Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu cấu trúc tinh thể của màng tinh thể ALN được nuôi bằng phương pháp mọc ghép pha hơi hyđrua trên đế sapphire được kết cấu rãnh

́
̀ ̀  
̣ ̣  
VA ĐAO TAO  
BÔ  
̣
GIAO DUC  
̃
̀
ĐAI HOC ĐA NĂNG  
̣
̣
TÓM TẮT BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TINH THỂ CỦA MÀNG  
TINH THỂ AlN ĐƯỢC NUÔI BẰNG PHƯƠNG PHÁP  
MỌC GHÉP PHA HƠI HYĐRUA TRÊN ĐẾ  
SAPPHIRE ĐƯỢC KẾT CẤU RÃNH  
Mã số: Đ2015-03-79  
Chủ nhiệm đề tài: TS. Đinh Thanh Khẩn  
Đà Nẵng, 12/2016  
̀
̉
MƠ ĐÂU  
̉
̣ ̣  
1. Tông quan tınh hınh nghiên cưu thuôc lınh vưc cua đề tai  
̉
̀
̃
́
̀
̀
Aluminum nitride (AlN) với Eg = 6.2 eV đã và đang được nghiên cứu một cách rộng  
rãi cho việc phát triển các thiết bị quang điện tử hoạt động ở vùng tử ngoại sâu. Do  
những khó khăn trong việc chế tạo tinh thể AlN ở dạng khối, phương pháp mọc ghép  
màng tinh thể AlN trên các đế như α-Al2O3 và 6H-SiC thường được áp dụng. Tuy nhiên,  
sự không tương thích về hằng số mạng và nhiệt giữa màng AlN và các đế α-Al2O3 và  
6H-SiC là một khó khắn lớn trong việc thu được các màng tinh thể AlN chất lượng cao.  
Sự không tương thích này làm cho các màng tinh thể AlN được chế tạo trên các đế α-  
Al2O3 và 6H-SiC thường có chất lượng không cao như: xuất hiện của các khuyết tật  
đường (dislocation), co giãn về hằng số mạng (strain), uốn cong các mặt mạng hay sự  
nghiêng của các mặt mạng. Gần đây, việc sử dụng các đế được tạo rãnh đã nâng cao  
đáng kể chất lượng của các màng tinh thể AlN. Những đế được tạo rãnh như vậy không  
chỉ tạo ra sự mọc tinh thể của màng theo phương ngang (ELO) mà còn tạo ra những  
khoảng trống kích thước nano (nanovoid). Việc sử dụng kính hiển vi điện tử truyền qua  
(TEM) đã chính minh rằng ELO và nanovoid đóng một vai trò quan trọng trong việc  
nâng cao chất lượng của các màng tinh thể mọc trên các đế được tạo rãnh.  
Một số báo cáo gần đây đã chỉ ra rằng các màng tinh thể mọc trên các đế được tạo  
rãnh thường trải qua sự nghiêng mạng tinh thể. Nhiễu xạ tia X đã được sử dụng một  
Đặc biệt nhiễu xạ tia X  
cách rộng rãi để xác định những sự nghiêng mạng như vậy.  
vi mô đã được chính minh là công cụ hữu hiệu trong việc nghiên cứu các  
tính chất tinh thể học vi mô  
. Nguồn gốc của sự nghiêng mạng đã được thông báo là  
sự co giãn của ô đơn vị (strain) do sự không tương thích về mạng và nhiệt giữa màng  
tinh thể và đế, mặc dù điều này vẫn còn đang được tranh cãi.  
2. Tınh câp thiêt  
́ ́  
́
Nâng cao chất lượng dạy học và nghiên cứu khoa học là mục tiêu hang đầu của Đại  
học Đà Nẵng cũng như tất cả các trường đại học trong và ngoài nước. Các kỹ thuật nuôi  
tinh thể dưới dạng màng mỏng đã và đang được phát triển mạnh mẽ cho việc ứng dụng  
trong các thiết bị quang điện tử. AlN với độ rộng vùng cấm khoảng 6.2 eV đã và đang  
được ứng dụng rất nhiều trong các thiết bị quang điện tử hoạt động trong vùng tử ngoại  
sâu. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp chế tạo màng tinh thể AlN nhưng chất lượng  
tinh thể đạt được chưa cao. Gần đây, việc chế tạo màng tinh thể AlN trên các đế được  
tạo rãnh đã tạo ra các màng tinh thể AlN chất lượng cao. Tuy nhiên, các tính chất cấu  
trúc tinh thể học, đặc biệt là cấu trúc tinh thể vi mô của màng tinh thể AlN chế tạo bằng  
phương pháp này chưa được làm sáng tỏ. Nhiễu xạ tia X, đặc biệt nhiễu xạ tia X vi mô,  
cùng với kính hiển vi điện tử truyền qua sẽ cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc tinh  
thể, đặc biệt cấu trúc tinh thể vi mô của màng tinh thể AlN. Từ đó cung cấp các thông  
tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu và sản xuất trong việc cải thiện hơn nữa chất lượng  
tinh thể của màng AlN, đồng thời nâng cao hiệu suất của các thiết bị quang điện tử dựa  
trên AlN.  
3. Mục tiêu  
1
Chế tạo các màng tinh thể AlN trên đế α-Al2O3 và AlN/α-Al2O3 được tạo rãnh bằng  
phương pháp mọc ghép pha hơi hyđrua. Nghiên cứu các tính chất cấu trúc tinh thể học  
của các màng tinh thể AlN bằng các phương pháp nhiễu xạ tia X thông thường, nhiễu xạ  
tia X vi mô và kính hiển vi điện tử truyền qua. Thu được công thức tính và giá trị độ uống  
cong của màng tinh thể AlN do sự không tương thích mạng và nhiệt giữa AlN và α-Al2O3  
bằng nhiễu xạ tia X thông thường. Làm sáng tỏ cấu trúc tinh thể vi mô chẳng hạn cấu trúc  
domain, dao động nghiêng mạng, dao động hằng số mạng bằng phương pháp nhiễu xạ tia  
X vi mô và kính hiển vị điện tử truyền qua.  
4. Cach tiêp cân  
́
̣
́
Các nghiên cứu về cấu trúc mạng tinh thể của vật liệu bán dẫn nitride đã được công  
bố trên các tạp chí khoa học quốc tế là cơ sở cho việc tham khảo và nghiên cứu của đề  
tài.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Trong giới hạn của đề tài này, nhóm tác giả sử dụng kết hợp ba phương pháp: nhiễu  
xạ tia X, nhiễu xạ tia X vi mô và chụp ảnh bằng kính hiển vi điện tử truyền qua để  
nghiên cứu các tính chất cấu trúc tinh thể học của các màng tinh thể AlN chế tạo trên đế  
α-Al2O3 và AlN/α-Al2O3 được tạo rãnh.  
̣
6. Đôi tương và phạm vi nghiên cứu  
́
- Các màng tinh thể AlN mọc trên các đế α-Al2O3 và AlN/α-Al2O3 được tạo rãnh.  
- Với mục tiêu đã đề ra, đề tài nghiên cứu sự uống cong mặt mạng của màng tinh thể AlN  
do sự không tương thích giữa các thông số mạng và nhiệt của AlN và α-Al2O3 bằng nhiễu  
xạ tia X thông thường. Nghiên cứu cấu trúc tinh thể vi mô chẳng hạn cấu trúc domain,  
dao động nghiêng mạng, dao động hằng số mạng bằng phương pháp nhiễu xạ tia X vi mô  
và kính hiển vị điện tử truyền qua.  
̣
7. Nôi dung nghiên cưu  
́
Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:  
Chương 1 trình bày tổng quan các phương pháp chế tạo tinh thể AlN và các phương  
pháp để nghiên cứu cấu trúc tinh thể của màng AlN.  
Chương 2 nghiên cứu sự uốn cong mặt mạng của màng tinh thể AlN chế tạo trên đế  
tạo rãnh α-Al2O3 bằng phương pháp nhiễu xạ tia X thường.  
Chương 3 nghiên cứu hình thái học tinh thể vi mô của màng AlN chế tạo trên đế tạo  
rãnh AlN/α-Al2O3 bằng phương pháp nhiễu xạ tia X vi mô.  
2
̉
CHƯƠNG 1. TÔNG QUAN  
̉
1.1 Chê  
́
tao  
̣
tinh thê AlN  
1.1.1. Chê  
́
tao  
̣
tinh thê AlN dan  
̉
̣
g khô  
́
i
Tinh thể AlN dạng khối đầu tiên được tổng hợp bởi Briegler và Gusther năm 1862  
khi cho nitơ phản ứng hóa học với Al nóng chảy. Tuy nhiên, do độ hòa tan của nitơ trong  
hầu hết các dung môi là thấp và nhiệt độ nóng chảy cao của AlN (~2473 K), tinh thể  
AlN dụng khối được chế tạo từ phương pháp này là khó và chất lượng thu được không  
cao.  
Hiện nay phương pháp hiệu quả nhất để chế tạo tinh thể AlN dạng khối là phương  
pháp thăng hoa - kết tỏa được phát triển đầu tiên vào năm 1976 bởi Slack và McNelly.  
Tinh thể AlN được chế tạo bởi phương pháp này thường được tinh thể hóa một cách tự  
pháp và ở dạng đa tinh thể. Một giải pháp cho những vấn đề này là sử dụng các mầm  
đơn tinh thể có sẵn. Tuy nhiên, hiện nay các mầm đơn tinh thể có sẵn có kích thước nhỏ  
nên cũng giới hạn kích thước của đơn tinh thể AlN thu được. Một loại mầm tinh thể  
khác như các đế α-Al2O3 và 6H-SiC có kích thước lớn có thể sử dụng để định hướng sự  
phát triển của đơn tinh thể AlN. Tuy nhiên, sự phát triển của tinh thể AlN trên các đế  
này thường khó để điều khiển do những khó khăn trong việc thay đổi điều. Một khó  
khăn khác của việc chế tạo tinh thể AlN bằng phương pháp thăng hoa - kết tỏa là sự tạo  
thành của khuyết tật trong tinh thể AlN thu được.  
1.1.2. Chế tạo màng mọc ghép AlN  
Do những khó khăn trong việc chế tạo tinh thể AlN dạng khối, chế tạo màng tinh thể  
AlN bằng phương pháp lắng đọng pha hơi hóa học (VCD) mọc ghép trên các đế α-Al2O3  
và 6H-SiC thường được sử dụng. Có hai phương pháp chế tạo màng tinh thể AlN: mọc  
ghép pha hơi hữu cơ kim loại (MOVPE) và mọc ghép pha hơi hydride (HVPE). Một ưu  
điểm của phương pháp HVPE so với phương pháp MOVPE là khả năng thu được các  
màng AlN dày bởi vì nó có tốc độ mọc cao vài bậc µm/phút của màng AlN. Do đó,  
HVPE thường được dùng để chế tạo các màng AlN có bề dày lớn hơn 100 µm. Tuy  
nhiên, chất lượng các màng AlN thu được bằng phương pháp HVPE vẫn còn thấp do sự  
không tương thích về các thông số mạng và nhiệt giữa AlN và các đế kích thích sự tạo  
thành của các khuyết tật và strain trong màng trong suốt quá trình chế tạo mẫu.  
Một vài giải pháp đã được sử dụng nhằm giảm mật độ khuyết tật trong các màng  
AlN được chế tạo trên đế α-Al2O3 thông qua phương pháp HVPE. Đó là việc nitride hóa  
bề mặt các đế α-Al2O3 trước khi chế tạo màng AlN trên chúng hay chế tạo các lớp tinh  
thể AlN xếp lớp với tỉ số V/III khác nhau. Gần đây, việc sử dụng kỹ thuật mọc ghép  
theo phương ngang (ELO) đã giảm mạnh mật độ khuyết tật đường trong các màng bán  
dẫn nitide. Phương pháp này được sử dụng đầu tiên bởi nhóm Usui khi họ chế tạo màng  
GaN trên đế α-Al2O3 sử dụng hệ chế tạo HVPE và thu được màng GaN với mật độ  
khuyết tật đường thấp hơn 6 × 107 cm-2. Ngoài ra, các đế tạo rãnh AlN/α-Al2O3 cũng đã  
được sử dụng để chế tạo các màng AlN và đã thu được các màng AlN dày hơn với mật  
độ khuyết tật đường nhỏ hơn 107 cm-2. Các kết quả thu được chỉ ra rằng các đế α-Al2O3  
được tạo rãnh là một cách hữu hiệu để chế tạo các màng tinh thể AlN có chất lượng cao.  
3
Trong đề tài này, nhóm tác giả sử dụng các đế được tạo rãnh α-Al2O3 và AlN/α-  
Al2O3 để chế tạo các màng tinh thể AlN.  
1.2. Đặc trưng cấu trúc của màng tinh thể AlN  
1.2.1. Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM)  
TEM đã được sử dụng như là một phương pháp hiệu quả để nghiên cứu các khuyết  
tật trog các vật liệu bán dẫn. Trong các chất bán dẫn nitride, TEM thường được sủa dụng  
các khuyết tật đường và sự nghiêng mặt mạng. Tuy nhiên, về nguyên tắc, mẫu vật liệu  
phải được xử lý trước khi chụp ảnh TEM và chiều dày của mẫu phải đủ nhỏ để chiều  
electron có thể đi xuyên qua mẫu.  
1.2.2. Phổ tán xạ Raman (RSS)  
Phép đo tán xạ Raman thường được sử dụng để nghiên cứa hằng số mạng trong các  
màng AlN bởi vì nó nhạy và không phá hủy mẫu. Trong các phép RSS, mode phonon  
E2 đầu tiên được quan sát và strain sau đó được rút dựa vào mối liên hệ giữa strain và  
độ dịch tần số của mode E2. Phép đo RSS cũng được sử dụng trong việc nghiên cứu sự  
phân bố vi mô của strain trong các màng GaN. Mặc dầu RSS đã được chứng minh là  
phương pháp hữu hiểu để nghiên cứu về strain trong các màng AlN, nó không thể được  
sử dụng để nghiên cứu các tính chất tinh thể học như cấu trúc domain, nghiêng mạng…  
1.2.3. Nhiễu xạ điện tử tán xạ ngược (EBSD)  
Hệ đo EBSD được tích hợp trong kính hiển vi điện tử quét. Nó được sử dụng to đặc  
trưng các tính chất cấu trúc vi mô của mang tinh thể như định hướng tinh thể và strain  
với độ phân giải không gian cao. Trong phép đo EBSD, một chùm electron đến bề mặt  
một tinh thể, các electron nhiễu xạ sẽ đập vào màn hình phát quang và tạo ra một kiểu  
trên màn hình phát quang hình ảnh đặc trưng cho định hướng tinh thể của như khoảng  
cách mạng trong tinh thể. Mặc dù EBSD là công cụ hữu hiệu để đặc trưng cấu trúc tinh  
thể vi mô của tinh thể, kỹ thuật này chỉ phù hợp cho các màng tinh thể tương đối mỏng  
bởi vì độ xuyên thấu của chùm electron bị giới hạn. Hơn nữa, do giới hạn của độ xuyên  
thấu, việc chuẩn bị mẫu trước khi đo là thực sự cần thiết bởi vì lối nhiễu xạ sẽ thay đổi  
nếu như bề mặt mẫu bị ôxi hóa, bị vấy bẩn hoặc bị biến dạng…  
1.2.4. Nhiễu xạ tia X (XRD)  
Hình 1.1: Nhiễu xạ tia X  
Giả sử có một chùm tia X đến một tinh thể. Xét 2 tia X song song nhau dến đến 2  
nguyên tử A và B trên 2 mặt mạng song song cách nhau một đoạn dhkl. Giả sử các tia X  
hợp với mặt mạng một gó θ như hình 1.1. Hiệu qua lộ giữa 2 tia nhiễu xạ tại A và B:  
CB+BD = 2ABsinθ = 2dhklsinθ.  
(1.1)  
4
Hai tia khi gặp nhau sẽ cho cực đại giao thoa khi:  
2dhklsinθ = nλ  
(1.2)  
với n là số nguyên và λ là bước sóng của tia X. Phương trình (1.2) là định luật Bragg  
cho nhiễu xạ tia X từ các măt mạng (hkl) trong tinh thể.  
XRD đã được chứng minh là một phương pháp hữu hiệu để khảo sát các tính chất  
cấu trúc của tinh thể bởi vì nó là phương pháp không phá hủy mẫu và có thể và có thể  
được sử dụng để nghiên cứu không chỉ các thông số mạng, strain, thành phần và kích  
thước hạt mà còn có thể nghiên cứu được các khuyết tật như khuyết tật đường, nghiêng  
mạng. Tuy nhiên, hầu hết phép đo XRD được thực hiện với chùm tia X có kich thước  
mài mm. Như vậy, kết quả thu được của XRD cung cấp một lượng thông tin cấu trúc  
mang tính chất trung bình trong một vùng tương đối lớn của màng tinh thể. Do đó XRD  
không phải là phương phù hợp cho phân tích cấu trúc vi mô của màng tinh thể.  
1.1.5. Nhiễu xạ tia X vi mô (XRMD)  
Ngược lại so với XRD thông thường với chùm tia X kích thước ở thang mm, kích  
thước chùm tia X trong XRMD ở vào khoảng vài chục đến vài trăm nm. Điều này làm  
cho XRMD trở thành phương pháp thích hợp cho việc nghiên cứu cấu trúc tình thể vi  
mô của các màng AlN như cấu trúc domain, nghiêng mạng tinh thể và strain mạng trong  
những vùng kích thước rất nhỏ.  
Hình. 1.2: Cấu hình XRMD trong (a) không gian thực và (b) không gian ảo  
XRMD được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc của một tinh thể với một đầu dò là  
chùm tia X có kích thước ở thang µm. Bước sóng của chùm tia X xấp xĩ với khoảng  
cách mạng. Hình 1.2(a) và (b) mô tả cấu hình của XRMD trong không gian thực và  
không gian ảo. Trong hình 1.2,  
Có ba loại phép đo XRMD:  
ω là góc tới được xác định chùm tia X tới và bề mặt mẫu.  
● Phép đo rocking curve (quét theo góc ω)  
Hình 1.3 mô tả lượt đồ của phép đo rocking curve (RC). Trong phép đo này, hướng  
của chùm tia X tới và detector được giữ không đổi trong khi mẫu được quay quanh mặt  
phẳng tới (mặt tạo bởi tia X tới và tia X nhiễu xạ). Hay nói cách khác, góc nhiễu xạ 2θ  
được giữ không đổi trong khi góc tới ω được thay đổi. Trong không gian ảo, chúng ta  
xác định sự nghiêng của véc tơ mạng đảo Q. Phép đo RC thường được sử dụng để nghiên  
cứu các khuyết tật trong tinh thể, sự uống cong, nghiêng mạng, không đồng nhất mạng…  
5
Hình 1.3: Phép đo RC trong (a) không gian thực và (b) không gian ảo  
● Phép đo ω-2θ (ω-2θ scan)  
Hình 1.4 mô tả lượt đồ của phép đo ω-2θ. Trong phép đo này, trong khi quay mẫu  
một góc Δω, detector được quay một góc gấp đôi. Các góc ω và 2θ được thay đổi sao  
cho Δω = Δθ. Điều này cho phép chung ta quét véc tơ mạng đảo Q trong một phương  
không đổi. Sự dao động của khoảng cách mạng trong mạng tinh thể được thể hiện ở sự  
thay đổi trong độ lớn của véc tơ mạng đảo Q. Phép đo này thường được sử dụng để  
nghiên cứu khoảng cách mạng (strain) và thành phần hóa học trong tinh thể.  
Hình 1.4: Phép đo ω-2θ trong (a) không gian thực và (b) không gian ảo  
● Phép đo bản đồ không gian đảo  
Hınh 1.5: Phép đo bản đồ không gian đảo trong (a) không gian thực và (b)  
̀
Hình 1.5 mô tả lượt đồ của phép đo bản đồ không gian đảo (RSM). Trong phép đo  
này, hướng của tia X tới được giữ không đổi trong khi mẫu và detector được quay như  
hình 1.5(a). Tại mỗi vị tí góc của mẫu, detector được quay để xác định góc nhiễu xạ 2  
θ.  
Hay nói cách khác, tại mỗi góc tới của tia X đối với mẫu, chúng ta có thể thu được  
ω
một nhiễu xạ tương ứng trong mẫu tại góc nhiễu xạ 2θ khi quay detector. Các kết quả  
6
thu được được thể hiện trên một mặt gồm 2 trục vuông góc gọi là bản đồ không gian  
đảo. Để vẽ bản đồ không gian đảo các góc và 2 được biến đổi thành các thành phần  
ω
θ
của véc tơ mạng đảo Q sử dụng các phương trình:  
1
(1.3)  
(1.4)  
Qx = [cos(2  
θ
-
ω
) - cos  
ω]  
λ
1
Qz = [sin(2  
θ
-
ω
) + sin  
ω
]
λ
Phép đo bản đồ không gian đảo thường được sử dụng nhiều hơn bởi vì chúng cung cấp  
đầy đủ các thông tin có thể thu được từ hai phép đo RC và ω-2θ.  
7
CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU SỰ UỐN CONG MÀNG TINH THỂ CỦA  
MÀNG AlN ĐƯỢC MỌC GHÉP TRÊN ĐẾ TẠO RÃNH α-Al2O3 SỬ  
DỤNG NHIỄU XẠ TIA X  
1.1. Giới thiệu  
Trong chương này, chúng tôi trình bày một phương pháp mới cho việc xác định sự  
uốn cong mặt mạng của các màng tinh thể bằng cách sử dụng các phép đo RC của nhiễu  
xạ tia X. Đây là một phương pháp tương đối đơn giản, bởi vì cài đặt thí nghiệm của nó  
luôn có sẵn trong bất kỳ máy đo nhiễu xạ.  
2.1. Thí nghiệm  
Hình 2.1: Lượt đồ quy trình chế tạo mẫu  
Hình 2.2: Lượt đồ sơ lượt của nhiễu xạ tia x từ các mặt (0002) của màng tinh thể  
AlN  
Quy trình chế tạo mẫu được mô tả như hình 2.1. Các trục X, Y và Z lần lượt biểu  
các hướng  
,
và [0001]. Đầu tiên, như được thấy trong hình 2.1(a), một đế  
[1100] [1120]  
với lối rãnh tuần hoàn được tạo ra trên một đế α-Al2O3 bằng phương pháp khắc ion.  
Hướng của các rãnh là và các rãnh được phân bố tuần hoàn trong hướng  
.
[1120]  
[1100]  
Độ sâu của rãnh được chọn khoảng 1.5 µm trong khi độ rãnh của chúng khoảng 2.0 µm.  
Khoảng cách giữa các rãnh cũng vào khoảng 2.0 µm. Tiếp theo, như có thể được quan  
sát trên hình 2.1(b), một màng tinh thể AlN với bề dày khoảng 8.6 µm được mọc trực  
tiếp trên đế được tạo rãnh sử dụng hệ thống HVPE ở áp suất thấp. Nguồn nhiệt của hệ  
thống HVPE là các đèn hồng ngoại. Áp suất chế tạo là 30 Torr và nhiệt độ chế tạo nằm  
8
trong khoảng 1400 -1500°C. NH3, Al, và HCl được sử dụng như các tiền chất. N2 và H2  
được sử dụng như các khí dẫn.  
Đầu tiên, một nguồn AlCl3 được tạo ra do phản ứng hóa học giữa Al và HCl trong  
zone nguồn của buồng phản ứng ở 550°C. AlCl3 sau đó được đưa vào zone mọc màng  
cùng với NH3. Tại đây, phản ứng hóa học giữa AlCl3 và NH3 tạo ra các lớp tinh thể AlN  
trên đế α-Al2O3 đã được tạo rãnh. Hình 2.1(c) mô tả một ảnh chụp hính hiển vi điện tử  
quét (SEM) của màng tinh thể AlN sau khi được chế tạo xong. Như được thấy từ ảnh  
SEM, trong mẫu tinh thể AN được chế tạo xuất hiện các khoảng trống (void). Các void  
này tạo thành các đường giống như các đường hầm chạy dọc hướng X ngay bên trên các  
rãnh (trench) và được phân bố tuần hoàn trong phương Y với khoảng cách giũa chúng  
là 4-µm.  
Hình 2.2 mô tả lượt đồ sơ lượt của nhiễu xạ tia x từ các mặt (0002) của màng tinh  
thể AlN được chế tạo. Để nghiên cứu sự uốn cong mặt mạng trong hướng X, chùm tia  
X tới được lựa chọn sao cho mặt nhiễu xạ song song với hướng X. Sự uốn cong của mặt  
mạng trong hướng X được xác định bởi một chuỗi các phép đo RC trên mặt (0002) tại  
các vị trí khác nhau trên bề mặt màng tinh thể dọc theo hướng X. Kích thước của chùm  
tia X là 0.1 mm × 0.1 mm. Bước sóng tia X và độ xuyên sâu của chùm tia X lần lượt là  
0.15418 nm và 12.6 µm.  
2.3. Kết quả và thảo luận  
Hình 2.3: (a) Các phép đo RC trên mặt (0002) của màng tinh thể AlN được thực hiện  
tại các vị trí khác nhau trên bề mặt mẫu dọc theo hướng X and (b) Sự thay đổi của góc  
tới  
ω ứng với cường độ nhiễu xạ cực đại trong mỗi đường RC theo vị trí nhiễu xạ  
Hình 2.3(a) miêu tả kết quả của các phép đo RC trên mặt (0002) của màng tinh thể  
AlN được thực hiện tại các vị trí khác nhau trên bề mặt mẫu dọc theo hướng X. Từ kết  
quả thu được ta thấy rằng đường RC tại mỗi vị trí nhiễu xạ chỉ có một đỉnh duy nhất.  
Chạy dọc theo phương X, các đỉnh phổ thay đổi một cách tuyến tính. Điều này chứng tỏ  
hình thái học tinh thể là tương đối đồng nhất dọc theo hướng này. Sự đồng nhất này của  
màng tinh thể khiến cho nó bị uốn cong đáng kể dọc theo hướng này như là một cơ chế  
của việc giải phóng strain vĩ mô xuất hiện do sự sai lệch về các thông số nhiệt và mạng  
của AlN và α-Al2O3. Từ kết thu thu được như hình 2.3(a), sự thay đổi của góc tới ω ứng  
với cường độ nhiễu xạ cực đại trong mỗi đường RC theo vị trí nhiễu xạ được rút ra và  
9
được thể hiện như hình 2.3(b). Kết quả thu được chỉ ra rằng góc tới ω tăng tuyến tính  
với vị trí đo khi dịch chuyển tia X dọc theo hướng X. Để xác định kiểu uốn cong và độ  
cong của màng AlN, một mô hình đã được đưa ra và được trình bày ở hình 2.4. Từ hình  
2.4(a), ta có thể thấy rằng nếu màng tinh thể AlN bị uốn cong lồi lên, thì góc tới  
dần lên khi dịch chuyển chùm tia X dọc theo hướng X. Ngược lại, như có thể nhìn thấy  
ở hình 2.4(b), khi màng tinh thể AlN bị uốn cong lõm xuống, thì góc tới giảm dần khi  
ω tăng  
ω
dịch chuyển chùm tia X dọc theo hướng X. Căn cứ vào kết quả thu được ở hình 2.3(b),  
chúng ta dễ dàng thấy rằng màng AlN bị uốn cong lồi lên dọc theo hướng X. Sự uốn  
cong của mặt mạng như vậy được giải thích là do màng AlN bị nén dọc theo hướng X  
do sự không tương thích giữa các thông số nhiệt và mạng của AlN và α-Al2O3.  
Hình 2.4: Mô hình xác định kiểu uốn cong của màng tinh thể  
Hình 2.5: Mô hình cho việc xác định độ uốn cong của màng tinh thể AlN  
Để xác định độ uốn cong của màng tinh thể AlN, một mô hình cũng đã được đưa ra  
và được trình bày ở hình 2.5. Theo mô hình này, bán kính cong R của màng tinh thể AlN  
dọc theo hướng X được xác định thông qua công thức sau:  
L
R =  
∆ω  
với L là chiều dài trên bề mặt của màng tinh thể AlN được dò bởi chùm tia X dọc theo  
hướng X. Trong thí nghiệm này X = 4 mm. ∆ω là hiệu của các góc tới của chùm tia X  
tại các vị trí X = ̶ 2mm và 2 mm. Từ hình 2.3(b), ∆ω được xác định là 0.07°. Như vậy,  
bán kính cong R của màng tinh thể AlN dọc theo hướng X được xác định vào khoảng  
3.1 m.  
10  
2.4. Kết luận  
Sự uốn cong của màng tinh thể AlN, được chế tạo trên đế α-Al2O3 đã được tạo rãnh  
bằng phương pháp mọc ghép pha hơi, đã được xác định bởi một chuỗi các phép đo RC  
của nhiễu xạ tia X trên mặt tinh thể (0002) của AlN tại những vị trị khác nhau trên bề  
mặt của tinh thể. Các kết quả chỉ ra rằng mạng tinh thể AlN bị uốn cong lồi lên dọc theo  
hướng tinh thể [1100]. Sự uốn cong của màng tinh thể AlN có thể gán cho sự xuất hiện  
của strain trong màng tinh thể do sự không tương thích giữa các thông số nhiệt và mạng  
của màng AlN và đế α-Al2O3.  
11  
CHƯƠNG 3. CẤU TRÚC TINH THỂ VI MÔ CỦA MÀNG AlN ĐƯỢC  
CHẾ TẠO TRÊN ĐẾ AlN/α-Al2O3 ĐƯỢC TẠO RÃNH  
3.1. Giới thiệu  
Trong chương này, chúng tôi tập trung vào các màng tinh thể AlN được chế tạo trên  
các đế AlN/α-Al2O3 đã được tạo rãnh. Như đã được trình bày ở chương 1, mục 1.1.2,  
các màng tinh thể AlN phát triển của trên các đế đã được tạo rãnh trải qua một lối phức  
tạp, bao gồm sự nảy mầm trực tiếp ngay tại các rãnh, phát triển theo phương ngang ngay  
phía trên các rãnh và sự kết hợp của chúng. Chính sự phức tập trong cơ chế phát triển  
này tạo ra một cấu trúc tinh thể vi mô (MCS) tương đối phức tạp của các màng tinh thể  
AlN khi chúng được chế tạo trên các đế được tạo rãnh như cấu trúc tinh thể dạng khảm  
(domain tinh thể), dao động nghiêng mạng, dao động hằng số mạng. Tuy nhiên, một cấu  
trúc như vậy cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.  
Để nghiên cứu cấu trúc tinh thể vi mô của các màng AlN, chúng tôi thực hiện một  
sự kết hợp của phép đo RSM với độ phân giải cao từ XRMD trên các mặt tinh thể đối  
xứng (0004) và bất đối xứng (  
) của tinh thể AlN và phương pháp chụp ảnh TEM.  
1124  
Các kết quả chỉ ra rằng MCS của màng tinh thể AlN có tính bất đẳng hướng cao giữa  
các hướng và , với một vài domain tinh thể nghiêng các góc khác nhau và  
[1120]  
[1100]  
phân bố một cách tuần hoàn theo hướng  
. Sự dao động nghiêng mặt mạng cũng  
[1120]  
phân bố một cách tuần hoàn trong hướng này. Sự dao động mạng được phát hiện lớn  
nhất trong vùng tinh thể được phát triển ngay trên các rãnh. Các kết quả thu được có thể  
được giải thích do sự giảm của strain dọc theo hướng phát triển của tinh thể và sự không  
đồng nhất trong phân bố và hình thái học của khuyết tật đường (dislocation) trong mạng  
tinh thể.  
3.2. Thực nghiệm  
Chi tiết của quy trình chế tạo mẫu giống với quy trình đã được trình bày ở chương  
2. Mẫu vật liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được chế tạo trên đế AlN/α-Al2O3  
đã được tạo rãnh như được mô tả trên hình 3.1. Như có thể thấy trên hình 3.1(a), đầu  
tiên, một lớp đệm AlN dày 5 µm được mọc ghép trên đế (0001) α-Al2O3 sử dụng phương  
pháp MOVPE. Trong đó, trimethylaluminum and NH3 được sử dụng như các nguồn  
alkyl và hydride. Trước khi khắc ion lớp đệm AlN để tạo ra đế AlN/α-Al2O3 đã được  
tạo rãnh, một lớp mỏng SiO2 được mọc ghép trên lớp đệm AlN bằng phương pháp lắng  
đọng pha hơi hóa học. Sau đó, như thể hiện ở hình 3.1(b) một lối tuần hoàn của các  
thanh mỏng SiO2 rộng 3µm cách đều nhau 3µm được tạo ra bởi kỹ thuật khắc quang.  
Trong kỹ thuất khắc ion, Cl2 được sử dụng để tạo ra các plasma Cl−. Như được thấy ở  
hình 3.1(c), bề rộng của các rãnh cũng như khoảng cách giữa chúng đều là 3 µm, trong  
khi độ sâu của rãnh là chính là bề dày của lớp đệm AlN đã bị khắc ion. Hướng của các  
rãnh là  
và các rãnh được phân bố tuần hoàn trong hướng  
. Cuối cùng, như  
[1120]  
[1100]  
thể hiện ở hình 3.1(d), một màng tinh thể AlN dày 15 µm được mọc ghép trên đế AlN/α-  
Al2O3 đã được tạo rãnh bằng phương pháp HVPE. Điều kiện chế tạo trong hệ thống này  
giống với điều kiện chế tạo trong chương 2.  
Hình 3.2(a) miêu tả bức ảnh chụp SEM của màng AlN được mọc ghép trên đế AlN/α-  
12  
Hình 3.1: Lượt đồ sơ lượt quy trình chế tạo mẫu  
Al2O3 đã được tạo rãnh. Hai loại void với kích thước khác nhau tạo ra các đường hầm  
chạy dọc hướng  
có thể được quan sát thấy từ bề mặt bên của màng tinh thể AlN.  
[1100]  
Các void phân bố tuần hoàn dọc theo hướng  
với khoảng cách giữa chúng là 6-  
[1120]  
µm. Các trục X và Y, lần lượt song song với các hướng  
và [1100], thể hiện các  
[1120]  
hướng quét của chùm tia X vi mô trên bề mặt của màng AlN.  
Hình 3.2: (a) Ảnh chụp SEM của màng tinh thể AlN được mọc ghép trên đế AlN/α-  
Al O đã được tạo rãnh va cấu hình nhiễu xạ của XRMD (b) và (c) 0004  
1124  
2
3
̀
13  
MCS của tinh thể AlN được nghiên cứu bởi các phép đo XRMD và TEM. XRMD  
trên các mặt tinh thể (1124 ) và (0004) của màng tinh thể AlN được thực hiện tại Spring-  
8. Kích thước chùm tia X vi mô lần lượt là 0.24 µm × 0.34 µm và 0.35 µm × 0.32 µm  
đối với các XRMD 1124 và 0004. Các hình 3.2(b) và (c) miêu tả cấu hình của các XRMD  
1124và 0004. Với XRMD 0004, chùm tia X tới được lựa chọn sao cho mặt nhiễu xạ  
song song hướng  
như thể hiện ở hình 3.2(c). Các bản đồ tilt-2θ của cả hai XRMD  
[1100]  
được thực hiện tại mỗi vị trí (X, Y) bên trong một diện tích 14 µm × 4 µm trên bề mặt  
của màng tinh thể AlN với các bước 0.5 µm và 1.0 µm dọc theo các trục X và Y. Ở đây,  
tilt được định nghĩa là góc nghiêng của các mặt mạng AlN  
hoặc (0004) đối với bề  
(1124)  
mặt của màng tinh thể AlN và được xác định bởi hiệu giữa góc tới  
với bề mặt màng tinh thể và góc nhiễu xạ . Kích thước của diện tích được chiếu bởi  
chùm tia X vi mô tại mỗi điểm đo (X, Y) trong bề mặt được quét bởi chùm tia X (biểu  
diễn theo các hướng [1120] ) lần lượt là 0.34 µm × 0.24 µm và 0.35 µm × 0.52 µm  
ω của chùm tia X đối  
θ
×
[1100]  
cho XRMD 1124 và 0004. Với XRMD 1124 và 0004 độ xuyên sâu của chùm tia X được  
xác định lần lượt là ~ 17µm và 26 µm. Ảnh chụp TEM cho bề mặt bên của màng tinh  
thể AlN được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu kính hiển vi điện tử cao áp, Đại học  
Osaka, Nhật Bản. Các ảnh TEM được chụp với véc tơ nhiễu xạ g = 0002 và g = 1120  
.
3.3. Kết quả và thảo luận  
Hình 3.3(a) và (b) lần lượt miêu tả ma trận các bản đồ tilt-2θ cho các XRMD thu  
được từ mặt mạng bất đối xứng (1124 ) và bất đối xứng (0004) của màng tinh thể AN tại  
các vị trí nhiễu xạ với X = 0 µm đến 11 µm và Y = 0 µm đến 4 µm trên bề mặt được  
quét bởi chùm tia X vi mô (ta gọi tắt là vùng khảo sát). Từ hình vẽ ta có nhận xét rằng  
hình dạng của các vết nhiễu xạ trong các bản đồ RSM thay đổi một cách tuần hoàn dọc  
theo trục X với chu kỳ 6 µm và hầu như không đổi dọc theo trục Y ứng với mỗi X. Do  
đó, để nghiên cứu cấu trúc tinh thể vi mô của màng tinh thể, ta không cần phân tích tất  
cả các bản đồ RSM thu được trên vùng khảo sát mà chỉ cần tập trung vào một vùng nhỏ  
làm đại diện. Ở đây, chúng ta chọn các bản đồ RSM ứng với Y = 4 µm và X = 0 đến 6  
µm như được thể hiện trên hình 3.4(a) và (b). Như có thể nhìn thấy từ các bản đồ RSM  
trong các hình 3.4, các vết nhiễu xạ được mở rộng trong cả hai hướng tilt và 2θ. Điều  
này cho thấy một sự thay đổi trong góc nghiêng của các mặt tinh thể và hằng số mạng  
bên trong màng tinh thể AlN.  
Để nghiên cứu chi tiết hơn về sự thay đổi góc nghiêng của các mặt tinh thể đối với  
hướng [1120] và [1100], các đường biểu diễn sự phụ thuộc của tilt vào cường độ nhiễu  
xạ dạng tích phân (gọi tắt là profile của tilt) cho cả 2 nhiễu xạ 1124 và 0004 đã được rút  
ra bằng cách tích phân theo 2θ tất cả các đường biểu diễn sự phụ thuộc của tilt vào cường  
độ nhiễu xạ. Hình 3.5(a) và (b) lần lượt miêu tả các profile của tilt cho các nhiễu xạ 1124  
và 0004 thu được t  
ng các profile c  
ường độ khác nhau.  
mô trong vùng kh o sát ch  
ừ
các b  
a tilt thu được t  
u này cho th  
ả
n
đồ RSM trong hình 3.4(a) và (b). Có th  
ể
th  
t vài đỉnh v  
i vùng được chi u x i chùm tia X vi  
i kích thước vài 100 nm. Các  
ấ
y t  
ừ
hình 3.5(a)  
r
c
ằ
ủ
ừ
nhiễ  
u x  
ạ
1124 ch  
ứ
a mộ  
ới góc tilt và  
Điề  
ấ
y rằ  
ng m  
ỗ
ế
ạ bở  
ả
ứ
a mộ  
t vài domain tinh th  
ể vớ  
14  
Hình 3.3: Bản đồ tilt-2θ thu được từ các vị trí X = 0 µm đến 11 µm và Y =  
0
µ
m đến 4 m trong vùng khảo sát trong XRMD (a) 1124 và (b) AlN 0004  
µ
domain này nghiêng t  
tu n hoàn trong hướng này. Ngược l  
profile c a tilt thu được t nhi u x 0004 ch  
ch a nhi u h n m đỉnh, số đỉnh r t ít và kho  
p c a nhi u x u này cho th y màng AlN có r  
này g n như định hướng song song v  
ạ
i các góc khác nhau đối v  
ớ
i hướng  
và s  
ắ
p x  
hình 3.5(b), h  
t. M c dù m t s  
a chúng r t nh so v  
t ít domain tinh th  
i nhau theo  
ế
p m  
u h  
profile  
i trường  
c theo  
ộ
t cách  
[1120]  
ầ
ạ
i, như  
có th  
ể
nhìn th  
ấ
y từ  
ầ
ế
t các  
ủ
ề
ừ
ễ
ạ
ứ
a mộ  
t
đỉnh duy nh  
ấ
ặ
ấ
ộ
ố
ứ
ơ
ộ
t
ấ
ả
ng cách gi  
ữ
ỏ
ớ
h
h
h
ợ
ủ
ễ
ạ
.
Đ
iề  
ấ
ấ
ể
d
ọ
1124  
ướng [1100] và các domain tinh th  
ướng này.  
ể
ầ
ớ
Hình. 3.4: Các bản đồ tilt-2θ thu được từ các vị trí X = 0 µm đến 6 µm và Y =  
4
µ
m trong vùng khảo sát trong XRMD (a) 1124 và (b) AlN 0004  
15  
Ti  
chúng tôi gi  
Hình 3.6(a) và (b) miêu t  
ế
p theo, để nghiên c  
i thi u m t thông số đượ  
ượ đồ gi i thích cách xác định  
đỉnh như ở hình 3.6(a), là độ bán r  
n m đỉnh, đầu tiên, FWHM c a m  
đại bên ph  
nh t như được miêu tả ở hình 3.6(b). Áp  
a tilt thu được t các nhi  
dao động trong góc nghiêng c a các domain tinh  
∆α1120 và ∆α1100  
ứ
u s  
ự
khác nhau trong góc nghiêng c  
định ngh a là dao động nghiêng m  
các profile c  
ng FWHM c a profile. V  
đỉnh được xác định. Khi  
i c đỉnh có góc tilt l n nh  
ủ
a các domain tinh th  
ng LTF  
a tilt. V  
ể
,
ớ
ệ
ộ
c
ĩ
ạ
∆α  
.
ả
l
t
ả
∆
α
t
ừ
ủ
ới  
profile ch  
ỉ
ch  
ứ
a mộ  
t
∆
α
ộ
i
ả
ủ
ới  
profile ch  
ứ
a nhi  
ề
u hơ  
ộ
t
ủ
ỗ
đó,  
∆
α được xác định là kho  
và n a c đại bên trái c  
ng cách xác định nh  
1124 và 0004, chúng ta thu được s  
i các hướng [1120] và [1100]  
ả
ủ
ng cách gi  
đỉnh có góc tilt nh  
trên l  
ữ
a n  
ữ
a c  
ự
c
ủ
a
ớ
ất  
ữ
ự
c
a
ỏ
ấ
d
x
ụ
ạ
∆
α
ư
ầ
n lượt cho các profile c  
ủ
ừ
ễu  
ự
ủ
thể đối v  
ớ
,
.
Hình 3.5: Profile của tilt cho các nhiễu xạ 1124 và 0004 thu được từ các bản  
đồ RSM trong hình 3.4(a) và (b)  
Hình 3.6. Lượt đồ giải thích định nghĩa LTF từ (a) profile của tilt chỉ chứa một  
đỉnh và (b) profile của tilt chứa một vài đỉnh với góc tilt và cường độ khác nhau  
L
ậ
p b  
Y) trên vùng kh  
vùng kh o sát. Các k  
hình 3.7(a) và (b), ta th  
ương ng v i tính ch t tu  
ả
n
đồ cho t  
o sát, chúng ta thu m  
t qu thu đượ được th  
y r ng LTF được phân b  
n hoàn c  
ấ
t c  
ả
các  
và  
thu được t  
ạ
i t  
ấ
t các các  
∆α1120 và ∆α1100 trên trên  
các hình 3.7(a) và (b). Nhìn t các  
c theo hướng [1120]  
n hoàn c a các void.  
điểm nhiễu xạ (X,  
∆α1120  
∆α1100  
ả
ộ
t b  
ả
n
đồ phân b  
hiên  
ố của  
ả
ế
ả
c
ể
ở
ừ
ấ
ằ
ố
tu  
ầ
n hoàn d  
ọ
,
t
ứ
ớ
ấ
ầ
ủ
a l  
ố
i rãnh và s  
ự
phân b tu  
ố
ầ
ủ
16  
Hình 3.7: Bản đồ phân bố củ (a) ∆α1120 và (b) ∆α1100 trong vùng khảo sát  
Hình 3.8: Cơ chế mọc ghép của màng tinh thể AlN trên đến được tạo rãnh  
AlN/α-Al2O3  
LTF tr  
ở
nên l  
n h  
ớ
n h  
ơn trong các vùng VCR. Mặc khác, so sánh ∆α1120 và ∆α1100 , ta thấy  
∆α1120  
lớ  
ơ
n
∆α1100 kho  
ả
ng mười l  
AlN có tính b  
thu được có th gi  
được t  
ầ
n.  
Đ
i
ề
u này cho th  
đẳng hướng cao gi  
a vào  
o rãnh. M c dù màng tinh th  
c theo phương ngang phát tri  
để được t o rãnh -Al2O3, quá trình m  
-Al2O3 được t o rãnh c ng bao g m b n lo i m  
c th ng đứng ngay trên b  
ấ
y r  
ằ
ng s  
ự
dao động nghiêng  
m
ạ
ng trong màng tinh th  
. Các k t qu  
AlN trên các đế đ  
ể
ấ
t
ữ
a hai hướng  
và  
[1120]  
ế
ả
ể
ả
i thích d  
ự
ả
nh hưởng c  
ủ
a c  
ơ
ch  
AlN m  
n m nh theo  
ế
m
ọ
c c  
ủa  
[1100]  
màng tinh th  
cách đồng nh  
ướng . Tương t  
ể
ã
ạ
ặ
ể
ọ
c m  
ột  
ấ
t trong hướng  
, sự  
m
ọ
ể
ạ
[1100]  
h
ự
nh  
AlN trên đế AlN/  
ghép khác nhau như được th hi  
ư
trường h  
ợ
p c  
ủ
a
ạ
α
ọ
c
c
[1120]  
ghép c  
ủ
a tinh th  
ể
α
ạ
ũ
ồ
ố
ạ
ọ
ể
ệ
n
ở
hình 3.8: (I) m  
ọ
ẳ
ề
mặ  
t
α-  
17  
Hình 3.9: Ảnh chụp TEM của màng tinh thể AlN với các véc tơ nhiễu xạ (a) g  
= 0002 và (b) g =  
va (c) lượt đồ minh họa cấu trúc lệch mạng tổng hợp  
̀
1120  
trong màng tinh thể AlN  
Bảng 3.1: Tổng hợp các loại lệch mạng trong màng tinh thể AlN và đặc trưng của chúng.  
DI  
DII  
DII*  
DIII  
DIV  
DIV*  
Screw, edge, mixed  
Screw  
Screw  
Edge  
Mixed  
Screw  
b//[0002]  
b//[0002] or  
b//  
b//  
b//  
b//  
[1120]  
[1120]  
[1120]  
[1120]  
[1120]  
Al2O3 c  
ủ
a vùng rãnh VCR, (II) m  
c th ng đứng t  
a vùng (III) và b t ngang ngang trên các rãnh. Do s  
c theo hướng m c [0001], các m t m ng  
nghiêng đối v i hướng . Do ó, các domain tinh thể  
ọ
c theo phương ngang t  
t c a các AlN terace, (IV) m  
gi m d  
i thành bên c  
AlN trong  
ừ
t
ường bên c  
ủ
a các AlN  
terrace, (III) m  
bên c  
ướng  
ọ
ẳ
ừ
b
ề
m
ặ
ủ
ọ
c ngang t  
n c a strain trong  
a các  
ừ thành  
ủ
ắ
ự
ả
ầ
ủ
h
d
ọ
ọ
ặ
ạ
tạ  
(2201)  
ủ
[1120]  
AlN terrace b  
ị
ớ
đ
[1120]  
18  
Hình 3.10: Lượt đồ minh họa cấu trúc tinh thể vi mô của màng tinh thể xung  
quanh các lệch mạng  
vùng (II) c  
vùng (IV) c  
c theo hướng [0001]. Góc nghiêng c  
(IV) có l khác nhau b i vì s khác nhau c  
ũ
ng b  
ị
nghiêng đối v  
ớ
i hướng này. Tương t  
ự, các domain tinh thể AlN trong  
ũ
ng b  
ị
nghiêng đối v  
ớ
i hướng do s  
ự
gi a strain trong vùng (III)  
ả
m củ  
[1120]  
d
ọ
ủ
a các domain tinh thể AlN trong vùng (II) và  
ẽ
ở
ự
ủa strain trong AlN terrace và trong vùng  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 23 trang yennguyen 19740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu cấu trúc tinh thể của màng tinh thể ALN được nuôi bằng phương pháp mọc ghép pha hơi hyđrua trên đế sapphire được kết cấu rãnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_nghien_cuu_cau_truc_tinh_the_cua_mang.pdf