Báo cáo Đề tài Nghiên cứu các phương án hợp tác thương hiệu của các ngân hàng thương mại Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
======o0o=======  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI: KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG  
MS: CS16 - 26  
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG ÁN HỢP TÁC  
THƯƠNG HIỆU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI  
VIỆT NAM  
Chủ nhiệm đề tài:  
Ths. Nguyễn Thị Vân Quỳnh  
Hà Nội, Năm 2017  
1
TÓM LƯỢC  
Hợp tác thương hiệu là một công cụ trong quản trị thương hiệu, thường  
mang đến nhiều hơn những cơ hội cho mỗi thương hiệu. Vì thế, hiện nay, các  
phương án hợp tác thương hiệu luôn được quan tâm, vận dụng một cách linh  
hoạt nhất tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp và quy mô, đặc điểm kinh  
doanh của doanh nghiệp.  
Đề tài nghiên cứu về các phương án hợp tác thương hiệu trong lĩnh vực  
ngân hàng nói chung và tại một số ngân hàng thương mại của Việt Nam nói  
riêng, để từ đó rút ra được những bài học cả về thành công và chưa thành công  
từ các phương án hợp tác thương hiệu đó, khuyến cáo đối với các ngân hàng và  
đặc biệt là vận dụng phục vụ cho giảng dạy về quản trị thương hiệu tại Trường  
Đại học Thương mại, viết các giáo trình liên quan như Chiến lược thương hiệu,  
Định giá và chuyển nhượng thương hiệu.  
Đề tài có kết cấu 3 chương, theo đó, chương 1 tập hợp và xác lập khung lý  
luận cơ bản về thương hiệu và hợp tác thương hiệu (co-branding) làm căn cứ  
giải quyết các nội dung của các chương sau. Chương 2 của đề tài đi sâu phân  
tích thực trạng hoạt động hợp tác thương hiệu của một số ngân hàng thương mại  
Việt Nam, theo các phương án, quy mô và dạng thức hợp tác, từ đó tìm ra những  
hạn chế cần khắc phục bên cạnh với những thành công từ quá trình hợp tác  
thương hiệu của các ngân hàng. Chương 3 đề xuất một số khuyến nghị cho các  
ngân hàng thương mại và những kết luận mang tính khao học được rút ra từ quá  
trình nghiên cứu (cả lý luận và thực tiễn) để có thể vận dụng trong giảng dạy và  
biên soạn giáo trình tại Bộ môn Quản trị Thương hiệu của Trường Đại học  
Thương mại.  
Để nghiên cứu đề tài, các phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp  
được sử dụng, từ đó quy nạp và khái quát những vấn đề cơ bản liên quan đến lý  
luận và thực tiễn hợp tác thương hiệu.  
Do hạn chế về thời gian và năng lực nghieien cứu, đề tài mới chỉ dừng lại  
tìm hiểu và phân tích một số dạng thức (phương án) hợp tác thương hiệu chủ  
yếu, được áp dung nhiều tại các ngân hàng thương mại của Việt Nam. Nhiều  
vấn đề khác như, kiểm chứng kết quả và đánh giá hiệu lực hợp tác thương hiệu  
của các ngân hàng và khả năng vận dụng một số phương án hợp tác thương hiệu  
2
có tính đặc thù và liên kết cao chưa được nghiên cứu trong đề tài này. Các  
nguồn dữ liệu chủ yếu là thu thập nguồn thứ cấp để phân tích, việc khảo sát thực  
tế để có nguồn dữ liệu sơ cấp chưa được thực hiện một cách rộng rãi và chi tiết.  
3
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên  
quan đến vấn đề nghiên cứu  
1.1. Ngoài nước  
Vấn đề hợp tác thương hiệu (co-branding) đã được nghiên cứu cả trên góc  
độ lý luận và thực tiễn, theo đó, đã chỉ ra được các mô hình hợp tác thương hiệu  
ứng với các cấp độ xây dựng thương hiệu (lever branding) khác nhau mà các  
doanh nghiệp có thể vận dụng. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:  
- Aaker David(1996), Building Strong Brands. New York: Free Press.  
- Abratt, Russell and Patience Motlana (2002), Managing Co-Branding  
Strategies: Global Brands into Local Markets, Business Horizons, St, Martin's  
Press, New York.  
- Bagozzi, Richard P. and Youjae Yi (1988), On the Evaluation of  
Structural Equation Models, Journal of the Academy of Marketing Science, 16  
(1), 74-94.  
- Costas Hadjicharalambous (2006), A typology of brand extensions:  
positioning cobranding as a sub - case of brand extension, Journal of American  
Academy of Business. 10 (1) tr. 372 - 377.  
- Goh, Kevin and Mark Uncles (2003), The Benefits of Airline Global  
Alliances: An Empirical Assessment of the Perceptions of Business Travelers,  
Transportation Research, 37 (6), 479-497.  
- Keller, Kevin L. (1993), Conceptualizing, Measuring, Managing  
Customer-Based Brand Equity, Journal of Marketing, 57 (1), 1-22.  
- Whan Park, Sung Youl Jun & Allan Shocker (1996), Composite  
Branding Alliances: An Investigation of Extension and Feedback Effects,  
Journal of Marketing Research. 33(4), tr. 453 - 466.  
- Cuốn sách Co-Branding: The Science of Alliance của tác giả Tom  
Blackett (2000, Palgrave Macmillan), cuốn sách đề cập đến ngày càng nhiều chủ  
sở hữu thương hiệu chuyển sang đồng xây dựng thương hiệu như một cách để  
tăng thêm giá trị hơn nữa cho tài sản thương hiệu của họ. Sự kết hợp có thể được  
4
tạo ra bởi hai thương hiệu kết hợp làm việc cùng nhau để tăng lợi nhuận và xác  
định giá trị thương hiệu cho cả hai bên.  
- Cuốn sách Co-Branding as a Tool for Strategic Brand Activation của tác  
giả Antonia Kohlbrenner (2008, VDM Verlag), cuốn sách nói về tầm quan trọng  
trong việc lựa chọn đối tác trong bối cảnh hợp tác thương hiệu và giải thích rằng  
việc lựa chọn đối tác phụ thuộc vào các mục tiêu hợp tác xây dựng thương hiệu  
khác nhau.  
- Cuốn sách Multiple Co-Branding: From the Consumer's Point of View  
của tác giả Inca Beckmann (2005, Diplomarbeiten Agentur diplom.de), trong  
cuốn này tác giả tập trung vào một xu hướng mới trong hợp tác thương hiệu: xây  
dựng đồng thương hiệu.  
- Cuốn sách Co-Branding: Fit Factors Between Partner Brands đề cập  
đến các công ty đang liên tục tìm kiếm các cơ hội mới để khai thác và thúc đẩy  
thương hiệu hiện tại của họ để đạt được tăng trưởng kinh doanh. Trong quá khứ,  
các công ty đã tận dụng tài sản quan trọng nhất đó là thương hiệu, thông qua  
thương hiệu và mở rộng thương hiệu. Ngày nay, xu hướng sử dụng vốn chủ sở  
hữu trên thương hiệu gần đây nhất được gọi là đồng thương hiệu, trong đó hai  
hoặc nhiều thương hiệu được xuất hiện chung với nhau tạo thành một sản phẩm  
hoặc dịch vụ mới. Chiến lược xây dựng thương hiệu mới hứa hẹn nhiều lợi ích,  
đặc biệt đối với các công ty hoạt động trên thị trường quốc tế với các thương  
hiệu toàn cầu mạnh mẽ. Cuốn sách này nghiên cứu về nhận thức của sự phù hợp  
giữa hai hay nhiều thương hiệu đối tác trong một liên doanh đồng thương hiệu.  
Các nghiên cứu trước đây đã xác định được sự phù hợp giữa các thương hiệu đối  
tác dẫn đến một đánh giá tích cực về các sản phẩm đồng thương hiệu của các  
công ty. Nhưng tại sao một số thương hiệu được coi là phù hợp với nhau và  
những thương hiệu khác thì không? Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu này điều  
tra những yếu tố nào (ví dụ như mức giá tương tự, nhóm mục tiêu, loại sản  
phẩm) dẫn đến sự phù hợp giữa các nhãn hiệu đối tác.  
- Cuốn sách Brand Together: How Co-Creation Generates Innovation  
and Re-energizes Brands đề cập đến một công cụ mới cho các nhà tiếp thị và  
quản lý thương hiệu, đồng sáng tạo đang nhanh chóng trở thành một cách thức  
được công nhận và hiệu quả để thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh và tăng cường  
và bảo vệ danh tiếng thương hiệu. Brand Together cho thấy làm thế nào để thu  
5
hút sự tham gia của tất cả các bên liên quan - nhân viên, khách hàng và khách  
hàng - trong quá trình đồng tạo ra và đổi mới để giúp thương hiệu thành công  
trong thế giới mới của sự tham gia và tham gia của khách hàng. Nó cho thấy  
cách tạo dựng sự sáng tạo với chiến lược thương hiệu và cung cấp hướng dẫn  
thiết thực về cách hợp tác với khách hàng từ quan điểm thương hiệu. Dựa trên  
các cuộc phỏng vấn với 20 nhà quản lý từ khắp nơi trên thế giới và thông tin chi  
tiết từ 236 thành viên của một cộng đồng trực tuyến độc đáo được tạo ra đặc biệt  
cho cuốn sách này. Tác giả và nhà tư vấn Nicholas Ind, cùng với Clare Fuller và  
Charles Trevail, những người tiên phong trong việc tạo dựng thương hiệu, cung  
cấp những hiểu biết giá trị cho các chuyên gia marketing và thương hiệu và cho  
những cá nhân muốn phát triển kinh doanh và thương hiệu của họ. Nghiên cứu  
và ví dụ điển hình bao gồm Kraft Foods, McDonald's, IBM, Google và Lego.  
Các công trình nghiên cứu này đã đề cập từ góc độ lý luận về hợp tác  
thương hiệu, những điều kiện có thể vận dụng và các mô hình hợp tác thương  
hiệu chủ yếu gắn với từng cấp độ xây dựng thương hiệu. Các nghiên cứu thực tế  
được triển khai tại một số doanh nghiệp như các hãng hàng không, các siêu thị,  
các doanh nghiệp sản xuất các thiết bị điện tử và hàng tiêu dùng.  
Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra được rằng, mỗi mô hình hợp tác và cấp  
độ hợp tác khách nhau có thể ứng dụng hiệu quả trong những điều kiện nhất  
định và cần xuất phát từ định hướng chiến lược thương hiệu của doanh nghiệp.  
Lợi ích có được từ kết quả hợp tác thương hiệu có thể khác nhau do rất nhiều  
yếu tố tác động trong đó, việc xác định được đặc thù của sản phẩm, nhóm khách  
hàng mục tiêu và thị trường đích mà doanh nghiệp nhắm đến có mức đọ quan  
trọng cao nhất.  
Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa thấy đề cập trực tiếp với các ngân hàng  
thương mại, đặc biệt đối với các ngân hàng định vị là ngân hàng bán lẻ.  
1.2. Trong nước  
Tại Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về hợp tác thương  
hiệu, điển hình là các công trình như:  
- Bảo An. Citimart hợp tác với Aeon (Nhật Bản) ra mắt thương hiệu Aeon  
Citimart, truy cập ngày 20/3/2015, tại http://www.tinmoi.vn/citimart-hop-tac-  
6
- Vũ Thị Hồng Hạnh - Công ty thương hiệu LANTA (2004), Co-  
branding: hợp tác thương hiệu, truy cập ngày 29-05-2014, tại trang web -  
- Nguyễn Thị Lan, 2010, Chiến lược hợp tác thương hiệu - kinh nghiệm từ  
các tập đoàn lớn trên thế giới, Luận văn thạc sỹ, ĐH Ngoại thương.  
- Lê Mai Thi (2008), Co.opMart hợp tác xây dựng thương hiệu gạo đặc  
sản  
ĐBSCL,  
truy  
cập  
ngày  
29-05-2014,  
tại  
trang  
web  
- Nguyễn Quốc Thịnh, Nguyễn Thành Trung, 2009, Thương hiệu với nhà  
quản lý, NXB Lao động - Xã hội.  
- Phương Trinh Co-branding - xu hướng kinh doanh mới, truy cập ngày  
- Nguyễn Bảo Trung (2010), Hợp tác thương hiệu (co-branding) - Công  
cụ marketing hiện đại, Tạp chí Marketing, số 17.  
- Thời báo Ngân hàng (2014), Thẻ đồng thương hiệu: Xu hướng mới trên  
thị trường thẻ tín dụng, truy cập ngày 28-05-2014, tại trang web  
- Cuốn sách Thương hiệu với nhà quản lý của tác giả Nguyễn Quốc Thịnh  
và Nguyễn Thành Trung (NXB Chính trị quốc gia, 2004) là cuốn sách đề cập  
khá chi tiết về các phương án hợp tác thương hiệu nhìn từ góc độ lý luận. Tuy  
nhiên, trong cuốn sách này cũng vẫn chưa chỉ ra được những lý do xác đáng và  
những cảnh báo, yêu cầu trong hợp tác thương hiệu.  
- Cuốn sách Quản trị thương hiệu cao cấp từ tầm nhìn chiến lược đến  
định giá của tác giả Paul Temporal đã đưa ra những chỉ dẫn đầy đủ về việc phát  
triển và quản lý những chiến lược phức tạp để tạo giá trị thương hiệu trường tồn.  
Tác giả Temporal cũng giải đáp những vấn đề thường được nêu ra, bao gồm  
những vấn đề quan trọng như cách thức tạo ra tầm nhìn thương hiệu,ꢀ cách thức  
các công ty kiến tạo chiến lược thương hiệu, thương hiệu được định giá như thế  
nào, những chiến lược định vị nào thường được sử dụng, cách thức PR hỗ trợ  
xây dựng thương hiệu, những lựa chọn về cấu trúc thương hiệu, những gì cần  
7
phải xem xét khi mở rộng, làm sống lại hoặc loại bỏ thương hiệu, làm thế nào để  
đưa thương hiệu vào một thị trường mới, cơ cấu công ty cho việc giám hộ và  
quản trị thương hiệu.  
- Cuốn Quản trị thương hiệu - Danh tiếng và lợi nhuận của tác giả Lê  
Anh Cường (2005, NXB Thống Kê), một cuốn sách biên dịch từ tài liệu nước  
ngoài với những nội dung chủ yếu về tạo lập và xây dựng thương hiệu trong các  
doanh nghiệp.  
- Cuốn Quản trị tài sản nhãn hiệu của Đào Công Bình (2007, NXB Thanh  
Niên), sách biên dịch, nhấn mạnh đến các kỹ năng trong hoạt động quản trị  
thương hiệu, ứng dụng trong mỗi doanh nghiệp.  
- Cuốn sách Sự Thật Về 100 Thất Bại Thương Hiệu Lớn Nhất Của Mọi  
Thời Đại cuốn sách này là xem xét những thất bại đa dạng của các thương hiệu  
để tìm hiểu những con đường dẫn dụ các công ty đến sai lầm, trong đó có những  
ví dụ điển hình về thất bại trong việc hợp tác của 2 bên thương hiệu không đồng  
nhất về tư duy chiến lược đến hành động triển khai.  
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này dường như mới chỉ đề cập từ  
góc độ lý luận về vấn đề hợp tác thương hiệu, theo đó đưa ra các mô hình, điều  
kiện và hoàn cảnh áp dụng, những vấn đề thách thức và lợi ích từ hoạt động hợp  
tác thương hiệu. Một số công trình khác lại chủ yếu thông tin về kết quả hợp tác  
thương hiệu của các doanh nghiệp cụ thể như việc hình thành các thẻ đồng  
thương hiệu của các ngân hàng thương mại, hợp tác thương hiệu giữa các siêu  
thị, hoặc nghiên cứu kinh nghiệm hợp tác thương hiệu từ các tập đoàn lớn của  
nước ngoài…  
Đây chính là khoảng trống cả về lý luận và thực tiễn khi phát triển hoạt  
động hợp tác thương hiệu đối với các ngân hàng thương mại của Việt Nam.  
Dường như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về  
hoạt động hợp tác thương hiệu trong bối cảnh của các ngân hàng thương mại tại  
Việt Nam.  
2. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong hoạt động kinh doanh nhiều thay đổi căn bản. Sự cạnh tranh giữa  
các doanh nghiệp ngày nay đã chuyển từ cạnh tranh kẻ thắng, người thua sang  
cạnh tranh mà cả hai đều thắng. Điều này có nghĩa là sự cạnh tranh và hợp tác  
8
luôn đồng hành với nhau. Về khía cạnh này, hai doanh nghiệp có thể là đối thủ  
lẫn nhau, nhưng về khía cạnh khác thì hai doanh nghiệp là đối tác với nhau.  
Đây chính là cơ hội vàng cho các doanh nghiệp cùng chia sẻ trái tim và khối óc  
trong hợp tác phát triển. Trong việc phát triển thương hiệu, các nhà quản trị  
doanh nghiệp cũng tìm kiếm cơ hội để hợp tác phát triển thương hiệu.  
Khi một thương hiệu muốn thu hút sự chú ý của khách hàng, thì việc liên  
kết với một thương hiệu khác có thể là một phương án tốt cho sự phát triển  
thương hiệu của doanh nghiệp. Điều đó có thể thậm chí dẫn tới việc hình thành  
một thương hiệu trong một lĩnh vực hoàn toàn mới. Việc hợp tác thương hiệu sẽ  
giúp doanh nghiệp mở rộng và thỏa mãn nhu cầu khách hàng, đạt lợi ích tài  
chính, tăng cường vị thế cạnh tranh, giới thiệu sản phẩm mới với những ấn  
tượng mạnh mẽ, tạo ra giá trị được khách hàng mới cảm nhận, gia tăng hiệu quả  
hoạt động.  
Hợp tác thương hiệu sẽ mang lại lợi ích, cũng như rủi ro cho các doanh  
nghiệp. Hợp tác thương hiệu sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí xây dựng  
thương hiệu, đặc biệt khi tham gia vào thị trường mới, thị trường nước ngoài.  
Khi đưa sản phẩm vào thị trường nước ngoài thì hợp tác thương hiệu với các  
thương hiệu địa phương thì việc đầu tư quảng bá thương hiệu sẽ ít tốn kém hơn.  
Hợp tác thương hiệu với các thương hiệu nổi tiếng sẽ giúp cho khách hàng dễ  
nhận biết thương hiệu của mình hơn. Tuy nhiên, hợp tác thương hiệu cũng có rủi  
ro khi đối tác trong hợp tác thương hiệu gặp sự cố phá sản hoặc mất niềm tin từ  
khách hàng sẽ làm cho thương hiệu của minh cũng bị ảnh hưởng. Chính vì vậy,  
để hợp tác thương hiệu thành công thì đòi hỏi phải lựa chọn được đối tác thích  
hợp. Ngoài ra việc hợp tác thương hiệu với các thương hiệu nổi tiếng là điều  
không dễ dàng vì các thương hiệu nổi tiếng luôn bảo vệ uy tín của mình nên họ  
thường không thích hợp tác với thương hiệu khác.  
Chính vì thế để xác định phương án hợp tác thương hiệu phù hợp với điều  
kiện của các ngân hàng tại Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu, từ đó góp  
phần phục vụ hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học về thương hiệu, phục  
vụ cho công tác hợp tác thương hiệu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.  
Đề tài "Nghiên cứu các phương án hợp tác thương hiệu của các ngân hàng  
thương mại Việt Nam" được lựa chọn nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó và góp  
9
phần hoàn thiện các cơ sở lý luận và thực tiễn về hợp tác thương hiệu tại các  
ngân hàng thương mại Việt Nam.  
3. Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để thiết lập một số phương án hợp  
tác thương hiệu phù hợp với điều kiện kinh tế của các ngân hàng thương mại, cụ  
thể là  
- Một số tiếp cận hiện đại về thương hiệu và tiếp cận về hợp tác thương  
hiệu.  
- Nghiên cứu các phương án hợp tác thương hiệu và thực tiễn kinh  
nghiệm hợp tác thương hiệu tại các ngân hàng thương mại.  
- Xây dựng các điều kiện và các yếu tố tác động đến quá trình hợp tác  
thương hiệu, đặc biệt những tác động đến hình ảnh của thương hiệu ban đầu.  
- Xây dựng một số phương án hợp tác thương hiệu phù hợp điều kiện của  
các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.  
4. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về  
hợp tác thương hiệu nói chung và phát triển hợp tác thương hiệu với những mô  
hình thích hợp được vận dụng trong điều kiện thực tiễn của các ngân hàng  
thương mại Việt Nam.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu:  
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề hợp tác thương hiệu  
của các ngân hàng thương mại, trong đó chủ yếu là một số ngân hàng ngoài  
quốc doanh, định hướng bán lẻ.  
- Về thời gian: Các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp từ hoạt động của các ngân  
hàng thương mại được xem xét và phân tích trong khoảng thời gian 3 năm trở lại  
đây;  
- Về nội dung: Do điều kiện thời gian triển khai nghiên cứu không nhiều  
nên đề tài tập trung nghiên cứu, lựa chọn mô hình phù hợp và khuyến cáo các  
điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình hợp tác thương hiệu cho các ngân hàng  
10  
thương mại Việt Nam. Các nội dung khác về triển khai chiến lược hoặc đo  
lường hiệu quả từ mô hình sẽ không được nghiên cứu trong đề tài này.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên các phân tích  
tổng hợp từ các nguồn dữ liệu thứ cấp là chủ yếu, có tiến hành phỏng vấn một số  
đối tượng khách hàng để thu thập dữ liệu sơ cấp. Tuy nhiên, do thời gian hạn  
chế, nên số khách hàng được khảo sát chỉ là 30 đối tượng.  
Đối tượng khách hàng được lựa chọn để khảo sát nhanh về liên tưởng  
thương hiệu ngân hàng được lựa chọn ngẫu nhiên trong số các khách hàng đến  
giao dịch tại 2 ngân hàng là VIB (điểm giao dịch Thuỵ Khuê) và Vietinbank  
(điểm giao dịch Lạc Long Quân).  
Với 30 khách hàng được khảo sát, có 21 khách hàng là nữ (độ tuổi từ 28-  
55) và 19 khách hàng là nam giới (tuổi từ 23-51).  
Dữ liệu thu thập được xử lý qua phần mềm Exel để xác định tỷ lệ các các  
lựa chọn liên quan đến liên tưởng thương hiệu.  
6. Kết cấu và nội dung chủ yếu của đề tài  
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu  
thành 3 chương:  
Chương 1: Khái quát về thương hiệu và hợp tác thương hiệu  
Chương 2: Thực tiễn hợp tác thương hiệu của các ngân hàng thương mại  
Việt Nam.  
Chương 3: Đề xuất các phương án hợp tác thương hiệu của các ngân hàng  
thương mại Việt Nam.  
11  
CHƯƠNG 1  
KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ HỢP TÁC  
THƯƠNG HIỆU  
1.1. Tiếp cận hiện đại về thương hiệu  
1.1.1. Thương hiệu và các thành tố của thương hiệu  
1.1.1.1. Tiếp cận về thương hiệu  
Hiện nay khái niệm về thương hiệu vẫn còn khá mới tại Việt Nam, trong  
một vài năm trở lại đây thương hiệu có được nhắc đến nhiều. Tại các doanh  
nghiệp, các cuộc hội thảo và nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng  
thuật ngữ thương hiệu và các vấn đề liên quan đến thương hiệu như: xây dựng  
thương hiệu, đăng ký thương hiệu, tranh chấp thương hiệu, định vị thương hiệu  
được nhắc đến rất nhiều. Tuy nhiên, vấn đề tưởng chừng rõ ràng lại đang gây rất  
nhiều nhầm lẫn cho các doanh nghiệp đó là thương hiệu là gì.  
Trong hệ thống các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp của Việt  
Nam hiện nay, không có khái niệm về thương hiệu mà chỉ có các khái niệm về  
nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hay tên gọi xuất xứ. Chính vì  
thế có nhiều cách hiểu khác nhau về thương hiệu. Phần lớn các nghiên cứu tại  
Việt Nam đều dựa trên quan điểm coi thuật ngữ thương hiệu xuất phát từ thuật  
ngữ Brand trong tiếng Anh, vốn hiện diện phổ biến trong các tài liệu Marketing  
của nước ngoài. Tuy nhiên vẫn có một số tác giả lại cho rằng phải dịch Brand là  
nhãn hiệu xuất phát từ nguyên gốc nghĩa tiếng Anh của từ này là dấu hiệu, nhãn  
hiệu. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, trong đề tài này thuật ngữ Thương hiệu  
được sử dụng theo nghĩa của từ Brand.  
Theo tác giả Phillip Kotler đưa ra thì thương hiệu là một cái tên, một thuật  
ngữ, một ký hiệu, biểu tượng hoặc một bản thiết kế độc đáo hoặc là sự kết hợp  
có ý định để xác định các hàng hóa, dịch vụ của người bán hoặc nhóm người  
bán để phân biệt và cạnh tranh với đối thủ.  
Theo tác giả David Aaker thì thương hiệu là một lời hứa mà doanh nghiệp  
đem đến cho khách hàng và nó được tương tác khi khách hàng tiêu dùng sản  
phẩm đó.  
12  
Theo tác giả Donna Antonucci thì thương hiệu là một bản sắc của một  
công ty về những sản phẩm và dịch vụ mà họ cung cấp ngoài ra còn là một lời  
hứa thể hiện những gì mà công ty truyền thông ra bên ngoài.  
Theo tác giả Seth Godin của cuốn Linchpin đưa ra quan điểm về thương  
hiệu như sau thương hiệu là tập hợp các kỳ vọng, những dấu ấn, những câu  
chuyện, những mối quan hệ và sự quyết định của người tiêu dùng để lựa chọn  
một sản phẩm hoặc một dịch vụ.  
Còn tác giá David Ogilvy của cuốn sách On Advertising đưa ra thương  
hiệu là các tổng phi vật thể của các thuộc tính của sản phẩm như tên của nó, bao  
bì, giá cả, lịch sử, danh tiếng và cách nó được quảng cáo.  
Theo tác giả Nguyễn Quốc Thịnh và Nguyễn Thành Trung đưa ra trong  
cuốn Thương hiệu với nhà quản lý thì thương hiệu là một hoặc một tập hợp các  
dấu hiệu nhằm phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh  
này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác, là hình tượng về một loại  
hàng hóa, dịch vụ hay về doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng và công chúng.  
Như vậy thì thương hiệu bao gồm tập hợp tất cả các yếu tố, vô hình và  
hữu hình, có tác dụng giúp khách hàng phân biệt được các hàng hóa, dịch vụ  
cùng loại do các doanh nghiệp hoặc các cá nhân kinh doanh cung cấp và giúp  
phân biệt chính các doanh nghiệp đó với doanh nghiệp khác cùng loại hoạt động  
trong một lĩnh vực. Trong đó yếu tố hữu hình là biểu hiện bề ngoài của thương  
hiệu và có thể được pháp luật bảo hộ. Yếu tố vô hình, không đăng ký bảo hộ  
được, là hình tượng về sản phẩm hoặc doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng và  
là điều cốt lõi tạo nên danh tiếng của thương hiệu đó. Nó có thể là những liên  
tưởng và ý nghĩa mà thương hiệu truyền tải đến khách hàng, sự độc đáo và tính  
khác biệt, sự phù hợp với mong muốn kỳ vọng về sản phẩm của khách hàng mà  
ẩn sau đó là chất lượng hàng hóa, dịch vụ, những hiệu quả và lợi ích mà sản  
phẩm mang lại cho khách hàng.  
1.1.1.2. Các thành tố của thương hiệu  
a, Tên thương hiệu  
Tên thương hiệu được xem là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của một  
thương hiệu và cũng là yếu tố trung tâm của sự liên hệ giữa sản phẩm với khách  
13  
hàng. Tên thương hiệu là một công cụ giao tiếp ngắn gọn, đơn giản nhưng có  
hiệu quả cao nhất.  
Yêu cầu chung khi đặt tên thương hiệu là có khả năng phân biệt và dễ  
nhận biết, ngắn gọn, dễ đọc, gây ấn tượng, dễ nhớ, thể hiện đươc ý tưởng và bao  
hàm được nội dung truyền đạt.  
- Có khả năng phân biệt và dễ nhận biết. Tên thương hiệu trước hết phải  
có khả năng phân biệt với các tên khác. Điều đó là rất cần thiết vì nếu một tên  
không có khả năng phân biệt hoặc dễ gây nhầm lẫn với các tên khác thì không  
được pháp luật bảo hộ. Tên thương hiệu dễ phân biệt và dễ nhận biết sẽ tạo cơ  
hội để người tiêu dùng nhanh chóng và dễ dàng nhận ra hàng hóa trong rất nhiều  
hàng hóa khác nhau.  
- Ngắn gọn, dễ đọc: Tên thương hiệu càng ngắn gọn, dễ đọc thì càng dễ  
nhớ và dễ được người tiêu dùng để ý tới. Tuy nhiên, cũng có một mâu thuẫn nảy  
sinh là khi tên thương hiệu càng ngắn thì xác suất trùng lặp sẽ tăng lên và càng  
khó thể hiện ý tưởng của doanh nghiệp hay thông điệp về hàng hóa.  
- Gây ấn tượng: Tên thương hiệu cần được gây ấn tượng khi đọc và có  
tính thẩm mỹ. Không nên dùng những từ ngữ thiếu tính thẩm mỹ hoặc những từ  
ngữ mà khi chuyển sang ngôn ngữ khác có hàm ý xấu, nhất là trong thời đại  
toàn cầu hóa, thương hiệu sẽ được phổ biến khắp thế giới.  
- Thể hiện được ý tưởng của doanh nghiệp hoặc những gợi ý về tính ưu  
việt của hàng hóa: khi đặt tên thương hiệu, hầu hết mọi doanh nghiệp đều muốn  
gửi gắm vào cái tên đó một ý tưởng nhất định, như định hướng hoạt động hoặc  
mục tiêu của doanh nghiệp, thông tin tốt đẹp hoặc lợi ích đích thực mà hàng hóa  
đó sẽ mang lại cho người tiêu dùng, sự khác biệt trong cấu tạo cũng như tính  
năng của hàng hóa nhằm hấp dẫn người tiêu dùng.  
Thực tế cho thấy rằng khó có thể thỏa mãn cùng lúc tất cả các yêu cầu  
trên đây của việc đặt tên thương hiệu. Tùy theo từng loại hàng hóa và ý đồ của  
doanh nghiệp mà lựa chọn mức độ ưu tiên của từng yêu cầu. Song nếu đáp ứng  
được càng nhiều yêu cầu càng tốt, trong đó yêu cầu không trùng lặp và có khả  
năng phân biệt cao là quan trọng nhất vì nó quyết định đến khả năng đăng ký và  
bảo hộ thương hiệu.  
b, Biểu trưng (logo)  
14  
Logo là yếu tố mang tính đồ họa, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc  
hình thành nên giá trị thương hiệu, đặc biệt về khả năng nhận biết thương hiệu.  
Trong thực tế xây dựng thương hiệu, người ta sử dụng rất nhiều cách khác  
nhau để thể hiện biểu trưng hoặc biểu tượng. Có thể đó là những biểu trưng rất  
đơn giản nhưng cũng có thể là rất phức tạp. Tuy nhiên, yêu cầu chung khi tạo ra  
logo cho thương hiệu là:  
- Đơn giản, dễ nhận biết và có khả năng phân biệt cao.  
- Thể hiện được ý tưởng của doanh nghiệp: một logo luôn chứa đựng  
trong nó một ý tưởng hoặc hàm ý nào đó mà người sở hữu muốn gửi gắm. Các ý  
tưởng đó có thể là lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, định hướng doanh  
nghiệp trong tương lai, những tính năng hữu dụng của hàng hóa hoặc mong  
muốn vươn tới của doanh nghiệp, những giá trị thực dụng và tiềm ẩn mà hàng  
hóa đó mang lại cho người tiêu dùng.  
- Dễ thể hiện trên các phương tiện và chất liệu khác nhau: logo phải dễ thể  
hiện trên các chất liệu khác nhau và trên các phương tiện khác nhau, vì bao bì  
hàng hóa có thể được sản xuất từ những vật liệu khác nhau, thương hiệu cũng  
phải được quảng bá trên các phương tiện khác nhau như: báo chí, truyền hình,  
trên mạng.  
- Có tính thẩm mỹ và phải tạo được ấn tượng nhờ sự đặc sắc: tính mỹ  
thuật trong logo là một khái niệm tương đối, nó phụ thuộc rất nhiều vào nhân  
sinh quant cũng như thế giới quan của người đánh giá  
c, Câu khẩu hiệu và nhạc hiệu  
Câu khẩu hiệu là một đoạn văn ngắn chứa đựng và truyền đạt những  
thông tin mang tính mô tả và thuyết phục về thương hiệu. Một ưu điểm của câu  
khẩu hiệu là nó góp phần làm tăng khả năng nhận biết và lưu lại tên thương hiệu  
trong trí nhớ khách hàng bằng cách nhấn mạnh và lặp lại nhiều lần tên thương  
hiệu. Thiết kế khẩu hiệu không phải là công việc tung hô, đề cao đơn thuần công  
dụng của hàng hóa và ý tưởng của doanh nghiệp mà phải bám sát nội dung và  
chiến lược thương hiệu. Yêu cầu chung khi thiết kế khẩu hiệu thương hiệu là:  
- Có nội dung phong phú, thể hiện được ý tưởng của doanh nghiệp hoặc  
công dụng đích thực của hàng hóa.  
15  
- Ngắn gọn, dễ nhớ, không trùng lặp với các khẩu hiệu khác.  
- Có tính hấp dẫn và thẩm mỹ cao, phù hợp với phong tục tập quán.  
- Dễ chuyển đổi thành các ngôn ngữ khác  
Bên cạnh khẩu hiệu, nhạc hiệu cũng là một yếu tố cấu thành thương hiệu  
được thể hiện bằng âm nhạc. Nhạc hiệu thường có sức thu hút người nghe và  
làm cho mục quảng cáo hấp dẫn và sinh động. Thực chất nhạc hiệu là một hình  
thức mở rộng của câu khẩu hiệu. Mặc dù nhạc hiệu cũng có thể truyền tải những  
lợi ích của thương hiệu nhưng chỉ có thể dưới hình thức gián tiếp và trừu tượng.  
Nhạc hiệu cũng không thể bổ sung cho logo hay biểu tượng, nó cũng không thể  
gắn lên những bao bì sản phẩm hay panô, áp phích quảng cáo.  
1.1.2. Giá trị cảm nhận và tác động của thương hiệu đến hành vi  
người tiêu dùng  
Giá trị cảm nhận chính là những cảm nhận của người tiêu dùng về một  
sản phẩm mà họ tiêu dùng hoặc sử dụng. Người tiêu dùng tạo ra giá trị thương  
hiệu dựa trên những kinh nghiệm của họ. Người tiêu dùng đánh giá thương hiệu  
thông qua những kinh nghiệm trước đây, sự hiểu biết về thương hiệu, từ các  
hoạt động của thương hiệu trên thị trường, từ những thông điệp quảng cáo,  
thông điệp truyền thông từ thương hiệu. Tất cả những sự tiếp xúc này sẽ tạo  
nên giá trị cảm nhận về thương hiệu.  
Người tiêu dùng luôn chọn mua những sản phẩm và dịch vụ mang lại giá  
trị cảm nhận cao nhất. Điều này có nghĩa là họ luôn suy xét giữa những lợi ích  
nhận được và chi phí mà họ phải trả cho từng thương hiệu. Họ không hoàn toàn  
chọn thương hiệu có giá thấp nhất khi những lợi ích nó mang lại không nhiều.  
Ngược lại, họ lại vui lòng chấp nhận một giá cao để được sử dụng những sản  
phẩm uy tín.  
Khi nói đến giá trị nhận được thì người ta luôn hàm ý đó chính là giá trị  
cảm nhận. Cùng một sản phẩm và dịch vụ thì giá trị nhận được hoàn toàn khác  
nhau đối với mỗi người. Mỗi người có một hoàn cảnh sống khác nhau, nhận  
định khác nhau về mức độ quan trọng và chi phí họ phải trả cho sản phẩm và  
dịch vụ. Tóm lại, mỗi người tiêu dùng đều có sự đánh giá khác nhau cho cùng  
một sản phẩm hay dịch vụ.  
16  
Hình 1.1. Mô hình giá trị nhận được của người tiêu dùng  
Những cảm nhận của người tiêu dùng về thương hiệu sẽ xác định giá trị  
của thương hiệu. Tuy nhiên, giá trị thương hiệu này không hoàn toàn dự đoán  
được hành vi của họ trên thị trường. Thật vậy, một người tiêu dùng có thể đánh  
giá thương hiệu rất cao nhưng lại mua một thương hiệu khác. Nó luôn có một  
khoảng cách giữa sự cảm nhận và hành vi.  
Giá trị thương hiệu được hiểu là những giá trị đặc thù mà thương hiệu  
mang lại cho những đối tượng liên quan (bản thân doanh nghiệp, khách hàng…).  
Giá trị thương hiệu là lợi ích mà thương hiệu đem lại cho một doanh nghiệp. Khi  
nói về giá trị thương hiệu thì chúng ta lại quan tâm đến hai khía cạnh. Thứ nhất,  
giá trị cảm nhận là những cảm xúc, tình cảm của người tiêu dùng đối với thương  
hiệu. Thứ hai, giá trị tài chính là hành vi của người tiêu dùng – họ chọn dùng  
thương hiệu của tổ chức hay là những đối thủ cạnh tranh.  
Giá trị thương hiệu gồm 5 thành tố chính: sự nhận biết thương hiệu, chất  
lượng cảm nhận vượt trội, sự liên tưởng thương hiệu, sự trung thành thương  
hiệu, các yếu tố giá trị thương hiệu khác.  
* Sự nhận biết thương hiệu:  
Nhận biết thương hiệu là khả năng mà một khách hàng tiềm năng có thể  
nhận biết hoặc gợi nhớ đến một thương hiệu. Người mua thường lựa chọn  
thương hiệu mà mình đã biết bởi vì họ cảm thấy được an toàn và thoải mái hơn.  
Vì theo lệ thường thì một thương hiệu được nhiều người biết đến sẽ đáng tin cậy  
hơn và chất lượng sẽ tốt hơn. Sự nhận biết thương hiệu sẽ rất quan trọng đối với  
17  
các mặt hàng tiêu dùng, khi mà mỗi khi mua hàng hóa thì người ta thường hoạch  
định thương hiệu từ trước. Trong trường hợp này thì những thương hiệu không  
được biết đến sẽ không có cơ hội được chọn lựa.  
Các mức độ nhận biết thương hiệu từ thấp đến cao thường là Không nhận  
ra => Nhận ra => Nhớ ra => Nhớ ra ngay.  
* Chất lượng cảm nhận vượt trội:  
Một thương hiệu thường đi kèm theo một cảm nhận tổng thể của khách  
hàng về chất lượng sản phẩm. Ví dụ với các sản phẩm Elextrolux thì người ta  
thường liên tưởng đến sự bền bỉ của chiếc máy giặt chẳng hạn. Chất lượng cảm  
nhận sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua sắm và sự trung thành của  
khách hàng, đặc biệt là trong trường hợp người mua không có thời gian hoặc  
không thể nghiên cứu kỹ lưỡng các tính năng sản phẩm trước khi mua. Chất  
lượng cảm nhận còn hỗ trợ cho việc xác định một chính sách giá cao vì thế sẽ  
tạo ra lợi nhuận nhiều hơn để tái đầu tư vào việc xây dựng thương hiệu.  
* Sư liên tưởng thương hiệu:  
Sự liên tưởng thương hiệu là sự liên tưởng của khách hàng đến một hay  
vài điểm đặc trưng đối với một thương hiệu nào đó khi thương hiệu này được  
nhắc đến. Giá trị tiềm ẩn đằng sau cái tên của thương hiệu đó chính là những  
liên tưởng riêng có gắn liền với thương hiệu đó. Hình ảnh thương hiệu được xây  
dựng dựa trên các liên tưởng thương hiệu.  
Nếu một thương hiệu được định vị trên những liên tưởng đặc thù cho một  
chủng loại sản phẩm hay một ngành sản phẩm thì đối thủ cạnh tranh sẽ rất khó  
khăn trong việc xây dựng hoặc sẽ tạo ra được một rào cản vững chắc cho những  
đối thủ cạnh tranh mới. Có thể kể đến như FedEx được liên đới đến công ty  
chuyển phát nhanh lớn nhất thế giới. Và từ “FedEx” bây giờ đã là một động từ  
với nghĩa là “chuyển phát nhanh”.  
* Sự trung thành thương hiệu:  
Sự trung thành của khách hàng gắn với sự trải nghiệm của hành vi mua,  
nghĩa là người ta đã mua và tiêu dùng trước đó với một thương hiệu. Để đo  
lường sự trung thành của khách hàng đối với một thương hiệu sản phẩm, người  
ta đánh giá thông qua nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm và tần suất lặp lại hành vi  
nua trong một khoảng thời gian xác định.  
18  
Kiếm tìm một khách hàng mới sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với việc duy  
trì được khách hàng cũ. Điều này đặc biệt quan trọng trong thị trường khi mà  
việc chuyển sang sử dụng các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh ngày càng dễ  
dàng. Đối với một khách hàng trung thành thì công ty còn được một lợi ích rất  
lớn đó là những khách hàng này sẽ giới thiệu và thuyết phục người thân và bạn  
bè sử dụng sản phẩm của công ty.  
Ngoài ra, sự trung thành về thương hiệu sẽ làm cho đối thủ cạnh tranh nản  
chí trong việc tìm cách lôi kéo khách hàng mới vì chi phí mà họ bỏ ra sẽ rất lớn  
mà hiệu quả mang lại thì không cao. Có thể nhận định rằng, khách hàng trung  
thành là tài sản lớn nhất của một thương hiệu.  
* Những giá trị thương hiệu khác:  
Một số giá trị thương hiệu khác chẳng hạn như sự bảo hộ của luật pháp  
hay là mối quan hệ của kênh phân phối. Việc bảo hộ của luật pháp sẽ tránh hiện  
tượng một đối thủ cạnh tranh sử dụng tên tuổi hay kiểu dáng hoàn toàn giống  
sản phẩm của công ty. Mối quan hệ của kênh phân phối sẽ giúp cho sản phẩm  
chiếm được những vị trí tốt trên vị trí trưng bày. Những thương hiệu thành công  
luôn nhờ vào một hệ thống phân phối tốt. Mọi thương hiệu phải nỗ lực để được  
mọi người nhìn thấy, ghi nhận và ghi nhớ. Vì vậy, nếu không có một hệ thống  
phân phối tốt, các thương hiệu sẽ gần như trở nên vô hình và không thể được  
khách hàng biết đến.  
1.1.3. Phân loại thương hiệu  
Theo tiếp cận của quản trị thương hiệu và marketing, thương hiệu có thể  
được chia thành như sau:  
1.1.3.1. Thương hiệu cá biệt  
Thương hiệu cá biệt (còn được gọi là thương hiệu cá thể, hoặc thương  
hiệu riêng) là thương hiệu của từng chủng loại hoặc từng tên hàng hóa, dịch vụ  
cụ thể. Với thương hiệu cá biệt, mỗi loại hàng hóa lại mang một thương hiệu  
riêng và như thế một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều loại hàng hóa  
khác nhau có thể có nhiều thương hiệu khác nhau.  
Đặc điểm của thương hiệu này là thường mang những thông điệp về hàng  
hóa cụ thể (như tính năng nổi trội, tính ưu việt, những tiện ích đích thực..) và  
được thể hiện trên bao bì hoặc chính là sự cá biệt của bao bì hàng hóa. Loại  
19  
thương hiệu này cũng có cá tính riêng biệt, luôn tạo cho người tiêu dùng một cơ  
hội lựa chọn cao ngay cả trong trường hợp đó là những thương hiệu thuộc sở  
hữu của cùng một công ty.  
Thương hiệu cá biệt luôn gắn liền với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể  
và có thể tồn tại một cách độc lập trên hàng hóa, cũng có thể được gắn liền với  
các loại thương hiệu khác (như thương hiệu gia đình hoặc thương hiệu tập thể,  
thương hiệu quốc gia). Trong thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng tạo ra  
thương hiệu cá biệt cho hàng hóa.  
1.1.3.2. Thương hiệu gia đình  
Thương hiệu gia đình là thương hiệu chung cho tất cả các hàng hóa, dịch  
vụ của một doanh nghiệp. Mọi hàng hóa thuộc các chủng loại khác nhau của  
doanh nghiệp đều mang thương hiệu như nhau.  
Đặc điểm của thương hiệu gia đình là tính khái quát rất cao và phải có  
tính đại diện cho tất cả các chủng loại hàng hóa của doanh nghiệp. Một khi tính  
đai diện và khái quát bị vi phạm hay mất đi, người ta sẽ phải nghĩ ngay đến việc  
tạo ra những thương hiệu cá biệt cho từng chủng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể  
để chúng không ảnh hưởng đến thương hiệu gia đình. Thương hiệu gia đình có  
thể xuất hiện độc lập trên hàng hóa và có thể đi kèm cùng thương hiệu cá biệt  
hay thương hiệu quốc gia.  
1.1.3.3. Thương hiệu tập thể  
Thương hiệu tập thể (còn được gọi là thương hiệu nhóm) là thương hiệu  
của một nhóm hay một số chủng loại hàng hóa nào đó, có thể do một cơ sở sản  
xuất hoặc do các cơ sở khác nhau sản xuất và kinh doanh. Thương hiệu tập thể  
cũng có thể là thương hiệu chung cho hàng hóa của các doanh nghiệp khác nhau  
trong cùng một liên kết nào đấy (hiệp hội ngành hàng, khu vực địa lý, tập đoàn  
kinh tế…)  
Thương hiệu tập thể có đặc điểm khá giống với thương hiệu gia đình vì có  
tính khái quát và tính địa diện cao, nhưng điểm khác biệt rất cơ bản là thương  
hiệu tập thể thường được gắn liền với các chủng loại hàng hóa của nhiều doanh  
nghiệp khác nhau trong một liên kết kinh tế, kỹ thuật nào đó và tính đại diện  
được phát triển chủ yếu theo chiều sâu hơn là chiều rộng của phổ hàng hóa.  
1.2 Hợp tác thương hiệu  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 63 trang yennguyen 20920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Nghiên cứu các phương án hợp tác thương hiệu của các ngân hàng thương mại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_nghien_cuu_cac_phuong_an_hop_tac_thuong_hieu.pdf