Báo cáo Đề tài Tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTAS) đối với ngành dệt may của Việt Nam – Qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế

ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
ĐỀ TÀI CẤP ĐẠI HỌC HUẾ  
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTAs)  
ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY CỦA VIỆT NAM – QUA THỰC TIỄN  
TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
CHỦ NHIỆM: TS. TRẦN VIẾT LONG  
HUẾ, NĂM 2019  
MỤC LỤC  
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................1  
1. Tính cấp thiết của Đề tài....................................................................................1  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài........................................................4  
3. Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài.......................................................................10  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài..................................................11  
5. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu...................................................11  
6. Những đóng góp của Đề tài.............................................................................13  
B. PHẦN NỘI DUNG........................................................................................14  
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU DỆT MAY  
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐỐI VỚI  
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA DOANH NGHIỆP.............14  
1.1. Khái quát về ngành Dệt may ........................................................................14  
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của ngành Dệt may..................................................14  
1.1.2. Các sản phẩm của Ngành Dệt may............................................................17  
1.2. Khái quát về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Dệt may ....................18  
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Dệt may ..........18  
1.2.2. Vai trò xuất khẩu hàng Dệt may của doanh nghiệp đối với nền kinh tế........23  
1.2.2.1. Thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước...........................................24  
1.2.2.2. Thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp Dệt may ................................25  
1.2.2.3. Tăng cường hợp tác kinh tế, thúc đẩy thương mại địa phương phát triển ....26  
1.2.2.4. Giải quyết việc làm, nâng cao trình độ cho người lao động...................27  
1.2.2.5. Tăng cường ứng dụng khoa học vào sản xuất, tiếp cận các công nghệ  
hiện đại Ngành Dệt may ......................................................................................27  
1.3 Các nhân tố chi phối đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Dệt may..28  
1.3.1. Chính sách, pháp luật của Nhà nước .........................................................28  
1.3.2. Năng lực của doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu Dệt may.......................30  
1.3.3. Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may trong nước.........32  
1.3.4. Các nhân tố chi phối khác..........................................................................32  
1.4. Lý luận về tác động của FTAs đến doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may.........34  
1.4.1. Nhận diện tác động của FTAs đến doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may ......34  
1.4.2. Các dạng tác động của FTAs đến doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may........36  
Kết luận Chương 1...............................................................................................39  
CHƯƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO  
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DỆT MAY QUA  
THỰC TIỄN TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ...............................................40  
2.1. Tổng quan các quy định trong FTAs liên quan đến ngành Dệt may Việt Nam. 40  
2.1.1. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Hàn Quốc (VKFTA) ...................40  
2.1.2. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).............................45  
2.1.3. Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)........50  
2.2. Những tác động của FTAs đối với doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may của Việt  
Nam......................................................................................................................53  
2.2.1. Tác động từ quy định về Quy tắc xuất xứ .................................................53  
2.2.2. Tác động từ quy định về thủ tục hành chính .............................................57  
2.2.3. Tác động từ quy định về thủ tục hải quan .................................................59  
2.2.4. Tác động từ quy định về bảo vệ môi trường..............................................60  
2.2.5. Tác động từ quy định về chính sách cạnh tranh ........................................62  
2.3. Tác động của các Hiệp định thương mại tự do đối với ngành xuất khẩu Dệt  
may tỉnh Thừa Thiên Huế....................................................................................64  
2.3.1. Những tác động tích cực mang lại cho ngành xuất khẩu Dệt may tỉnh Thừa  
Thiên Huế khi thực thi FTAs...............................................................................65  
2.3.2. Những thách thức đặt ra đối ngành xuất khẩu Dệt may tỉnh Thừa Thiên  
Huế khi Việt Nam thực thi FTAs.........................................................................69  
2.3.2.1. Những thách thức đặt ra từ năng lực của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh  
Thừa Thiên Huê...................................................................................................69  
2.3.2.2. Thách thức đặt ra từ các cam kết pháp lý trong FTAs mà Việt Nam ký  
kết.........................................................................................................................72  
Kết luận chương 2................................................................................................77  
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  
XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DỆT MAY Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ KHI  
THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO..............................78  
3.1. Định hướng cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất  
khẩu của ngành Dệt may khi thực thi các cam kết trong FTAs...........................78  
3.2. Gải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu của ngành Dệt may tỉnh Thừa Thiên  
Huế khi thực thi cam kết trong FTAs ..................................................................79  
3.2.1. Đề xuất các giải pháp chung cho hoạt động xuất khẩu của ngành Dệt may  
cả nước.................................................................................................................79  
3.2.1.1. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật ................................................79  
3.2.1.2. Giải pháp về chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước .................82  
3.2.2. Đề xuất các giải pháp riêng cho doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu Dệt  
may tỉnh Thừa Thiên Huế....................................................................................83  
3.2.2.1. Giải pháp đối với doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may trên địa bàn tỉnh  
Thừa Thiên Huế...................................................................................................83  
3.2.2.2. Đối với Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế............................88  
3.2.2.3. Đối với các cơ quan nhà nước liên quan trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên  
Huế.......................................................................................................................89  
Kết luận chương 3................................................................................................92  
KẾT LUẬN.........................................................................................................93  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................95  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.1: Những cam kết thuế quan trong VKFTA và AKFTA ........................42  
Bảng 2.2 : Các dòng thuế Hàn Quốc sẽ xóa bỏ cho Việt Nam trong VKFTA....42  
Bảng 2.3: Những dòng thuế Việt Nam cam kết xóa bỏ cho Hàn Quốc ..............43  
Bảng 2.4. Lộ trình cam kết xóa bỏ thuế quan trong EVFTA ..............................47  
Bảng 2.5 Lộ trình xóa bỏ thuế quan mà các nước thành viên dành cho hàng dệt  
may của Việt Nam ...............................................................................................51  
Bảng 2.6. Tổng quan về các doanh nghiệp dệt may tỉnh Thừa Thiên Huế tính đến  
năm 2016..............................................................................................................64  
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của Đề tài  
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, với trào lưu nở rộ của  
các Hiệp định Thương mại tự do (Free Trade Agreement - FTA) đã mở ra cơ hội  
cho ngành kinh tế phát triển, đặc biệt là ngành sản xuất hàng hóa nhưng, đồng  
thời cũng đặt ra không ít những thách thức đối với sự phát triển kinh tế đất nước.  
Để định hướng phát triển thương mại hiệu quả, đặc biệt là hoạt động thương mại  
quốc tế, ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TƯ về  
hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 13/2/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành  
Chương trình hành động của Chính phủ số 35/2002/QĐ-TTg thực hiện Nghị  
quyết số 07-NQ/TƯ của Bộ Chính trị. Chỉ trong một thời gian sau khi mở cửa  
thị trường, tăng cường thiết lập các quan hệ kinh tế, Việt Nam khẳng định được  
vị thế kinh tế của mình trong trường quốc tế. Các hiệp định thương mại quốc tế  
mà Việt Nam là thành viên đã tạo ra những bước đột phá về xuất nhập khẩu cho  
kinh tế quốc gia. Cụ thể, sau khi gia nhập WTO, ngành dệt may Việt Nam đã  
nhận được những đối xử tương tự như các nước thành viên WTO khác dành cho  
nhau, như nhận được sự ưu đãi đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia, cơ chế giải  
quyết tranh chấp được bảo vệ trong khuôn khổ WTO, được hưởng lợi từ đầu tư  
nước ngoài, đi kèm với trình độ quản lý và kỹ thuật công nghệ mới, sau khi gia  
nhập WTO1, hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ không còn chịu hạn ngạch  
khi xuất khẩu vào các nước thành viên khác.2  
Trong bối cảnh đó đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội và  
thách thức, đòi hỏi cần phải có kiến thức pháp lý, kiến thức kinh tế, thương mại  
quốc tế, năng lực cạnh tranh để tận dụng được những lợi ích và vượt qua những  
1 Nguyễn Anh Dương, Đặng Phương Dung, Báo cáo Việt Nam tham gia WTO và các hiệp định thương mại tự do  
(FTA), “Hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam – VIE/61/94”, Cục Xúc tiến thương  
mại, Bộ Công Thương.  
2 Từ 2005, trong khung khổ WTO, hạn ngạch đã được bãi bỏ đối với hàng dệt may. EU cũng bãi bỏ hạn ngạch  
đối với hàng dệt may của Việt Nam ngay từ thời điểm này.  
1
thử thách mà các hiệp định thương mại phân tích trong để tài yêu cầu qua các  
cam kết cụ thể để lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả  
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công  
nghiệp Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt Nam là 1  
trong 5 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới. Với tỉnh  
Thừa Thiên Huế, năm 2016 chọn là năm doanh nghiệp, tăng cường thúc đẩy phát  
triển toàn diện các thế mạnh về kinh tế của địa phương. Để hỗ trợ các doanh  
nghiệp dệt may, Hội đồng thẩm định cấp tỉnh đã thông qua đề án quy hoạch  
ngành dệt may đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 921  
/QĐ-UBND ngày 19/5/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là  
bước khởi động tích cực với mục tiêu đưa lĩnh vực dệt may phát triển theo  
hướng bền vững và quy mô như: “Phát triển ngành dệt may Thừa Thiên Huế phù  
hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội và phát triển công nghiệp của tỉnh;  
xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành một trong những trung tâm dệt may của  
miền Trung; Phát triển tối đa thị trường nội địa (trong tỉnh, trong nước) đồng  
thời mở rộng thị trường xuất khẩu, lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho sự phát triển  
của ngành; Phát triển ngành theo hướng chuyên môn hoá, hiện đại hóa, ổn định,  
bền vững và hiệu quả. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm có giá trị gia tăng  
cao, ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may. Đẩy mạnh khâu nghiên cứu  
và thiết kế sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm; hình thành  
và phát triển ngành công nghiệp thời trang; Phát triển ngành gắn với bảo vệ môi  
trường sinh thái và xu thế dịch chuyển lao động nông nghiệp nông thôn”. Tỉnh  
Thừa Thiên Huế hiện nay có gần 40 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản  
xuất và gia công hàng dệt may, trong đó có khoảng 5 doanh nghiệp có 100% vốn  
đầu tư nước ngoài quy mô. Nhiều doanh nghiệp có quy mô lớn như HBI, Scavi,  
Dệt may Huế, Vinatex Hương Trà, May xuất khẩu Huế, Thiên An Phát, Thiên  
An Phú…, kim ngạch xuất khẩu mỗi năm đạt gần 500 triệu USD, chiếm gần  
2
80% giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Thừa Thiên Huế.3 Theo thống kê của  
Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015, về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ  
vẫn là thị trường lớn nhất trong năm 2015 với kim ngạch ước đạt 298,69 triệu  
USD, chiếm 44,8%; Nhật Bản 110,52 triệu USD, chiếm 16,6% trong đó chủ yếu  
là các sản phẩm dệt may. Đây là cơ hội xuất khẩu lớn khi các quốc gia như Hoa  
Kỳ, Nhật Bản đều là các thành viên của các hiệp định thương mại mà Việt Nam  
tham gia. Ngoài ra, một số thị trường nước ngoài là thành viên của các Hiệp định  
của WTO điều chỉnh hoạt động của ngành dệt may (Hiệp định Tổng quan về  
Thuế quan và Thương mại (1994), Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong  
Thương mại, Hiệp định về Quy định xuất xứ); Hiệp định Đối tác xuyên Thái  
Bình Dương (TPP); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).  
Trước những cơ hội lớn từ các chính sách ưu đãi mà FTAs4 mang lại, doanh  
nghiệp ở tỉnh Thừa Thiên Huế bước đầu đã tiếp cận các quy định trong các Hiệp  
định thương mại như Hiệp định Tổng quan về Thuế quan và Thương mại (1994),  
Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại, Hiệp định về Quy định xuất  
xứ; Hiệp định thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA); Hiệp định thương  
mại Tư do Asean (AFTA); Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản  
(VJEPA); Hiệp định thương mại Tự do Asean – Hàn Quốc (AKFTA), và đồng  
thời khắc phục các rào cản để hội nhập hiệu quả như kiến thức pháp lý về thương  
mại quốc tế ở các thị trường cụ thế, đổi mới công nghệ, minh bạch thông tin  
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xây dựng chiến lược phát triển thị trường,  
nguồn cung nguyên vật liệu, kế hoạch tiếp cận thị trường... để có thể tận dụng tốt  
nhất cơ hội lớn do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại.  
Thực tế hiện nay, việc “đánh thức” dệt may ở tỉnh Thừa Thiên Huế để đón  
đầu các lợi thế về xuất khẩu mà FTAs5 mang lại còn nhiều bất cập khi đa số các  
3 Thanh Hương, Trung tâm dệt may Huế nhiều việc cần phải làm, Báo Thừa Thiên Huế,  
tháng 05 năm 2016.  
4 FTAs được viết tắt bưởi cụm từ tiếng anh (Free Trade Agrement), và nghĩa tiếng Việt được hiểu là các Hiệp  
định thượng mại tự do.  
5 Hiệp định Tổng quan về Thuế quan và Thương mại (1994), Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại,  
Hiệp định về Quy định xuất xứ); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).  
3
doanh nghiệp dệt máy ở Tỉnh có quy mô nhỏ và vừa, tiền lực tài chính yếu,  
thông tin về thị trường xuất nhập khẩu còn hạn chế... Mặc dù, nhân lực dồi dào  
nhưng chuyên môn người lao động ở tỉnh Thừa Thiên Huế còn hạn chế, tính kỷ  
luật cũng như cường độ làm việc còn chưa bắt kịp các yêu cầu chuyên môn hóa  
về sản xuất trong ngành dệt may,…trong khi đó đối tác trong FTAs đều đến từ  
những quốc gia phát triển, có trình độ công nghiệp cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản  
hay Hàn Quốc.  
Trước những cơ hội và thách thức đó, đề tài: “Tác động của các Hiệp định  
thương mại tự do (FTAs) đối với ngành Dệt may của Việt Nam – Qua thực  
tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế” đi sâu phân tích thực trạng, các rào cản khi các  
doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia xuất khẩu sang thị trường  
các nước thành viên của các Hiệp định trong WTO (Hiệp định Tổng quan về  
Thuế quan và Thương mại (1994), Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong  
Thương mại, Hiệp định về Quy định xuất xứ); Hiệp định Thương mại tự do Việt  
Nam - EU (EVFTA); Hiệp định thương mại Tư do Asean (AFTA); Hiệp định  
Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA); Hiệp định thương mại Tự do  
Asean – Hàn Quốc (AKFTA), và (các Hiệp định này sau đây chúng tôi gọi là  
FTAs). Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế, đề tài đề xuất  
các giải pháp chiến lược tổng thể và cụ thể giúp các doanh nghiệp dệt may ở địa  
phương như HBI, Scavi, Dệt may Huế, Vinatex Hương Trà, May xuất khẩu Huế,  
Thiên An Phát, Thiên An Phú,…nhận thức đúng về các hiệp định thương mại  
Việt Nam tham gia, từ đó tận dụng một cách tốt nhất các ưu đãi thương mại,  
chính sách đối với ngành dệt may mà Hiệp định nói trên mang lại, góp phần thúc  
đẩy hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài  
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước  
Liên quan đến lĩnh vực dệt may trong thương mại quốc tế đã trở thành hàng  
hóa có sự lưu thông rất mạnh giữa các thị trường thông quan hoạt động xuất  
nhập khẩu. Các hiệp định thương mại song phương, đa phương, hiệp định  
4
thương mại tự do đã thúc đẩy sự phát triển thị trường dệt may ở các quốc gia. Đi  
đôi với sự phát triển kinh tế nói chung, thương mại trong ngành dệt may nói  
riêng nhiều đề tài, bài viết đã đề cập đến những nội dung pháp lý, những ưu đãi,  
những rào cản và các thách thức được phản ánh khá phong phú. Về dệt may đã  
nhiều công trình đã được tiếp cận đăng tải ở các bài báo, công trình khoa học  
nước ngoài đến thời điểm nghiên cứu tác giả thu thập được như:  
- Global economic prospects (2016), Topical issue: Potential  
Macroeconomic Implications of the Trans-Pacific Partnership (Tạm dịch: Vấn đề  
thời sự: Ý nghĩa kinh tế vĩ mô tiềm năng Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình  
Dương). Bài viết đề cập đến các nội dung liên quan về ưu đãi của TPP mang lại  
cho các thành viên 12 quốc gia ký kết, tăng cường hợp tác thương mại giữa các  
quốc gia và tạo động lực kích thích sự liên kết về thương mại giữa các quốc gia  
trong khối.  
- Lee, H., and K. Itakura (2014), “TPP, RCEP, and Japan’s Agricultural  
Policy Reforms (Tạm dịch: TPP, RCEP, và Nhật Bản cải cách chính sách nông  
nghiệp), OSIPP Dis-cussion Paper 14E003, Osaka, Japan. Trong bài báo này, tác  
giả so sánh tác động phúc lợi và mức độ điều chỉnh ngành dưới tác động của  
TPP. Mục tiêu của nghiên cứu này là để kiểm tra cải cách chính sách nông  
nghiệp của Nhật Bản về sản lượng nông nghiệp.  
- Michaela D. Platzer, Nghiên cứu Quốc hội, U.S. Textile Manufacturing  
and the Trans-Pacific Partnership Negotiations Michaela D. Platzer,  
Congressional Research Service (Tạm dịch: Sản xuất dệt may của Hoa Kỳ và các  
cuộc đàm phán đối tác xuyên Thái Bình Dương). Nội dung nghiên cứu đề cập  
đến Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một thỏa thuận đề xuất  
của khu vực thương mại tự do (FTA) hiện đang được đàm phán giữa 12 quốc gia  
như tiến độ đàm phán, các quy định liên quan đến thương mại dệt may đã trở  
thành tâm điểm thảo luận. Báo cáo xem xét những tác động tiềm năng của thỏa  
thuận TPP, nếu đạt được, cho các ngành công nghiệp sản xuất dệt may của Hoa  
Kỳ.  
5
- Nam Nguyen (2016), Vietnam’s textile-garment industry in the post-TPP  
period (Tạm dịch: Ngành xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong TPP), Báo  
Vietnamnet Tiếng Anh. Bài viết đánh giá TPP sẽ giúp nâng cao sản lượng và  
xuất khẩu ở Việt Nam và tăng cường thương mại hàng hải của mình với Mỹ.  
Ngành dệt may được coi là một trong những ngành công nghiệp mà sẽ được  
hưởng lợi nhiều nhất từ TPP, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang  
các nước tham gia Hiệp định TPP được dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong thời gian  
tới, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ.  
- David Robinson, TPP may help Vietnam sew up clothing exports (Tạm  
dịch: TPP có thể giúp Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu quần áo). Bài viết đề cập đến  
các lợi ích mà Việt Nam có thể hưởng lợi từ các thỏa thuận thương mại Trans-  
Pacific Partnership do Mỹ dẫn đầu trong số bốn nước tham gia khu vực Đông  
Nam Á...  
Ngoài ra, còn các bài viết liên quan đến đề tài như: Lehmann, J. P. 2015.  
“Ce TPP, the WTO, the 21st Century Global Trade Mess and the Poverty of  
Nations.” Forbes, August 3, 2015, Li, C. and J. Whalley (2012), China and the  
TPP: A numerical simulation assessment of the effects involved. NBER  
Working Paper No. 18090. May; Petri, P. A., M. G. Plummer, and F. Zhai  
(2012b), Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Integration: A Quantitative  
Assessment. Washington, DC: Peterson Institute of International  
Economics.Honma, M. (2010), Agricultural trade policy reform in Japan. In: R.  
Meléndez-Ortiz, C.Bellmann, and J. Hepburn, eds., Agricultural Subsidies in the  
WTO Green Box: Ensuring Coherence with Sustainable Development Goals.  
Cambridge: Cambridge University Press...  
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước  
Liên quan đến dệt may, đánh giá tác động về hoạt động xuất nhập khẩu  
hàng hóa dệt may trong xu thế hội nhập quốc tế, đã có nhiều công trình nghiên  
cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn, điễn hình như các nghiên cứu của các tác giả:  
6
- Hà Văn Hội (2012), Phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam,  
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh. Tác phẩm đã trình bày bản  
chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, đồng thời chỉ ra các giai đoạn cụ thể của  
chuỗi giá trị dệt may toàn cầu gồm các giai đoạn như sản xuất nguyên liệu, kéo  
sợi, dệt vải, nhuộm, in vải, cắt may và phân phối sản phẩm, trong đó nhấn mạnh  
đến vai trò của sự liên kết giữa ngành dệt và ngành may trong chuỗi giá trị dệt  
may toàn cầu. Bài viết dựa trên cách tiếp cận từ sản phẩm đầu ra để phân tích và  
làm rõ chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may gồm bốn thành phần chính: khách hàng  
quốc tế, nhà sản xuất trong nước, nguồn cung ứng đầu vào và trung gian. Trong  
mỗi thành phần đó chỉ rõ những nguyên nhân làm cho giá trị gia tăng của hàng  
dệt may xuất khẩu của Việt Nam còn thấp trong chuỗi giá trị xuất khẩu mặt hàng  
này. Từ việc phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may theo cách tiếp cận từ sản  
phẩm đầu ra tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp để ngành dệt may Việt Nam nâng  
cao hiệu quả của sản phẩm dệt may xuất khẩu.  
- Đinh Công Khải (2013), Nâng cao vị thế ngành dệt may Việt Nam trong  
chuỗi giá trị toàn cầu, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, Trường Đại  
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả phân tích chuỗi giá trị dệt may  
toàn cầu, lý giải lý do vì saophải phân tích chuỗi giá trị toàn cầu và phân tích  
chuỗi giá trị dệt may Việt Nam.Từ đó tác giải rút ra một số vấn đề của dệt may  
Việt Nam. Bài viết cũng phân tích vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong  
chuỗi giá trị toàn cầu và đưa ra một số giải pháp chính sách để phát triển cho  
ngành dệt may nước ta.  
- Phạm Minh Đức (2014), Ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh thực  
hiện Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, Hội thảo VICC tại Hà Nội  
và Đà Nẵng do Ngân hàng thế giới tổ chức. Bài viết trình bày một số tác động  
của TPP đối với ngành dệt may, nhất là khi hiệp định có hiệu lực, từ đó đưa ra  
một số cơ hội và thách thức cho ngành dệt may Việt Nam. Từ số lượng các  
nghiên cứu tại Việt Nam liên quan tới việc đánh giá cơ hội và thách thức của  
ngành dệt may trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là các hiệp định  
7
thương mại được thực hiện trong đó có TPP còn rất hạn chế. Bởi vậy bài nghiên  
cứu này bằng phương pháp phân tích dựa trên mô hình cạnh tranh của Michael  
Porter và mô hình SWOT sẽ làm rõ hơn về cơ hội thách thức của ngành dệt may  
Việt Nam trong bối cảnh thực hiện hiệp định TPP. Từ những luận điểm về cơ hội  
thách thức của ngành, bài nghiên cứu cũng chỉ ra những vấn đề tồn tại và biện  
pháp phát triển ngành dệt may trong bối cảnh hội nhập.  
- Thu Hằng (2016), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Cơ hội  
thành “trái ngọt", Báo điện tử Công thương. Bài viết phân tích những thuận lợi  
mà ngành dệt may Việt Nam được hưởng lợi từ các chính sách ưu đãi trong Hiệp  
định TPP; bài viết cũng đưa ra các phân tích bình luận về sức cạnh tranh mạnh  
mẽ khi TPP có hiệu lực giữa các quốc gia trong khối và khuyến cáo khi vào TPP  
để được hưởng ưu đãi trong TPP, các doanh nghiệp cần tìm hiểu và nghiên cứu  
kỹ các thông tin có trong Hiệp định liên quan đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị  
mình, các doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc mà TPP đã đặt  
ra.  
- Nguyễn Huế (2012), Doanh nghiệp dệt may đón bắt cơ hội từ Hiệp định  
TTP, Báo Hải quan điện tử. Bài viết đề cập đến các cơ hội khi doanh nghiệp dệt  
may đón đầu TPP để có thể tận dụng tối đa lợi thế từ TPP, các doanh nghiệp  
cũng cần sự hỗ trợ thông tin về các nguồn nguyên phụ liệu có thể mua được từ  
các nước TPP, thông tin về hệ thống chống bán phá giá và các giải pháp nhằm  
chống lại sự gian lận nguồn gốc xuất xứ có thể xảy ra... Ngoài ra, các doanh  
nghiệp cũng cần chủ động nâng cao năng lực hợp tác với khách hàng thông qua  
việc nâng cao năng lực sản xuất, khả năng giao hàng đúng hẹn, quản lí chất  
lượng và thực hiện trách nhiệm xã hội...  
- Nguyễn Thùy Dung ( 7/2015 ), Cơ hội và thách thức cho các doanh  
nghiệp dệt may khi Việt Nam gia nhập Hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược  
xuyên Thái Bình Dương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bài viết đề cập đến  
những cơ hội, thách thức và một số giải pháp cho các doanh nghiệp dệt may Việt  
Nam khi tham gia TPP. Cụ thể, tác giả giới thiệu Hiệp định hợp tác kinh tế chiến  
8
lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một Hiệp định thương mại tự do (FTA)  
nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do  
chung cho các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hoàn thành đàm phán  
để gia nhập TPP là một trong những mục tiêu quan trọng của Việt Nam. Trong  
các cuộc đàm phán về TPP, các vấn đề liên quan đến lĩnh vực dệt may luôn là  
một nội dung quan trọng có liên quan đến tất cả các nội dung đàm phán. Việc  
đàm phán thành công và gia nhập TPP sẽ mang lại nhiều cơ hội cho nền kinh tế  
Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói riêng (như: Mở  
rộng thị trường và tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng dệt may; các doanh  
nghiệp dệt may sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về thuế; nâng cao năng lực cạnh  
tranh của các doanh nghiệp dệt may...). Tuy nhiên cũng giống như các hiệp định  
khác, ngoài những cơ hội, thì việc Việt Nam gia nhập TPP sẽ tạo ra những thách  
thức lớn cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam (như: Thách thức về quy tắc  
xuất xứ và rào cản kỹ thuật; gia tăng sức ép về mở cửa thị trường và năng lực  
cạnh tranh; thách thức về giải quyết các vấn đề lao động và môi trường...).  
- Nguyễn Tuấn (2016), Thừa Thiên Huế: Gỡ khó cho doanh nghiệp dệt  
may, Báo công thương điện tử. Bài viết đã phân tích những vấn đề bất cập đối  
với các doanh nghiệp dệt may tại tỉnh Thừa Thiên Huế như: địa bàn vẫn chưa có  
cơ sở đào tạo chuyên ngành may - thiết kế thời trang; đội ngũ lao động chủ yếu  
là lao động phổ thông nên doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách  
thức, một số trung tâm dạy nghề chưa thực sự gắn kết các chương trình đào tạo  
với nhu cầu doanh nghiệp nên số lao động sau khi đào tạo doanh nghiệp không  
thể sử dụng mà phải tổ chức đào tạo lại, khá tốn kém và mất thời gian, doanh  
nghiệp dệt may phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nước ngoài. Để giải  
quyết vấn đề này, bài viết cũng đề xuất cần tăng cường công tác xúc tiến đầu tư,  
kêu gọi dự án sản xuất hàng phụ trợ dệt may phân bổ đều tại các khu công  
nghiệp.  
- Trần Minh Tích (2014), Thừa Thiên Huế: Dệt may dẫn đầu tăng trưởng,  
Báo Công thương. Tác giả đã phân tích thể mạnh của ngành dệt may ở tỉnh Thừa  
9
Thiên Huế trong bối cảnh hội nhập, doanh thu tăng và đáp ứng được các điều  
kiện đảm bảo để xuất khẩu. Trong bài viết cũng đưa ra các giải pháp mà ngành  
Công Thương tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và vướng mắc  
cho các doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó sẽ đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng,  
hiệu quả, sức cạnh tranh và tỷ trọng hàng xuất khẩu qua chế biến, có hàm lượng  
công nghệ cao, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu hàng thô. Đồng thời hỗ trợ doanh  
nghiệp xuất khẩu tiếp cận với nguồn vốn tín dụng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh sản  
xuất và tìm kiếm thị trường mới để gia tăng giá trị xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu  
của các đối tác.  
Như vậy, về các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực dệt may và hoạt động  
xuất nhập khẩu trong thương mại quốc tế đã được nhiều học giả nghiên cứu qua  
những vấn đề lý luận và đánh giá thực tiễn cũng như đưa ra cac giải pháp, các  
định hướng nâng cao hiệu quả trong quá trình thúc đẩy xuất khẩu sang các thị  
trường nước ngoài. Tuy nhiên, đa số các công trình hiện nay được thực hiện trên  
cơ sở các bài báo, đề tài tập trung trong thị trường các nước có nền kinh tế lớn  
như Mỹ, Pháp hoặc các thị trường truyền thống như Trung Quốc, WTO. Còn về  
việc thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường khối TPP thì rất ít các công trình phân  
tích sâu, đặc biệt là phát triển ngành ở một địa phương cụ thể. Vì vậy, đề tài  
“Tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối với hoạt  
động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may ở Thừa Thiên Huế” sẽ tiếp tục kế  
thừa các nghiên cứu nêu trên và đưa ra các hướng giải quyết phù hợp với mục  
tiêu và nhiệm vụ đề ra để có sản phẩm ứng dụng hiệu quả đối với các doanh  
nghiệp dệt may ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và ngành dệt may ở Việt Nam  
nói chung trong xu thế vận hành hội nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình  
Dương (TPP).  
3. Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài  
Phân tích được tác động của FTAs đối với hoạt động xuất khẩu của doanh  
nghiệp Dệt may, trọng tâm là các doanh nghiệp Dệt may trên địa bàn tỉnh Thừa  
Thiên Huế. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp góp phần hạn chế các tác động tiêu  
10  
cực từ các FTAs, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu của các doanh  
nghiệp dệt may trong cả nước nói chung, trọng tâm là các doanh nghiệp dệt may  
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu tác động từ quy định của FTAs đối với hoạt động xuất  
khẩu của đối với các doanh nghiệp Dệt may, trọng tâm tại tỉnh Thừa Thiên Huế.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Thứ nhất, về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cam kết của  
Việt Nam trong FTAs (trọng tâm là VKFTA, EVFTA, CPTPP) về ngành dệt  
may, và tác động của những cam kết này đối với hoạt động xuất khẩu của các  
doanh nghiệp Dệt may trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế khi thực thi trong thực  
tiễn. Để có cơ sở xây dựng giải pháp, nhóm tác giả đi từ đánh giá tác động của  
những cam kết trong FTAs đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp  
Dệt may trong cả nước, từ cơ sở đó đánh giá trọng tâm tại tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Thứ hai, về thời gian: Đề tài nghiên cứu thời gian từ tháng 12 năm 2015  
(đây là thời điểm Hiệp định thương mại tự do (VKFTA) giữa Việt Nam và Hàn  
Quốc có hiệu lực) đến tháng 10 năm 2018.  
Thứ ba, về không gian: Đề tài nghiên cứu tác động của FTAs về hoạt động  
xuất khẩu Dệt may của doanh nghiệp Việt Nam, trọng tâm đánh giá tại tỉnh Thừa  
Thiên Huế.  
5. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài  
Để thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu dựa trên nền tảng các lý thuyết sau  
đây:  
Thứ nhất, lý thuyết, quan điểm cho vấn đề tự do hóa thương mại và vấn đề  
thực thi các biện pháp PVTM: Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith  
nhấn mạnh: Để giải quyết sự khán hiếm về lương thực do đất đai ngày càng cằn  
cỗi, Adam Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ  
11  
nước ngoài với giá rẻ hơn. Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai  
nước. Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương; lý  
thuyết về lợi thế so sánh của Davil Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi  
thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so  
với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi  
tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một  
lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh  
nhất định về sản xuất các sản phẩm khác. Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và  
xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, mức sản lượng và tiêu dùng  
trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại. Như  
vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực  
hiện phân công lao động quốc tế; quan điểm của WTO về tự do hóa thương mại  
nhấn mạnh sự cần thiết phải nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào  
lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai  
chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa,  
đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài.  
Thứ hai, lý thuyết về cạnh tranh của các trường phái như: Lý thuyết cạnh  
tranh tự do của Adam Smith [1723 – 1790]; lý thuyết về cạnh tranh có sự điều  
tiết của nhà nước của trường phái Keynes nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có  
can thiệp của Nhà nước như một giải pháp nhằm thoát khỏi tình trạng khủng  
hoảng, thất nghiệp, suy thoái kinh tế.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu đề tài  
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa  
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quan điểm, chủ  
trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng thể chế kinh tế  
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cùng với các nguồn tài liệu  
đã thu thập được, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận án sử dụng các phương  
pháp nghiên cứu cụ thể sau:  
12  
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, kế thừa được sử dụng để  
nghiên cứu các công trình, các quan điểm trong nước cũng như nước ngoài liên  
quan đến nội dung nghiên cứu ở phần Tổng quan tình hình nghiên cứu.  
- Phương pháp phân tích, so sánh, liệt kê được sử dụng ở Chương 1 để luận  
giải ngành dệt may và tác động của FTAs đối với hoạt động xuất khẩu của doanh  
nghiệp Dệt may.  
- Phương pháp phân tich, điều tra, so sánh, tổng hợp số liệu được sử dụng ở  
Chương 2 để đánh giá thực tiễn tác động của FTAs đối với hoạt động xuất khẩu  
Dệt may của doanh nghiệp, trọng tâm tại Thừa Thiên Huế.  
- Phương pháp liệt kê, phân tích, so sánh được sử dụng ở Chương 3 để xây  
dựng hệ thống các giải pháp chung và cụ thể để nâng cao hiệu quả xuất khẩu của  
doanh nghiệp Dệt may trong cả nước, trọng tậm là tại tỉnh Thừa Thiên Huế khi  
thực thi các cam kết trong FTAs.  
6. Những đóng góp của Đề tài  
Kết quả của đề tài là tài liệu có hàm lượng khoa học và độ tin cậy cao, có thể  
sử dụng làm tài liệu tham khảo giúp cho các nhà khoa học, học viên cao học và sinh  
viên nghiên cứu trong lĩnh vực Luật thương mại quốc tế, Luật kinh tế, Kinh tế.  
Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý, các  
doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thừa Thiên Huế nắm bắt các vấn đề pháp lý, các rào  
cản, ưu đãi trong FTAs để có chiến lược sản xuất, kinh doanh nhằm tận dụng các  
lợi thế, khắc phục các rào cản để có thể tận dụng tốt các thuận lợi theo cam kết khi  
xuất khẩu sản phẩm dệt may sang các quốc gia thuộc FTAs.  
13  
B. PHẦN NỘI DUNG  
CHƯƠNG 1  
LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU DỆT MAY VÀ TÁC  
ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐỐI VỚI HOẠT  
ĐỘNG XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA DOANH NGHIỆP  
1.1. Khái quát về ngành Dệt may  
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của ngành Dệt may  
Lịch sử do con người tạo ra. Nhưng muốn tạo ra lịch sử, trước hết con  
người phải tồn tại, phải sống. Do đó, con người trước hết phải ăn, uống, ở, mặc.  
Con người không thể tồn tại nếu thiếu những nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở.  
Xuất phát từ nhu cầu đó, con người đã phát hiện và phát triển Ngành công  
nghiệp Dệt may khá sớm nhằm phục vụ cho nhu cầu “mặc, ở, ngủ” ngày càng  
cao của mình. Lịch sử phát triển chứng minh, công nghiệp Dệt may phát triển từ  
1840 ở nước Anh, sau đó dịch chuyển sang các nước Châu Âu khác, khi các  
ngành công nghiệp Dệt may đã trở thành động lực phát triển chính cho sự phát  
triển thị trường, ngành Dệt may dịch chuyển sang các khu vực mới khám phá ở  
Châu Mỹ. Tiếp theo là từ Châu Âu sang Nhật Bản vào những năm 1950. Từ năm  
1960, khi chi phí sản xuất ở Nhật tăng lên và thiếu nguồn lao động thì công  
nghiệp dệt may lại chuyển dịch tới các nước mới công nghiệp hoá (NICS) như  
Hongkong, Đài loan, Nam Triều Tiên...6. Sở dĩ có sự dịch chuyển này, khi quốc  
gia có nền công nghiệp phát triển, có trình độ kỹ thuật cao, giá lao động cao thì  
sức cạnh tranh trong sản xuất dệt may sẽ giảm, dẫn đến ngành Dệt may ít phát  
triển, chỉ tập trung phát triển những sản phẩm dệt may cao cấp, thời trang để  
phục vụ cho một số người trong xã hội. Điều này xuất phát từ nguyền dân, Dệt  
may là ngành đòi hỏi số lượng lao động lớn, đơn giản dẫn tới giá thành lao động  
được trả thấp hơn so với các ngành công nghiệm chứa đựng hàm lượng kỹ thuật  
cao. Vì vậy, thực tế cho thấy, lịch sử phát triển ngành dệt may thế giới cũng là  
6 Nguồn: https://voer.edu.vn/m/mot-so-van-de-ve-linh-vuc-det-may/b9a86d30, truy cập ngày 5/12/2017.  
14  
lịch sử chuyển dịch công nghiệp Dệt may từ khu vực phát triển sang khu vực  
kém phát triển hơn, xuất phát từ tác động của các lợi thế so sánh, nhằm khai thác  
lợi thế về nguồn nguyên liệu tại chỗ và giá nhân công rẻ7.  
Tiếp theo, khi ngành công nghiệp công nghệ và kỹ thuật cao hơn như điện  
tử, ô tô thay thế, ngành Dệt may mất dần đi lợi thế so sánh. Vì thế, đến năm 1980  
lợi thế so sánh của các quốc gia này chuyển dịch sang sản xuất và xuất khẩu các  
mặt hàng có ngành Dệt may sang các nước Đông Nam á, Trung Quốc rồi tiếp tục  
sang các quốc gia khác, trong đó có Việt nam. Từ đó, Việt Nam đã tiếp nhận và  
phát triển, đạt được mức xuất khẩu cao về sản phẩm dệt may trong những thập  
kỷ qua, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cụ thể,  
ngành Dệt may Việt Nam sau hơn 20 năm liên tục phát triển với tỷ lệ tăng  
trưởng bình quân 15%/năm, đến nay đã vươn lên trở thành ngành kinh tế hàng  
đầu cả nước, với kim ngạch xuất khẩu đóng góp từ 10%-15% GDP hàng năm8.  
Ngành Dệt may được hiểu là ngành công nghiệp liên quan đến việc sản xuất  
sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là  
phân phối hàng may mặc tới tay người tiêu dùng. Ngành Dệt may có những đặc  
điểm sau:  
Thứ nhất, Dệt may là ngành cung cấp sản phẩm thiết yếu nên thị trường tiêu  
dùng là rất lớn. Sản phẩm của Ngành Dệt may rất đa dạng và phong phú, có tính  
chất thời trang, vừa có tính quốc tế, vừa có tính dân tộc, Đồng thời, các sản phẩm  
do Ngành Dệt may tạo ra là những sản phẩm dùng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu  
như mặc, ngủ, ở, do đó người tiêu nào cũng phải dùng tới nên thị trường tiêu thụ  
hết sức rộng lớn, không những cho nhu cầu trong nước mà còn nhu cầu của các  
nước khác. Có thể kể tới một số sản phẩm như: Nhóm mặt hàng lót; nhóm mặt  
7 Lý thuyết về lợi thế so sánh của Davil Ricardo đã chỉ rằng: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn  
các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và  
vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh  
nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác. Bằng  
việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, mức sản lượng và tiêu dùng  
trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại.  
8 Nguồn: investvietnam.gov.vn/...%20báo%20cáo%20ngành%20dệt%20may/Vietinbank%20S., truy cập ngày  
5/12/2017.  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 102 trang yennguyen 20220 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTAS) đối với ngành dệt may của Việt Nam – Qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_tac_dong_cua_cac_hiep_dinh_thuong_mai_tu_do_f.pdf