Báo cáo Đề tài Xã hội hóa giáo dục đại học: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2
BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
_____________________
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC
ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Mã số: ĐTCT.2019.110
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phương Hữu Từng
HÀ NỘI, NĂM 2020
BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
_____________________
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC
ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Mã số: ĐTCT.2019.110
Chủ nhiệm đề tài:
Thành viên đề tài:
TS. Phương Hữu Từng
CN. Lại Thế Trí
ThS. Nguyễn Văn Trị
TS. Trần Thị Ngân Hà
HÀ NỘI, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Đề tài đã sử dụng các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, được công bố theo đúng quy
định trong quá trình nghiên cứu. Những kết quả nghiên cứu mà đề tài đạt được
là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và chưa từng
công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Chủ nhiệm đề tài
Phương Hữu Từng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ................................................................1
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài........................................................................7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .......................................................................7
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................8
7. Nội dung nghiên cứu của đề tài......................................................................11
1.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................................ 12
1.1.1. Xã hội hóa.................................................................................................12
1.1.2. Giáo dục đại học.......................................................................................14
1.1.3. Xã hội hóa giáo dục đại học.....................................................................15
1.2. Bản chất, vai trò và yêu cầu đối với xã hội hóa giáo dục đại học ............................. 17
1.3. Cơ sở pháp lý về xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam ........................................ 23
1.4. Nội dung của xã hội hóa giáo dục đại học ................................................................. 29
1.4.3. Xã hội hoá hoạt động tài chính ................................................................31
1.4.4. Xã hội hoá cơ sở vật chất, thiết bị............................................................32
1.4.5. Xã hội hoá dịch vụ công khác...................................................................33
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa giáo dục đại học ............................................ 34
1.5.1. Các yếu tố khách quan..............................................................................34
1.5.2. Các yếu tố chủ quan .................................................................................35
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................................. 35
2.2.1. Xã hội hóa giáo dục đại học ở Đức..........................................................41
ii
nền giáo dục phát triển..................................................................................................45
châu Á............................................................................................................................52
nghiệp Hà Nội................................................................................................................56
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................................. 58
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI............................................................................ 59
3.1. Khái quát về xã hội hóa giáo dục đại học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội..................... 59
vụ Hà Nội ........................................................................................................................... 76
học Nội vụ Hà Nội .........................................................................................................76
bộ, giảng viên ................................................................................................................78
các trường đại học trong nước và quốc tế ........................................................................ 88
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................................. 93
KẾT LUẬN......................................................................................................................... 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 97
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
TT
1
BNV
Bộ Nội vụ
2
BGD-ĐT
CL
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Công lập
3
4
CNH-HĐH
CT TNHH MTV
DN
Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Doanh nghiệp
5
6
7
DVC
Dịch vụ công
8
ĐH
Đại học
9
GDĐH
Giáo dục đại học
10 GD&ĐT
11 KT-XH
Giáo dục và Đào tạo
Kinh tế - Xã hội
12 NCL
13 OECD
14 SX-KD
15 TLO
Ngoài công lập
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
Sản xuất - kinh doanh
Văn phòng chuyển giao công nghệ
Xã hội hoá
16 XHH
DANH MỤC BẢNG
vụ Hà Nội từ năm 2013-2017........................................................................................32
iv
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, là một chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước. Chủ trương này có mục tiêu chính là phát huy
sức mạnh toàn dân, tạo ra những chuyển biến tốt hơn về chất lượng giáo dục bậc
cao. Tuy nhiên khi đi vào thực tế, chủ trương này đã bị nhiều người hiểu đơn giản
chỉ là chuyển gánh nặng tài chính sang vai người dân. Đề tài tiếp cận xã hội hóa
giáo dục đại học từ góc độ “Xã hội hóa dịch vụ công trong giáo dục”, phù hợp với
thông lệ quốc tế và nhất quán với những chủ trương của Đảng và Nhà nước. Xã hội
hóa dịch vụ công trong giáo dục với ý nghĩa đó bao gồm sự tham gia của nhiều bên,
nhiều thành phần xã hội trong quá trình quản trị trường đại học và hệ thống đại học,
giúp Trường đại học thực hiện tốt nhất vai trò và sứ mệnh của mình để phục vụ cho
lợi ích của Quốc gia. Trong nhiều bên tham gia đó, yếu tố quan trọng nhất vẫn là
Nhà nước; do vậy một nội dung đề tài sẽ bàn đến vai trò của Nhà nước trong một
hệ thống giáo dục đại học đã được xã hội hóa.
Giáo dục xét từ bản chất được xem là một dịch vụ công. Dịch vụ công
(Public service) là dịch vụ do Nhà nước cung cấp cho dân qua các tổ chức Nhà
nước hay qua việc hỗ trợ tài chính cho các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân. Khái
niệm về dịch vụ công dựa trên ý tưởng cho rằng một số dịch vụ nên được coi như
quyền lợi tối thiểu mà mọi công dân có quyền được hưởng, bất kể thành phần kinh
tế, bởi vì những dịch vụ đó liên quan tới quyền con người và có những hậu quả liên
đới trực tiếp tới quá trình phát triển xã hội và lợi ích công.
Quá trình đại chúng hóa giáo dục đại học cùng với chi phí tăng cao dành cho
việc đào tạo và nghiên cứu đã dẫn đến một hệ quả không thể tránh khỏi là chính
sách bao cấp ấy phải thay đổi, và đại học càng ngày càng phụ thuộc vào học phí
của sinh viên để tồn tại. Vả lại, thu nhập vượt trội của người tốt nghiệp ĐH so với
người chưa học ĐH [3] làm cho việc theo đuổi giáo dục bậc đại học thực sự là một
cuộc đầu tư cho tương lai, và cung cấp giáo dục đại học đã trở thành một thị trường
năng động. Tuy nhiên, xã hội hóa giáo dục không phải là giao phó hệ thống giáo
dục cho thị trường và để nó vận hành theo quy luật thị trường.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc
1
Bộ Nội vụ Hà Nội có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mới theo quyết định
468/QĐ-BNV ngày 03/04/2018 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ là đào tạo đại học, sau đại
học; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; hợp tác quốc tế và các dịch vụ
phục vụ ngành Nội vụ, nền công vụ và các yêu cầu của xã hội [7]. Để cụ thể hóa
chức năng, nhiệm vụ đã đặt ra, Nhà trường cần thực hiện tốt công tác quản lý hành
chính, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất. Trong đó để thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tốt nhất, hiệu quả nhất thì vai trò của
tất cả các nguồn lực được huy động để phát triển Nhà trường là rất quan trọng.
Nguồn lực đó từ Ngân sách Nhà nước và thu học phí của sinh viên, học viên các hệ
của Nhà trường, nhưng với hai nguồn lực kể trên vẫn chưa đủ cho sự phát triển trước
các yêu cầu hội nhập. Do vậy việc XHH GDDH tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
hiện nay là rất cần thiết. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, nhóm tác giả đã chọn đề
tài: “Xã hội hóa giáo dục đại học: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Trường
Đại Học Nội vụ Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường.
2. Lịch sử nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục đại học
Xã hội hóa giáo dục không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nó có nguồn gốc
lâu đời và là bước phát triển của chủ trương phát triển giáo dục được thực hiện từ
nhiều năm qua. Tuy nhiên vấn đề này được nhiều học giả nghiên cứu sâu sắc và có
kết quả nghiên cứu cụ thể từ đầu thế kỷ XXI đến nay. Tác giả phân loại vấn đề
nghiên cứu thành 2 nhóm theo phạm vi nghiên cứu XHH GDDH dưới góc độ vĩ mô
và vi mô như sau:
a. Xã hội hóa giáo dục đại học ở góc độ ở góc độ vĩ mô:
Xã hội hóa GDDH ở góc độ vĩ mô coi GDDH là một kênh cung cấp dịch vụ
công trong nền kinh tế, tiêu biểu có các công trình trong và ngoài nước như sau:
Nhóm tác giả Martine Lombard, Gilles Dumont (2007): Pháp luật hành
chính của Cộng hòa Pháp, cuốn sách là kết quả của sự kết hợp giữa Đại học Tổng
hợp Pantheon với Đại học Luật và Kinh tế Limoges do Nxb Giáo dục xuất bản năm
2007 [6] đã trình bày những kiến thức cơ bản về dịch vụ công như khái niệm, các
nguyên tắc, các yếu tố cầu thành, mô hình cung cấp dịch vụ. Hai tác giả cũng đã
nhấn mạnh pháp luật về dịch vụ công vừa bao gồm các quy định của pháp luật hành
chính, vừa có các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, công
2
nghiệp. Đặc biệt các tác giả khẳng định có sự ảnh hưởng của pháp luật Liên minh
châu Âu đến pháp luật của các quốc gia thành viên về dịch vụ công nhưng pháp
luật các quốc gia thành viên vẫn có những quy định độc lập về dịch vụ công phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng nước.
Nguyễn Văn Quang (2010), Đề tài khoa học “Hoàn thiện khung pháp luật về
xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam” đã tập trung nghiên cứu khía cạnh
pháp lý của vấn đề xã hội hóa cung ứng dịch vụ công [23]. Một trong những kết
quả nghiên cứu quan trọng của Đề tài là xác định khung pháp luật về xã hội hóa
cung ứng dịch vụ công bao gồm quy định về quản lý nhà nước. Hoàn thiện pháp
luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công nhằm tạo ra môi trường pháp lý đồng bộ,
hoàn chỉnh để điều chỉnh hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ công của mọi thành
phần tham gia là giải pháp quan trọng thúc đẩy xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở
nước ta.
Trong cuốn sách: Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, do Nxb Chính trị Quốc
gia Hà Nội xuất bản năm 2003 [18], PGS.TS Lê Chi Mai đã công bố những kết quả
nghiên cứu tương đối toàn diện, đầy đủ về dịch vụ công dưới các góc độ kinh tế,
quản lý. Tác giả đã có sự so sánh giữa dịch vụ công cộng, dịch vụ sự nghiệp công
và dịch vụ hành chính công để từ đó đưa ra những đặc trưng riêng của từng nhóm
dịch vụ công. Riêng về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính, tác giả đã nghiên
cứu dưới góc độ lý thuyết về bản chất, các đặc trưng của dịch vụ, các loại dịch vụ.
Sách tham khảo do TS. Chu Văn Thành chủ biên: Dịch vụ công và xã hội hoá
dịch vụ công - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
xuất bản năm 2004 [28], là tập hợp bài viết của nhiều tác giả khác nhau (hai mươi
bảy bài viết) về hai nội dung lớn: Một là về những vấn đề lý luận về dịch vụ công ở
Việt Nam như khái niệm dịch vụ, mối quan hệ dịch vụ công với nhà nước, vai trò
của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ, vai trò quản lý của Nhà nước với việc cung
ứng dịch vụ. Hai là thực tiễn tổ chức thực hiện dịch vụ công ở Việt Nam.
Nguyễn Đình Phan (2010) Đề tài khoa học cấp Bộ - Bộ Nội vụ: “Nâng cao
chất lượng dịch vụ hành chính công thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập
[20]. Trong đề tài này, các tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về dịch vụ
3
công, dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính. Đặc biệt, chuyên đề của đề tài tập
trung làm rõ về tổ chức thực hiện các dịch vụ hành chính công trong điều kiện thực
tiễn của Hà Nội.
Nguyễn Ngọc Bích (2012): “Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh
vực hành chính ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà
Nội [11]. Đề tài luận án tiếp cận pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành
chính một cách toàn diện, đồng thời tập trung làm rõ những hạn chế, khiếm khuyết
của pháp luật cùng với các nguyên nhân của những hạn chế, trên cơ sở đó đề xuất
các giải pháp hoàn thiện pháp luật, về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính phù
hợp với yêu cầu khách quan về phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu của nhân dân về
dịch vụ trong giai đoạn hiện nay.
Lương Việt Hà (2015), “Quản lý hoạt động tham gia xã hội hoá giáo dục
của trường trung học phổ thông khu vực đồng bằng sông Hồng”, Đề tài luận án đã
nghiên cứu 3 nội dung chính: (1) Nghiên cứu hoạt động tham gia và quản lý hoạt
động tham gia XHH giáo dục của trường trung học phổ thông theo tiếp cận phối
hợp tham gia giữa nhà trường với cha mẹ học sinh và Cộng đồng; (2) Thực trạng về
công tác XHH giáo dục quản lý hoạt động tham gia xã hội hoá giáo dục của 10
trường trung học phổ thông tại 05 tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Hồng;
(3) Kết quả áp dụng trong quản lý hoạt động tham gia xã hội hoá giáo dục ở các
trường trung học phổ thông. Luận án đã công bố được những kết quả mới, đó là:
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động tham gia
XHH giáo dục của trường trung học phổ thông. Đưa ra các bước của qui trình quản
lý hoạt động tham gia XHH giáo dục của trường trung học phổ thông. Đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác XHH giáo dục và quản lý hoạt động
tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng vào nhà trường đó là phải: Phát triển hệ
thống giao tiếp thông tin hai chiều giữa nhà trường với cha mẹ học sinh và cộng
đồng; Chiến lược huy động tham gia của cha mẹ học sinh và thành viên cộng đồng
vào hoạt động XHH giáo dục của trường trung học phổ thông; Nâng cao năng lực
quản lý hoạt động tham gia XHH giáo dục của trường trung học phổ thông.
b. Xã hội hóa giáo dục đại học ở góc độ vi mô:
4
Xã hội hóa ở góc độ vi mô là cách tiếp cận xã hội hóa giáo dục đại học của các
Trường, Viện, Học viên, các cơ sở đào tạo khác (gọi chung là cơ sở giáo dục đại học),
nhằm huy động tất cả các nguồn lực nhằm phát triển Nhà trường một cách tự chủ,
hiệu quả cao nhất nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu xã hội, tiêu biểu có các công trình
nghiên cứu sau:
- GS. TSKH Vũ Ngọc Hải (2007), “Về quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã
hội của các trường đại học nước ta” [15]. Bài viết đề cập đến một trong những vấn
đề mà ngành giáo dục và đào tạo nước ta lúng túng trong những năm đổi mới, đó là
vấn đề quản lý tập trung và phân cấp quản lý cho các cơ sở giáo dục đại học. Trong
đó, có vấn đề trao quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội cho các trường đại học.
Tuy nhiên, những cố gắng nhằm chuyển quyền quản lý từ trung ương xuống cơ sở
chưa được thể hiện nhiều trong các chính sách và cũng chưa đồng bộ.
- TS. Lê Quốc Hùng (2010), Xã hội hóa giáo dục đại học và giải pháp nâng
cao chất lượng đào tạo đại học ngoài công lập, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 167
tháng 3/2010 [16]. Bài viết tập trung vào việc đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục hệ ngoài công lập - một trong những thành phần quan trọng của
giáo dục đại học, góp phần giải quyết nhiều vấn đề của xã hội hóa giáo dục nhưng
hiện nay chất lượng thấp, cơ sở vật chất yếu kém.
- Nguyễn Văn Động (2011), Vấn đề xã hội hóa giáo dục đại học trong dự
thảo luật giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học số 10/2011, tr15-
19 [12]. Theo tác giả xã hội hóa giáo dục cần là một chương mục, nội dung trong
Luật giáo dục đại học và các nội dung cơ bản cần luật hóa như sau: (1) Huy động
tất cả các nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục; (2) Sự giám sát của xã hội
đối với hoạt động giáo dục; (3) Hoạt động của cả xã hội nhằm khuyến học, khuyến
tài; (4) Xây dựng xã hội học tập; (5) Tạo điều kiện để người dân học tập suốt đời;
(6) Hợp tác quốc tế về giáo dục. Chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục
đại học với nội dung như sau: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục đại học; ưu tiên
thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục có vốn đầu tư lớn và có đầy đủ các điều
kiện thành lập theo quy định. Hỗ trợ kinh phí đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục
khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao”.
5
- Nguyễn Ngọc Giang (2012), Xã hội hóa giáo dục đại học ở Trung Quốc từ
năm 1993 đến nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học, Đại học KHXH và
Nhân văn [14]. Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn hiện
vẫn còn đang gây tranh cãi về xã hội hóa giáo dục cũng như làm rõ một số vấn đề
về tiến trình xã hội hóa giáo dục đại học Trung Quốc từ năm 1993 đến nay, đặc biệt
là vấn đề hoạch định chính sách, giám sát và quản lý nhà nước, những thành tựu và
thách thức. Từ đó luận văn đưa ra một vài suy nghĩ cho việc thực thi chính sách này
tại Việt Nam.
- Lê Lệ Phương (2014), “Xã hội hóa giáo dục đại học ở Hà Nội: Thực trạng
và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện quản lý giáo dục [21]. Đề tài nghiên cứu
thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học tại các trường đại học ngoài công lập trên
địa bàn thành phố Hà Nội. Phân tích những thuận lợi, cũng như khó khăn và thiếu
sót, tìm ra nguyên nhân của các khó khăn trên, từ đó đề ra các biện pháp khắc phục
trong hoạt động xã hội hóa của các trường đại học trên địa bàn Hà Nội, khuyến
nghị hoàn thiện chính sách xã hội hóa giáo dục đại học nói chung và trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
- Tạ Thị Bích Ngọc (2017), Chính sách Xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt
Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển giáo dục đại học theo xu hướng hội nhập quốc tế,
Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn, tháng 9/2017 [19]. Ở Việt Nam, XHH
GDDH là một chủ trương lớn đã được thể chế hóa. Tuy nhiên, do cách hiểu về xã
hội hóa nói chung và xã hội hóa giáo dục đại học nói riêng còn nhiều điểm chưa
thống nhất, nên việc thực thi chính sách xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam
còn nhiều điểm bất cập. Bài viết tập trung phân tích chính sách xã hội hóa giáo dục
đại học ở Việt Nam, làm rõ biểu hiện của xã hội hóa giáo dục đại học và đề xuất
các giải pháp để tăng cường XHH GDDH trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục.
Tóm lại, qua nghiên cứu các đề tài, các sách tham khảo, bài báo khoa học,
luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ và các công trình khoa học về xã hội hóa giáo dục
đại học, nhóm nghiên cứu có thể rút ra những nhận xét sau:
Các bài viết bàn về vấn đề lý luận về XHH GDDH như bản chất XHH giáo
6
dục, tính tất yếu của XHH giáo dục, vai trò của xã hội hóa đối với sự phát triển của
giáo dục và kinh tế, xã hội. Nhìn chung, các tác giả khẳng định những thành tựu mà
xã hội hóa mang lại cho GDDH Việt Nam, tuy nhiên XHH GDDH ở Việt Nam
đang đi chưa chuẩn mục tiêu mà Chính phủ đặt ra, và ít nhiều đang đánh mất những
giá trị nguyên bản tốt đẹp của XHH giáo dục nói chung. Từ đó các tác giả đưa ra
nhiều phương pháp từ góc độ khoa học nhằm đổi mới căn bản và mạnh mẽ giáo
dục đại học Việt Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp nguồn tài liệu kinh nghiệm về hoạt động
xã hội hóa ở các nước trên thế giới, nhóm tác giả đưa ra những nét khái quát nhất
về bối cảnh lịch sử, chính sách thực hiện và tác động của XHH GDDH này tới xã
hội của toàn bộ quá trình XHH GDDH ở các nước trên thế giới từ những năm 2000
đến nay. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị - đặc biệt là những bài học
trên góc độ thay đổi quan niệm tư tưởng đối với quá trình xã hội hóa giáo dục đại
học ở Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài: “Xã hội hóa giáo dục đại học: Kinh
nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm đối với Trường Đại học Nội vụ Hà Nội” so
với các công trình nghiên cứu khác, tiếp cận dưới góc độ cung ứng dịch vụ công
trong lĩnh vực giáo dục một cách toàn diện. Đồng thời đề tài cũng tập trung làm rõ
những hạn chế, khiếm khuyết của XHH GDDH cùng với nguyên nhân của các hạn
chế. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả hoạt động
XHH GDDH tại Đại học Nội vụ Hà Nội không bị trùng lặp với các công trình
nghiên cứu đã công bố trước đó.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm luận giải, phân tích kinh nghiệm quốc tế về xã
hội hóa trong giáo dục đại học, và rút ra bài học kinh nghiệm đối với trường Đại học
Nội vụ Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất: Tìm hiểu, phân tích khái niệm, bản chất và nội hàm của xã hội hóa
giáo dục đại học (XHH GDDH); Nội dung của XHH GDDH ở Việt Nam; Các yếu
tố tác động đến XHH GDDH trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
7
Thứ hai: Phân tích, đối chiếu so sánh kinh nghiệm về XHH GDDH của các
nước phát triển, đang phát triển, các nước có điều kiện kinh tế - xã hội, và giáo dục
đại học tương đồng với Việt Nam. Phân tích các điều kiện vận dụng, bài học kinh
nghiệm cho XHH GDDH tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Thứ ba: Phân tích thực trạng XHH GDDH tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
hiện nay về các nội dung là: (i) Đào tạo; (ii) Nghiên cứu khoa học (iii) Cơ sở vật
chất; (iv) Tài chính. Tổng kết các kết quả, thành tựu đạt được, các hạn chế, khó khăn
và tìm ra nguyên nhân của các hạn chế, khó khăn đó.
Thứ tư: Đề xuất một số giải pháp XHH GDDH tại Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội đến năm 2025 và khuyến nghị các cơ quan quản lý và cán bộ, giảng viên để thực
thi giải pháp trên.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Khách thể nghiên cứu: Các cơ sở giáo dục đại học quốc tế và ở Việt Nam.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xã hội hóa giáo dục đại học.
b. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về nội dung: Xã hội hóa giáo dục đại học là một vấn đề rộng lớn, bao trùm,
gồm nhiều nội dung. Tuy nhiên trong giới hạn của một đề tài nghiên cứu cấp cơ sở,
nhóm tác giả tập trung vào 4 nội dung: (i) Quản trị đại học và Cán bộ, giảng viên;
(ii) Khoa học, công nghệ; (iii) Cơ sở vật chất, thiết bị (iv) Tài chính.
- Về không gian: Một số trường đại học trên thế giới, tập trung phân tích sâu
sắc một số khía cạnh về XHH GDDH của trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
- Về thời gian: Kinh nghiệm quốc tế về xã hội hóa giáo dục đại học từ đầu
thế kỷ XXI đến nay. Thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học của Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018, đề xuất giải pháp đến năm 2025.
6. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
a. Cách tiếp cận:
- Khung phân tích lý thuyết của đề tài: Quy trình nghiên cứu của đề tài được
mô hình hóa qua hình 1.1. dưới đây.
8
Kinh nghiệm quốc tế
về xã hội hóa
Chủ trương, đường lối
của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa
giáo dục đại học ở Việt Nam
giáo dục đại học
Giải pháp xã hội hóa
giáo dục đại học ở
Đại học Nội vụ Hà Nội
Các yếu tố ảnh hưởng:
Nhiệm vụ, yêu cầu
về xã hội hóa
giáo dục đại học ở Việt Nam
* Khách quan: Bối cảnh
quốc tế; Môi trường KT-
XH; Điều kiện giáo dục
đại học.
Thực trạng
Xã hội hóa
giáo dục đại học ở
Đại học Nội vụ Hà Nội
Hạn chế, nguyên nhân
của hạn chế
* Chủ quan: Chính sách
về XHH GDDH; Đội ngũ
cán bộ, giảng viên.
Cơ sở
hạ
tầng,
thiết bị
Dịch
vụ
công
khác
Khoa
Quản
Nhân
trị
đại
Tài
chính
học -
công
nghệ
sự
học
Hình 1.1. Sơ đồ khung phân tích của đề tài
(Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng)
- Cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu tiếp cận từ
góc độ giáo dục đại học là cung cấp dịch vụ công, và tiếp cận xã hội hóa giáo dục đại
học là một hoạt động gồm các nội dung: (i) Đào tạo; (ii) Khoa học, công nghệ; (iii)
Cơ sở cật chất, thiết bị; (iv) Tài chính.
b. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -
Lênin, trong đó vận dụng linh hoạt, tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử để thấy được tiến trình hình thành, phát triển của pháp luật XHH DVC
trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp
9
nghiên cứu khoa học được sử dụng phù hợp với yêu cầu nghiên cứu từng nội dung
của đề tài như phương pháp phân tích, tổng hợp; giáo dục học; thống kê, khảo sát;
phương pháp quy nạp, diễn dịch. Áp dụng vào các nội dung của đề tài như sau:
- Phương pháp lịch sử: Cần nhấn mạnh rằng mỗi giai đoạn cụ thể vấn đề
XHH GDDH đều đặt ra và phản ánh những quy luật mang tính lịch sử, trong đó
XHH và XHH GDDH... đều được phản ánh theo những yêu cầu có tính lịch sử. Vì
vậy sử dụng phương pháp lịch sử để phân tích, làm rõ bản chất của XHH, công tác
XHH GDDH trong mỗi giai đoạn, thời điểm lịch sử nhất định là một yêu cầu khách
quan khoa học khi nghiên cứu giải quyết những lý luận và thực tiễn quá trình hình
thành XHH và đề xuất các giải pháp về XHH GDDH trong hoạt động của các
trường ĐHCL ở Việt Nam phù hợp với yêu cầu hiện nay.
- Phương pháp thống kê so sánh: Để làm rõ quá trình hình thành, thay đổi,
sửa đổi, bổ sung XHH GDDH và những tác động, ảnh hưởng, một số lĩnh vực trong
hoạt động của trường ĐH tác giả rất quan tâm sử dụng phương pháp thống kê so
sánh các số liệu thu thập được với nhau. Việc so sánh đã cho phép làm sáng tỏ nhiều
vấn đề trước đây còn chưa có sự đánh giá toàn diện nên bị hiểu sai như vấn đề XHH
GDDH với quyền tự chủ của các trường đại học.
- Phương pháp tổng hợp hệ thống: Trên cơ sở tài liệu, thông tin và dữ liệu thu
thập được, việc phân tích, đánh giá, xem xét các khía cạnh của vấn đề từ thực tiễn và
khoa học hành chính công được thực hiện bằng cách phân tích, tổng hợp theo hệ
thống đưa ra những kết luận, đề xuất khoa học, phù hợp với lý luận và thực tiễn cho
công tác XHH GDDH trong hoạt động của các trường đại học ở Việt Nam. Đó là
phương pháp quan trọng mà tác giả đã vận dụng trong nhiều chương mục của đề tài.
- Phương pháp phân tích: Theo phương pháp này tác giả đã phân tích và
nghiên cứu các vấn đề XHH GDDH trong các trường ĐH gắn liền chặt chẽ với nhiệm
vụ tự chủ đại học hiện nay. Tác giả cũng xem xét ý nghĩa của XHH GDDH trên các
phương diện chính trị, kinh tế, xã hội để tìm ra những bài học cần thiết cho nhiệm vụ
này đối với các trường ĐH, xem xét mối quan hệ giữa ban hành và tổ chức thực hiện
XHH GDDH với vấn đề quan trọng về tự chủ của trường đại học.
10
7. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung
nghiên cứu của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về xã hội hóa giáo dục đại học.
Chương 2. Kinh nghiệm quốc tế và bài học về xã hội hóa giáo dục đại học
đối với Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục đại
học tại Trường đại học Nội vụ Hà Nội.
11
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Xã hội hóa
Cho đến nay ở nước ta, thuật ngữ “xã hội hóa” mặc dù đã được đề cập đến
trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước cũng như trên các phương tiện thông
tin đại chúng. Tuy nhiên, thuật ngữ này còn có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí có
các ý kiến trái chiều, do vậy vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về “xã hội hóa”
hay nội hàm đầy đủ của thuật ngữ này.
Quan điểm khoa học của C.Mác thì khi quá trình phân hóa xã hội được thực
hiện đầy đủ, tư liệu sản xuất dần biến thành tư liệu sản xuất chung. Như vậy, xã hội
hóa chính là quá trình chuyển từ nền sản xuất có tính chất cá nhân, tư hữu sang một
nền sản xuất mang tính công hữu. Không chỉ chuyển biến nền sản xuất mà toàn bộ
quá trình xã hội khác, trong đó có vai trò xã hội của nhà nước. Nhà nước không chỉ
là bộ máy cai trị xã hội mà còn là cơ quan công quyền, đại diện của xã hội.
Hiện nay, nội hàm khái niệm xã hội hóa ở nước ta còn rất nhiều quan niệm
khác nhau và cơ bản được sử dụng theo hai nghĩa chính:
Thứ nhất, “xã hội hóa” nguyên nghĩa tiếng Anh là socialization được hiểu là
biến các tư liệu sản xuất và trao đổi thành của công, hay tập thể hóa, đặt dưới chế
độ cộng đồng, quản lý hay điều khiển của nhà nước nhân danh xã hội… tức là
những gì được xã hội hóa thì phải được chính phủ cung cấp miễn phí. Theo đó,
trong tiếng Việt, xã hội hóa được định nghĩa là làm cho tư liệu sản xuất của cá nhân
trở thành của chung cho xã hội, hay làm cho trở thành của chung cho xã hội. Quan
niệm này xuất phát từ lịch sử phát triển sản xuất của nhân loại, xã hội hóa chính là
quá trình chuyển biến một nền sản xuất có tính cá nhân, tư hữu sang một nền sản
xuất mang tính chất công cộng, công hữu.
Từ góc độ xã hội học hay tâm lý học, có những định nghĩa về xã hội hóa
như: “Xã hội hóa là làm phát triển các mối quan hệ xã hội, sự hình thành trong một
nhóm xã hội, trong xã hội”, hay theo Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết, “Xã hội
hóa là quá trình thích nghi của các thể chế với hệ thống tri thức, chuẩn mực và các
giá trị, cho phép cá thể đó hoạt động với tư cách là các thành viên bình đẳng của xã
12
hội, chịu tác động có chủ đích đến cá nhân (giáo dục) cũng như quá trình tự phát
ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách”.
Thứ hai, “xã hội hóa” được sử dụng để chỉ những việc tăng cường sự quan
tâm, tham gia rộng rãi của xã hội (cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng,..) về cả vật
chất và tinh thần vào một số hoạt động mà trước đó chỉ được một đơn vị, một bộ
phận hay một ngành chức năng nhất định thực hiện. Xã hội hóa trở thành một
phương châm hành động của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội nhằm phát huy
nội lực, huy động sức lực của cộng đồng, nguồn vốn xã hội từ nhân dân, theo cơ
chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; Nhà nước và nhân dân
cùng làm. Và theo đó, XHH có thể xem là một hình thức phi công lập hóa, tức có
sự tham gia của các đối tượng khác bên ngoài Nhà nước. Với đề tài này, XHH trong
lĩnh vực giáo dục ở nước ta hiện nay, nhóm tác giả tiếp cận theo nghĩa thứ hai.
Với cách hiểu thứ hai, trong quá trình thực hiện chủ trương XHH của Đảng
và Nhà nước, khái niệm xã hội hóa ngày càng được các nhà nghiên cứu nhận thức
và định nghĩa một cách hoàn thiện dần. Tuy vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau cần
tiếp tục trao đổi, nhưng tựu chung lại đều có những quan điểm thống nhất, đó là:
- Xã hội hóa là một quá trình mở rộng sự tham gia và huy động các tầng lớp
nhân dân, toàn xã hội để chung sức và chia sẻ trách nhiệm cùng với Nhà nước trong
việc thúc đẩy sự phát triển của một lĩnh vực xã hội nào đó.
- Trong quá trình xã hội hóa, càng cần phải nêu cao hơn nữa vai trò, trách
nhiệm của Nhà nước.
- Cần mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân, cho toàn xã hội tham
gia rộng rãi, chủ động và bình đẳng vào các hoạt động xã hội.
- Cần đa dạng hóa các phương thức, mô hình thực hiện các hoạt động trong
quá trình xã hội hóa các lĩnh vực đó.
Từ cách phân tích tổng quát trên, tác giả có thể hiểu xã hội hóa như sau: “Xã
hội hóa là quá trình huy động có hiệu quả và mở rộng sự tham gia của các tầng lớp
nhân dân, của toàn xã hội, với nhiều phương thức và mô hình hoạt động phong
phú, linh hoạt để cùng với Nhà nước thúc đẩy sự phát triển của một lĩnh vực nào
đó nhằm mục tiêu vì con người và phát triển bền vững đất nước”.
13
1.1.2. Giáo dục đại học
Trong một xã hội với nhiều hệ tư tưởng và ý kiến đa dạng, cụm từ giáo dục
đại học được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Sự đa dạng về quan điểm là khó
tránh khỏi, và nhiều người cho rằng đó là điều cần thiết. Xét về cấp bậc, giáo đục
đại học bao gồm việc giảng dạy và học tập ở cao đẳng và đại học nhằm giúp sinh
viên đạt được một tấm bằng của bậc đại học. Giáo dục đại học truyền cho người
học những kiến thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới
của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống - các lĩnh vực chuyên
sâu. Có thể nói vắn tắt rằng đại học là “sự hiểu biết ngày càng nhiều hơn về một
lĩnh vực ngày càng hẹp hơn”. Sinh viên được phát triển khả năng tự đặt ra những
câu hỏi và tìm kiếm sự thật; khả năng phân tích và phản biện về những vấn đề
đương đại. Đại học không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ của từng cá nhân trong lĩnh
vực chuyên môn của họ, mà còn giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết đối với thế
giới xung quanh. Theo Ronald Barnett (2012), có 4 khái niệm thông dụng nhất về
giáo dục đại học:
(i) Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực
đạt chuẩn. Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người
học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động.
Như vậy, giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng
của thương mại và công nghiệp.
(ii) Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu. Theo cách nhìn
này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà
nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức
mới. Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm
việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng.
(iii) Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả.
Rất nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục. Do
vậy, các cơ sở giáo dục đại học thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các
hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ
kết thúc khóa học của sinh viên.
(iv) Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học. Theo
cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội để người học được
14
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Xã hội hóa giáo dục đại học: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với trường Đại học Nội vụ Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_cao_de_tai_xa_hoi_hoa_giao_duc_dai_hoc_kinh_nghiem_quoc.pdf

