Báo cáo Đề tài Giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƢỜI HỌC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THEO DI CHÚC
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Mã số:ĐTSV.2020.08
Chủ nhiệm đề tài: Trần Bá Nam
Lớp: Đại học Chính trị học 18A
Cán bộ hƣớng dẫn: ThS. Ngô Văn Hùng
Hà Nội, năm 2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƢỜI HỌC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THEO DI CHÚC
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Mã số: ĐTSV.2020.08
Chủ nhiệm đề tài: Trần Bá Nam
Thành viên tham gia: Phạm Mai Linh
Nguyễn Thị Kim Dung
Nguyễn Vũ Hoa Thiên
Lớp: 1805CTHA & 1805CSCA
Cán bộ hƣớng dẫn: ThS. Ngô Văn Hùng
Hà Nội, năm 2020
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài: “Giáo dục đạo đức cho sinh
viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh” nhóm tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy,
cô giáo Trường Đại học Nội vụ Hà Nội để hoàn thành công trình nghiên cứu
khoa học này.
Với tình cảm chân thành, nhóm tác giả bày tỏ lòng biết ơn đối với Khoa
Khoa học Chính trị– Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo đã
tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ nhóm trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu.
Chúng em xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến thầy giáo, Ths. Ngô Văn
Hùng – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, tài liệu và phương
pháp để nhóm chúng em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này.
Tuy nhiên điều kiện về năng lực của nhóm nghiên cứu còn hạn chế,
chuyên đề nghiên cứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và những
nhà nghiên cứu quan tâm đến đề tài để bài nghiên cứu của em được hoàn thiện
hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Trần Bá Nam
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................
DANH MỤC BIỂU ĐỒ.........................................................................................
PHẦN MỞ ĐẦU.................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài.............................................................................. 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
6. Đóng góp mới của đề tài ............................................................................... 6
7. Kết cấu của đề tài .......................................................................................... 7
1.1. Một số khái niệm cơ bản........................................................................... 8
Việt Nam hiện nay. ...................................................................................... 27
thống cho sinh viên...................................................................................... 29
Tiểu kết chƣơng 1.............................................................................................. 44
học Nội vụ Hà Nội....................................................................................... 60
Tiểu kết chƣơng 2.............................................................................................. 66
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH
NQ-TW
GDP
Chủ nghĩa xã hội
Nghị quyết Trung ương
Tổng sản phẩm nội địa
Trước công nguyên
TCN
QĐ-BGD&ĐT
BNV-TCCB
CĐNV
Quyết định- Bộ Giáo dục và đào tạo
Bộ Nội vụ-Tổ chức cán bộ
Cao đẳng Nội Vụ
HCTC
Hành chính tổ chức
CLB
Câu lạc bộ
CNTT
Công nghệ thông tin
Giáo dục và đào tạo
Đội ngũ giáo viên
GD&ĐT
ĐNGV
TNCS
Sinh viên cộng sản
CNH-HĐH
TSVM
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
trong sạch vững mạnh
vững mạnh toàn diện
VMTD
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc giáo dục, rèn
luyện, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Người luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của thế hệ trẻ
đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong thư gửi học sinh nhân
ngày khai trường đầu tiên sau cách mạng tháng tám năm 1945, Bác Hồ viết: Non
sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài
vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là
nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. Chính vì thế, trong “Di chúc”,
Người không quên căn dặn Đảng ta: bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là
một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Đối với thế hệ trẻ, lực lượng sinh viên sinh viên đóng một vai trò rất quan
trọng. Đó là lực lượng có sức khỏe, có tri thức, có hoài bão, luôn khát khao vươn
tới cái đẹp, dám nghĩ, dám làm, là lực lượng tiếp sức cho thế hệ đi trước, dìu dắt
thế hệ đi sau. Sự chuyển đổi từ mô hình quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang mô hình quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường và mở
rộng hợp tác quốc tế đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có
đạo đức, nhân cách của sinh viên sinh viên. Bên cạnh sự xuất hiện những giá trị
đạo đức mới, nếp sống văn hoá mới lành mạnh thì một số giá trị đạo đức truyền
thống, nếp sống văn hoá truyền thống tốt đẹp bị xâm hại, mai một. Vì vậy, cùng
với sự chủ động, tự giác xây dựng nền kinh tế thị trường và mở rộng hợp tác
quốc tế, việc tăng cường giáo dục đạo đức mới nói chung và giáo đạo đức Hồ
Chí Minh cho sinh viên nói riêng là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết, là chiến
lược của Đảng để phát huy những ảnh hưởng tích cực, ngăn ngừa ảnh hưởng
tiêu cực đến đạo đức, nhân cách của sinh viên, giúp họ trở thành những người
vừa “hồng” vừa “chuyên”, kế thừa trung thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
Năm 2019 là năm thực hiện phát động phong trào thực hiện 50 năm Di
chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội là một trong
những ngôi trường đi tiên phong. Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội chuyên đào
1
tạo ra các nguồn nhân lực làm việc trong các cơ quan hành chính cấp xã,
phường, huyện, tỉnh, trung ương và một số làm việc trong các doanh nghiệp
trong và ngoài nước. Trường luôn tạo và hình thành tiếp cận những giá trị văn
hóa lành mạnh theo định hướng, đường lối bắt kịp xu hướng của thời đại để góp
phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự phát triển của thời đại làm
nhiều giá trị truyền thống bị lu mờ lạc hậu không còn phù hợp trở thành bước
cản đối với sự phát triển của sinh viên. Theo thực trạng của Trường thì trong
giai đoạn hiện nay giới trẻ nói chung của trường và một phần giới trẻ của cả
nước có 2 đặc điểm nổi bật đó là tính năng động , tính hướng ngoại. Tính hướng
ngoại được hiểu là dễ tiếp thu cái mới và hấp thụ các ảnh hưởng ngoại lai.
Hướng ngoại trong giai đoạn mở cửa hội nhập , ở giới trẻ xuất hiện nhiều
hiện tượng bất thường, phá cách, lệch chuẩn “gây sốc” cho xã hội được xem là
xói mòn những giá trị văn hóa, giáo dục truyền thống như xăm trổ thời trang
sành điệu thay cho những mái tóc dài đen nhánh. Mặt khác ảnh hưởng của nền
văn hóa ngoại lai gây ảnh hưởng không đến việc tu dưỡng đạo đức của sinh viên
Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội. Họ sống thờ ơ, sống buông thả và tiếp cận
nhanh cá văn hóa phẩm độc hại, những tư tưởng đạo đức sai lệch chính điều này
là một bất lợi lớn cho sinh viên đang sống và học tập rèn luyện tại Trường.
Thêm vào đó còn một số nguyên nhân ngoài tác động như những vấn đề bất ổn
về kinh tế, chính trị khiến cho phàn lớn sinh viên không có động lực phấn đấu,
thiếu cảm hứng sống, thiếu sựu tự tin, thiếu kiến thức.
Xuất phát từ những nguyên nhân , lý do trên nhóm sinh viên chúng tôi lựa
chọn đề tài : “Giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam nói chung và cho đối tượng
sinh viên các trường Đại học nói riêng là công tác được Đảng và Nhà nước hết
sức quan tâm. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn luận án,
hội thảo về giáo dục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu như:
2
2.1. Về sách
- Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh
(2019): 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2019), Nxb
Thông Tấn, Hà Nội.
- Vũ Khiêu (1974): Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Trần Quang Nhiếp, Nguyễn Văn Sáu (06/2008): Giá Trị Cơ Bản Về Tư
Tưởng, Đạo Đức Hồ Chí Minh, Nxb Công an nhân dân, Thăng Long.
- Bùi Công Đính (2009): Nguồn sáng Hồ Chí Minh, Nxb Sinh viên,Hà
Nội.
- Nguyễn Văn Tùng(1999): Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
sinh viên, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
- TS. Đoàn Nam Đàn (2008): Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục sinh
viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu vô cùng phong phú cung
cấp luận cứ khoa học xoay quanh vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh
viên. Đó không chỉ là những cơ sở lý luận phù hợp cho hoạt động NCKH mà
còn cung cấp cho giảng viên và sinh viên nghiên cứu học tập và làm theo Di
chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2.2. Về báo, tạp chí, bài viết trên Internet
- PGS Trần Thành – Lê Quang Hoan (số 1/2000): Hồ Chí Minh với vấn đề
nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH, Tạp chí nghiên cứu lý luận. Các
tác giả đã khái quát một số nội dung có ý nghĩa phương pháp luận của Hồ Chí
Minh về vấn đề con người như giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xây dựng
CNXH, đạo đức cách mạng,…
- Trương Gia Long (2003): Định hướng giá trị giáo dục trong sinh viên
hiện nay,Tạp chí Cộng sản.
- TS. Nguyễn Thị Thanh ( số 3/2010): Tư tưởng hồ Chí Minh về sinh viên
và công tác sinh viên, Tạp chí Lý luận chính trị.
- Song Thành (2005): Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức-một
nguyên trắc cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh,Tạp chí cộng sản.
3
Các bài viết trên đã luận bàn một số vấn đề xoay quanh việc giáo dục đạo
đức cho sinh viên ở nước ta. Qua đó, các bài viết đã chỉ ra nguyên nhân của việc
suy thoái đạo đức trong sinh viên và chỉ ra định hướng giáo dục đạo đức sinh viên
theo các chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay ở nước ta.
2.3. Về luận văn, luận án,đề tài khoa học
Trần Minh Đoàn (2002): Giáo dục đạo đức cho sinh viên học sinh theo tư
tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Hoàng Thị Ngọc Minh (2014): Giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh
viên thành phố Hà Nội theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Hồ Chí Minh học.
Đinh Ngọc Quý (2006): Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Hồ Chí Minh học.
Trần Thị Phúc An (2006): Sáng tạo của Hồ Chí Minh trong cách tiếp cận
chủ nghĩa xã hội và thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Luận văn
thạc sĩ Hồ Chí Minh học.
Nguyễn Ngọc Long (2001): Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
Lương Thị Thúy Nga (2019): Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh
viên Đại học Thái Nguyên hiện nay, Luận án tiến sĩ, Hà Nội.
PGS.TS Phạm Hồng Chương (2009): Phương thức giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh cho sinh viên, thiếu niên, đề tài khoa học cấp Bộ (B09-20), Viện Hồ
Chí Minh, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài này đi sâu nghiên
cứu, làm rõ nội dung, phương thức, phương châm giáo dục tư tưởng Hồ Chí
Minh cho sinh viên , thiếu niên và từ đó đã đưa ra những phương thức cụ thể về
giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho thanh thiếu niên hiện nay.
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Thị Giang ( 2008): Tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh với việc định hướng giá trị đạo đức cho sinh viên ở nước ta hiện nay,
Hà Nội.
Các luận văn, luận án trên đã cung cấp cơ sở lý luận phong phú, toàn diện
4
về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho luận văn. Tuy nhiên, các luận văn,
luận án trên chưa nghiên cứu việc giáo dục đạo đức gắn liền với thực hiện cuộc
vận động “50 năm thực hiện Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh”.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục tiêu:
Đề tài đặt trên cơ sở làm rõ lý luận về giáo dục đạo đức, khảo sát, đánh
giá nhận thức về đạo đức lối sống của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội,
để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu làm rõ tình hình nghiên cứu liên quan đến đạo đức Hồ Chí
Minh và giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên, chỉ ra những vấn đề đã
được nghiên cứu và những vấn đề đề tài cần tiếp tục nghiên cứu.
Nêu lên một số khái niệm cơ bản liên quan để định hướng nghiên cứu, hệ
thống hóa, khái quát hóa nội dung đạo đức Hồ Chí Minh.
Phân tích, làm rõ nội dung giáo dục đạo đức theo Di chúc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh cho sinh viên, từ sự cần thiết phải giáo dục đạo đức theo Di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức Hồ Chí
Minh cho sinh viên.
Vận dụng nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên theo Di chúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh vào đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho
sinh viên Đại học Nội vụ Hà Nội; chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân
và những vấn đề đặt ra.
Dự báo những nhân tố tác động đến việc giáo dục đạo đức cho sinh viên
và yêu cầu đặt ra trong giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh .
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức Hồ
Chí Minh cho sinh viên Đại học Nội Vụ Hà Nội hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
5
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “ giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường
Đại học Nội vụ Hà Nội theo di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh” là: sinh
viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Không gian: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Thời gian: từ năm 2019 đến năm 2020.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: sinh viên trường Đại học Nội Vụ Hà
Nội
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Công trình nghiên cứu thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng về giáo dục đạo đức
nói chung và giáo dục đạo đức cho sinh viên nói riêng.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai, công trình nghiên cứu còn sử dụng các nhóm
phương pháp nghiên cứu khoa học như:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: sử dụng phương pháp logic,
lịch sử, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa...
Các phương pháp chính được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài
gồm: phương pháp tiếp cận lịch sử và logic, phương pháp phỏng vấn,điều tra
bằng bảng hỏi, phương pháp xử lý thông tin,…
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về việc giáo dục đạo đức cho
sinh viên dựa trên Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội hiện nay.
Đánh giá nhứng tác động của việc giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên
với điều chỉnh nhận thức, hành vi của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho
sinh viên ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội hiện nay.
Đưa ra nguyên nhân của các thành tựu đạt được và hạn chế còn tồn tại.
6
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên hay thanh thiếu niên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Một số cơ sở lý luận khoa học cho việc đổi mới giáo dục đạo đức cho
thanh thiếu niên theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ cái viết tắt, danh mục tài liệu
tham khảo , đề tài gồm 3 chương 10 tiết:
Chƣơng 1. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THEO DI
CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Chƣơng 2. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƢỜNG
ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THEO DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ
MINH- THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
NỘI VỤ HÀ NỘI
7
Chƣơng 1.
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THEO DI CHÚC
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm Đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức
học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy
Lạp cổ đại.
Theo Phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos
(moris) - lề thói, ( moralis) nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa. Còn
“luân lý” thường xem như đồng nghĩa với “ đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là
ạthicos nghĩa là lề thói, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo
đức, tức là nói đến những lề thói, tập tục và biểu hiện mối quan hệ giữa người
với người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân
biệt hai khái niệm moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học. Theo Phương
Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ
cách hiểu về đạo đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất
của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau
khái niệm đạo đức vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo
còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội.
Khái niệm Đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ
đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến
nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là
nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói, đạo đức của người Trung Quốc cổ đại
chính là những yêu cầu, những nguyên tắc đó cuộc sống đặt ra mà mỗi người
phải tuân theo[17, tr.7,8] .
Theo Giáo trình đạo đức học Mác Lênin, ngày nay đạo đức được định
nghĩa rằng: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của
con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi
8
niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Theo Từ điển Tiếng Việt, đạo đức được hiểu là: Những tiêu chuẩn, yêu
cầu được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người
đối với nhau và đối với xã hội; Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng
theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có .
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức: “Đạo đức” có thể hiểu theo ba
nghĩa: rộng, hẹp và rất hẹp.
Theo nghĩa rộng: Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, nhờ đó còn người tự
giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu bản chất,
giá trị của con người trong các mối quan hệ xã hội.
Theo nghĩa hẹp: Đạo đức là các quy tắc, chuẩn mực dùng để điều chỉnh
hành vi con người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống.
Theo nghĩa rất hẹp: Đạo đức là những hành vi, hành động cá nhân thể
hiện quan niệm của cá nhân đối với xã hội và đối với người khác, thể hiện lương
tâm hoặc bổn phận cá nhân trong những hoàn cảnh đặc thù không lặp lại. Trên
cơ sở đó khai thác từ ba khía cạnh trên. Hồ Chí Minh tập trung bàn nhiều về đạo
đức theo nghĩa hẹp với ba mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với
người, với việc).
Từ những phân tích trên, có thể khái quát: Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội, bao gồm một hệ thống những quy tắc, chuẩn mực và thang giá trị được
xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong
quan hệ với người khác, với cộng đồng và toàn xã hội cho phù hợp với lợi ích
của con người và sự tiến bộ của xã hội. [54]
Như vậy, đạo đức không phải có sẵn mà được hình thành từ khi có xã hội
loài người và tồn tại cùng loài người.Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,
đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, mà tồn tại xã hội luôn luôn vận động và phát
triển nên hệ thống các quy tắc và chuẩn mực đạo đức có tính lịch sử. Tuy nhiên,
nhiều chuẩn mực, giá trị đạo đức như chân, thiện, mỹ có ý nghĩa nhân loại và
tồn tại phổ biến trong nhiều xã hội khác nhau. [38, tr.28]
9
1.1.2. Khái niệm Giáo dục đạo đức
Để hiểu được nội hàm khái niệm “Giáo dục đạo đức”, trước hết cần hiểu
khái niệm “Giáo dục”. Theo Từ điển Tiếng Việt:Giáo dục là hoạt động nhằm tác
động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối
tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng
lực như yêu cầu đề ra.
Giáo trình Giáo dục học đại cương cho rằng: “Giáo dục là hiện tượng xã
hội đặc biệt, là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử- xã hội của các thế
hệ loài người…” [53,tr.9].
Qua các định nghĩa trên, cho ta thấy: Xét về bản chất, giáo dục là quá
trình tổ chức, tác động vào đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng,
xây dựng tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen, hành vi văn
minh trong cuộc sống, phù hợp với những chuẩn mực mà xã hội thừa nhận. Xét
về mặt phạm vi, giáo dục được hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau: Giáo dục theo
nghĩa rộng là giáo dục xã hội, là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực
lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành
những phẩm chất nhân cách; theo nghĩa hẹp, giáo dục là giáo dục trong nhà
trường, là quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch, theo quy trình chặt chẽ
của các nhà sư phạm trong nhà trường nhằm cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ
năng và thái độ, xây dựng nhân cách theo mong muốn của xã hội; theo nghĩa rất
hẹp, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất
cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu. [38, tr.31]
Có nhiều yếu tố tác động đến quá trình phát triển và hoàn thiện của mỗi
con người, nhưng có thể khẳng định, giáo dục là yếu tố chủ yếu nhất. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo
dục mà nên” [21, tr.413]
Theo Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức là một quá trình tác động vào con
người để hình thành nên những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ở con người. Người
đã từng nói về việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là “Đảng cần phải chăm lo
giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây
10
dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên” ” [34, tr.612].
Bản chất của giáo dục đạo đức là một quá trình tổ chức, hướng dẫn, kích
thích hoạt động tích cực của người được giáo dục, giúp họ nhận thức được nội
dung của các giá trị đạo đức, từ đó, hình thành nên hệ thống thái độ và hành vi
của cá nhân, phù hợp với chuẩn mực, giá trị đạo đức của cộng đồng và xã hội.
Giáo dục đạo đức góp phần nâng cao khả năng nhận thức các giá trị, chuẩn mực
đạo đức cho mỗi người thông qua việc chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát
sang tự giác, từ bị động sang chủ động. Giáo dục đạo đức nhằm giữ gìn, phát
huy những giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống và góp phần tạo ra những
giá trị, chuẩn mực đạo đức mới. Đồng thời, giáo dục đạo đức góp phần tích cực
vào việc đấu tranh chống lại những biểu hiện suy thoái về đạo đức, các hiện
tượng phi đạo đức, sự lệch chuẩn các giá trị nhân cách, quan niệm đạo đức lạc
hậu đang diễn ra trong đời sống, xã hội. Giáo dục đạo đức còn góp phần vào
việc truyền lại cho thế hệ sau những chuẩn mực, giá trịđạo đức truyền thống mà
các thế hệ đi trước đã dày công xây dựng và gìn giữ.
Bằng con đường giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng sẽ góp
phần hình thành và phát triển nhân cách tốt đẹp cho mỗi con người. Như vậy,
giáo dục đạo đức được hiểu là sự tác động một cách tích cực của chủ thể đến đối
tượng giáo dục để hình thành trong họ ý thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng đạo
đức và thông qua sự tác động này, đối tượng giáo dục tự biến đổi bản thân mình, tự
hoàn thiện những phẩm chất đạo đức, năng lực phù hợp yêu cầu đề ra. [38, tr.32]
1.1.3. Khái niệm Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên
Sinh viên là những người đang học tập trong các trường đại học, cao
đẳng, là lứa tuổi có sự trưởng thành nhất định về mặt sinh học, tâm lý và xã
hội.Việc giáo dục cho sinh viên, trong đó có giáo dục đạo đức nhằm hình thành
nhân cách và chí hướng cho sinh viên là rất quan trọng và cần thiết. Trên cơ sở
phân tích nội hàm khái niệm “Giáo dục đạo đức” và “Đạo đức theo tư tưởng Hồ
Chí Minh”, nhóm tác giả bước đầu đưa ra khái niệm: Giáo dục đạo đức Hồ Chí
Minh cho sinh viên là quá trình giáo dục thường xuyên, tích cực nội dung tư
tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên thông qua các
11
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_cao_de_tai_giao_duc_dao_duc_cho_sinh_vien_truong_dai_hoc.pdf

