khó thực hiện. Tại tốc độ quét 20 mV/s, thì kim loại Ag sẽ được tạo  
thành bằng cách khử dung dịch 0,1 M AgNO3 trên điện cực trần GC tại E =  
470 mV (hình 6.a). Nếu đảo chiều quá trình quét thế tại 450 mV, xuất hiện  
1 pic tại 470 mV, dòng điện cắt ngang tại 510 mV, điều này cho thấy có  
cơ chế tạo mầm và phát triển mầm và quá trình oxi hóa Ag kim loại tại 560  
mV.  
Giải điện hóa có thể khám phá được khi tổng hợp tinh thể màu  
xanh AgTCNQ cố định trên bề mặt điện cực GC đặt tiếp xúc trong dung  
dịch 0,1 M AgNO3 và quét thế về hướng dương bắt đầu ở 510 mV ( giao  
nhau với điện thế cho quá trình giả kết tủa kim loại Ag) (hình 6b), Quá  
trình giải tinh thể AgTCNQ đỏ (tổng hợp bằng phương pháp hóa học) trên  
bề mặt điện cực xuất hiện pic oxi hóa nhỏ tại 540 mV và hai pic giải tại 710  
và 760 mV (hình 6.c).  
Dữ liệu giản đồ quét thế tuần hoàn cho TCNQ trên điện cực GC  
(bằng phương pháp thả đúc) trong dung dịch 0,1 M AgNO3(aq), quá trình kết  
tủa và giải kim loại Ag thể hiện (hình 7). Tuy nhiên, khi đảo chiều hướng  
quét về thế ban đầu xuất hiện một pic rộng đối xứng của quá trình oxi hóa,  
giống như pic được tìm thấy trong quá trình giải tinh thể màu xanh  
AgTCNQ. Trong chu kỳ quét thế lần thứ hai, pic giải này được xác định tại  
710 mV, giống như đã được dự kiến nếu tinh thể màu đỏ AgTCNQ đã được  
tạo thành.  
Hình 6 : Quét thế vòng tuần hoàn trong nước (0,1 M AgNO3(aq)) trên điện cực GC  
đường kình 3 mm, tốc độ quét thế 20 mV s-1 cho: (a) Kết tủa Ag và giải kết tủa Ag  
kim loại, (b) giải tinh thể màu xanh AgTCNQ, (c) giải tinh thể màu đỏ AgTCNQ.  
Quét thế vòng tuần hoàn với điện cực có TCNQ(s) bám trên bề mặt  
điện cực (bằng phương pháp cơ học) ( hình 7b) là giống với phương pháp  
thả đúc, mặc dù xuất hiện pic lớn cho quá trình giải AgTCNQ tại 690 mV ở  
lần quét thế đầu tiên. Đến vòng quét thế thứ hai thì xuất hiện pic giải tại  
710 mV và đến vòng thứ 10 thì xuất hiện tại 720 mV. Cho thấy rằng cho  
thấy có sự biến đổi từ màu đỏ sang màu xanh của AgTCNQ được tạo  
thành.  
Hình 7: Dữ liệu quét thế vòng tuần hoàn trong nước (0,1 M AgNO3(aq)), điện cực  
GC đường kính 3 mm, tốc độ quét thế 20 mV/s cho : (a) TCNQ(s) được cố định trên  
GC bằng phương pháp thả đúc, (b) TCNQ(s) được cố định trên GC bằng phương  
pháp cơ học cọ xát, (c) AgTCNQ được cố định trên GC từ 9,1 mM TCNQ(MeCN) và  
Ag+(MeCN) trong MeCN  
Cuối cùng sự kết tinh điện hóa của AgTCNQ trên điện cực GC  
được thực hiên từ 9,1 mM Ag+  
và TCNQ(MeCN) trong MeCN (0,1 M  
(MeCN)  
Bu4NBF6) tại điện thế 300 mV trong 30 giây hoặc -100 mV trong 1s. Thí  
nghiệm trước đã tạo ra tinh thể AgTCNQ màu đỏ và màu xanh và sau này  
tạo ra tinh thể màu đỏ của AgTCNQ. Điện cực làm việc sau đó được lấy ra  
nhẹ nhàng từ dung dịch, sau đó nhỏ khoảng 3 giọt MeCN để loại bỏ  
TCNQ, Ag+ còn dư, và chất điện ly. Điện cực chứa AgTCNQ sau đó được  
nhúng vào dung dịch 0,1 M AgNO3(aq). AgTCNQ được kết tủa tại 300 mV  
từ MeCN, sau đó xuất hiện pic nhọn giải AgTCNQ tại 750 mV, trong khi  
đó AgTCNQ được tạo thành tại -100 mV và xuất hiện pic giải rộng tại 740  
mV (hình 7.c). Các pic giải được tìm thấy trong thí nghiệm này là nhọn hơn  
và kéo nhẹ về phía điện thế dương hơn so với các pic được tìm thấy bằng  
phương pháp tổng hợp hóa học. Điều này cho thấy rằng quá trình giải  
AgTCNQ trên bề mặt điện cực là nhạy với cách tạo AgTCNQ.  
Kiểm tra sản phẩm tinh thể điện hóa AgTCNQ bằng kính hiển vi, phổ  
quang học, nhiễu xạ tia X.  
Sự phân biệt tinh thể AgTCNQ chỉ thực hiện bằng điện hóa, hình  
thái và màu sắc.  
Hình ảnh SEM của tinh thể điện hóa AgTCNQ trên điện cực làm  
việc GC từ hỗn hợp 9,1 mM TCNQ(MeCN) và Ag+(MeCN) trong MeCN (0,1 M  
Bu4NBF4) cho thấy thu được tinh thể hình kim khi (hình 8). Màu sắc của  
tinh thể kết tinh điện hóa AgTCNQ tạo thành được quan sát bằng kính hiển  
vi quang học. Khi kim loại Ag kết tủa trên bề mặt điện cực tại -100 mV  
trong 10s từ 10 mM Ag+(MeCN) trong MeCN ( 0,1 M Bu4MBF4), sau đó điện  
cực được rửa sạch với 10 mM TCNQ(MeCN) trong 30 giây (hình 9.a) thì sẽ  
thu được một lượng nhỏ tinh thể hình kim màu đỏ cùng với một ít Ag còn  
sót laị. Nếu tiếp tục tăng thời gian trong TCNQ(MeCN) lên 60 giây thì lúc này  
tất cả các kim loại Ag đều chuyển thành tinh thể màu đỏ lớn hơn trước.  
Kết tinh tinh thể AgTCNQ trên điện cực làm việc GC tại 300 mV (Ikh)  
trong 10 giây từ 9,1 mM TCNQ(MeCN) và Ag+  
trong MeCN ( 0,1 M  
(MeCN)  
Bu4NBF4) (hình 9.b) tạo ra các tinh thể hình kim màu đỏ và sợi nano.  
Ngược lại nếu kết tinh điện thực hiện tại 0 mV (Ikh + IIkh) trong 10 giây thì  
sẽ tạo ra toàn bộ bề mặt điện cực là tinh thể màu xanh (hình 9.c). Tuy  
nhiên, khi kiểm tra kỹ thì thấy rằng các tinh thể màu xanh này phủ lên trên  
các tinh thể hình kim màu đỏ. Nếu kết tinh điện thực hiện tại -100 mV (Ikh  
+IIkh + Ag+ ) trong 120 giây (hình 9.d), kim loại Ag được tạo thành trên bề  
kh  
mặt điện cực, trong khi đó một vài tinh thể hình kim màu đỏ ở giữa điện  
cực còn các tinh thể màu xanh phủ lên trên tinh thể màu đỏ ở hai bên điện  
cực. Quét thế tuyến tính với tốc độ quét 100 mV s-1 cho điện thế từ 1,1 V  
đến 0 V sẽ tạo ra một bề mặt tinh thể thể hình kim màu đỏ dày đặc. Giản đồ  
quét thế vòng tuần hoàn từ 1,1 V đến -300 mV và quay lại 1,1 V tạo ra một  
lớp hình kim màu đỏ phủ lên lớp màu xanh. Rõ ràng một số tinh thể  
AgTCNQ vẫn bám trên bề mặt điện cực làm việc, mặc dù vẫn có pic giải  
chúng trên giản đồ quét thế tuần hoàn.  
Hình 8: SEM của AgTCNQ bằng kết tinh điện hóa từ 9,1 mM TCNQ(MeCN) và  
Ag+(MeCN) trong MeCN( 0,1 M Bu4NBF4) bằng điện cực làm việc GC đường kính 3  
mm khi điện thế được giữ tại: (a) 240 mV trong 30 giây, (b) -100 mV trong 30 giây  
và (c) quét thế tuyến tính từ 800 đến -100 mV với tốc độ quét 100 mV s-1.  
Hình 9. Hình ảnh SEM của AgTCNQ được tạo thành trên điện cực GC đường kính  
3 mm: (a) kim loại Ag được kết tủa từ 10 mM Ag+  
trong MeCN (0,1 M  
(MeCN)  
Bu4NBF4) tại thế -100 mV trong 10 giấy, rửa trong MeCN và đặt trong 10 mM  
TCNQ(MeCN) trong 30 giây; (b,c,d) kết tinh điện hóa từ 9,1 mM TCNQ(MeCN) và  
Ag+(MeCN) trong MeCN (0,1 M Bu4NBF4) tại (b) 300 mV trong 10 giây, (c) 0 V trong  
10 giây, (d) -100 mV trong 120 giấy; (e, f) trong 0,1 M AgNO3(aq) thông qua (e)  
quá trình khử của TCNQ(s) trên điện cực tại 400 mV trong 30 giây và (f) sau 10,5  
chu kỳ quét thế từ 900 đến 400 mV  
Cơ chế của quá trình tạo thành AgTCNQ  
Cơ chế của quá trình điện hóa tạo AgTCNQ là rất phức tạp. Các  
mảng tinh thể hình kim màu đỏ AgTCNQ được tạo thành ở điện thế dương  
hơn ( quá trình Ikh) và thời gian ngắn, khi mà TCNQ(MeCN) bị khử tạo thành  
TCNQ.- trong Ag+(MeCN). Điều này cho thấy rằng các tinh thể hình kim màu  
đỏ AgTCNQ được tạo thành trong quá trình phát triển tinh thể chậm khi mà  
nồng độ của Ag+(MeCN) và TCNQ.-(MeCN) là thấp. Quá trình này được thể hiện  
ở trong phương trình 2 phương trình sau.  
Ag+[(TCNQ.-)(TCNQ)](MeCN)  
TCNQ.-  
+
Ag+  
TCNQ(MeCN)  
+
(MeCN)  
(MeCN)  
kêt tua  
TCNQ.-  
[Ag+TCNQ.-](s)  
+ e-  
+
Ag+[(TCNQ.-)(TCNQ)](MeCN)  
(MeCN)  
Kết luận  
AgTCNQ có thể được tổng hợp ở hai hình dạng và màu sắc tinh thể  
khác nhau. Tuy nhiên cấu trúc tinh thể và tính chất phổ của hai trạng thái là  
giống nhau, do đó có khả năng chúng là một pha. Quá trình khử của  
TCNQ(MeCN) trong Ag+  
trên điện cực làm việc GC, Pt và ITO, tạo  
(MeCN)  
thành tinh thể AgTCNQ hình thái học giống nhau. Tại giá trị thế thấp nhất  
có thể, nồng độ TCNQ.- tại bề mặt điện cực là thấp, tinh thể màu đỏ được  
hình thành trên bề mặt điện cực. Sau thời gian dài hơn và thế âm hơn, nồng  
độ TCNQ.- tại bề mặt điện cực cao sẽ tạo điều kiện cho việc tạo tinh thể  
nhỏ hơn một cách nhanh hơn thông qua quá trình khử Ag+[(TCNQ.-  
)(TCNQ)](MeCN). Điều này dẫn đến sự tạo màng mỏng vi tinh thể màu xanh  
AgTCNQ trên các tinh thể hình kim màu đỏ. Tại thế âm hơn nữa, các mầm  
kim loại Ag sẽ hạn chế sự phát triển của AgTCNQ. Sự ảnh hưởng của nồng  
độ TCNQ.-  
vào hình thái của vật liệu kết tinh điện hóa có thể liên  
(MeCN)  
quan đến phương pháp tổng hợp hóa học, khi nồng độ của Ag+  
và  
(MeCN)  
TCNQ.-  
là thấp thì sản phẩm là các tinh thể AgTCNQ hình kim màu  
(MeCN)  
đỏ cũng giống như trong trường hợp kim loại Ag ở trong dung dịch  
TCNQ(MeCN) và khi vi tinh thể AgTCNQ màu xanh được đun hồi lưu trong  
MeCN. Ngược lại, nếu hỗn hợp Ag+  
và TCNQ.-  
ở nồng độ cao  
(MeCN)  
(MeCN)  
thì sẽ tạo ra nhanh chống vi tinh thể AgTCNQ mà xanh. AgTCNQ cũng có  
thể tạo ra trên điện cực đã được biến đổi TCNQ(s) trong 0,1 M AgNO3(aq)  
.
Ở đó sự kết tủa kim loại Ag vào trong tinh thể TCNQ(s) thực hiện bằng quá  
trình trao đổi điện tích. Tuy nhiên, nó khó khăn hơn để kiểm soát hình thái  
trong trường hợp này.  
Tổng hợp CuTCNQ  
Nghiên cứu cấu trúc phổ của sản phẩm  
Các dữ liệu của pha I và pha II của CuTCNQ được thể hiện trong bảng 2  
Bảng 2: Dữ liệu IR và XPS cho CuTCNQ và Cu(DM-DCNQI)2  
IR  
XPS BEa(eV) XPS  
sánh  
so  
ʋ(C≡N)(cm-1)  
δ(C-H)(cm- Cu 2p3/2; 2p1/2;  
)
1
N1s  
CuTCNQ  
Pha I hình 2199, 2172  
825  
825  
932,0; 951,9;  
398,7  
kimb  
2211, 2172  
Pha II dạng  
932,1; 952,0;  
398,7  
931,2; 951,0;  
398,1  
bản c  
Cu(TCNQ)b 2200, 2170  
826  
Cu(DM-  
DCNQI)2  
2139  
931,6; 933,6;  
943; 962  
aNăng lượng liên kết, b CuI + TCNQ phương pháp tổng hợp của Melby[25],  
c Phương pháp thứ 2 cho tổng hợp pha I.  
Quang phổ điện tử X- Ray: Các dữ liệu về quang phổ X-Ray của cả hai pha  
CuTCNQ (I) và (II) được thể hiện trong bảng 2 và hình 10. Từ đó ta có thể  
thấy rằng trong cả hai pha I, II đều chỉ tồn tại Cu(I), không có sự xuất hiện  
(II), và nó cũng biểu hiện chỉ có một loại TCNQ mà thôi.  
Phổ IR: Các dữ liệu này phù hợp với sự có mặt của TCNQ- hoặc hỗn hợp  
các lớp hóa trị TCNQ/TCNQ-1 mà không có TCNQ và TCNQ2-.Điều này là  
phù hợp với báo cáo IR trong việc tổng hợp pha I trước đây. Còn đối với  
pha II thì chưa có dữ liệu để so sánh.  
Hình 10: Dữ liệu quang phổ điện tử XPS của Cu trong vùng 2p3/2 và 2p1/2  
đối với CuTCNQ pha I và CuTCNQ pha II.  
Nghiên cứu X-Ray cho các pha được chuẩn bị bằng hóa học.  
Sự phân biệt rõ ràng hai pha CuTCNQ được thực hiện bằng nghiên  
cứu X-Ray của chúng.  
Hình 11: Phổ XRD cho CuTCNQ: (a) pha I hình kim, (b) pha II hình tấm  
Nghiên cứu cấu trúc SEM  
Từ hình 12a, b chúng ta có thể thấy có sự khác biệt hình thái rõ ràng giữa 2  
pha của CuTCNQ. Pha I là các tinh thể hình kim còn pha II là các tinh thể  
hình tấm nhỏ.  
(a) Pha I  
(b) Pha II  
Hình 12: SEM cho CuTCNQ pha I và CuTCQN pha II ( mẫu được chuẩn  
bị bằng dung dịch) (độ phân giải 1 μm)  
Phân tích cấu trúc của các pha  
Pha I: Các dữ liệu phân tích cho thấy tinh thể CuTCNQ (I) nằm trong  
nhóm đơn tà, cấu trúc đưa lại cho thấy với tỷ lệ Cu/TCNQ là 50/50.  
Hình 13: Pha I: (a) đơn vị không đối xứng (b) cấu trúc được mở rộng  
Pha II: Các dữ liệu về CuTCNQ (II) cho thấy nó nằm trong nhóm không  
gian P2/n. Cấu trúc không đối xứng thể hiện trên hình 14a. Tứ diện hình  
học của nó khác với CuTCNQ (I). các phối tử TCNQ liền kề là song song  
với nhau, chiều dài tiếp xúc giữa hai TCNQ song song là 6,8 A0 (hình 14b).  
Đây là cấu trúc lạ.  
Hình 14: Pha II: (a) đơn vị không đối xứng với các ký hiệu nguyên tử, (b)  
cấu trúc được mở rộng trong mặt phẳng bc  
Hình 15: Sự định hướng của TCNQ- trong pha I và pha II  
Hình 16: Cấu trúc mạng cho CuTCNQ : (a) pha I và (b) pha II  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 28 trang yennguyen 42660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu tổng hợp hợp chất dẫn điện từ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_nghien_cuu_tong_hop_hop_chat_dan_dien.pdf