Báo cáo Đề tài Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Mã số đề tài: ĐTSV.2020.01
Chủ nhiệm đề tài : Chu Thị Bạch Cúc
Lớp
: 1705CSCA
Cán bộ hướng dẫn : ThS. Phạm Thúy Quỳnh Nga
Hà Nội, 2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Mã số đề tài: ĐTSV.2020.01
Chủ nhiệm đề tài
: Chu Thị Bạch Cúc
Thành viên tham gia : Đào Nguyên Phú
Lê Xuân Biên
Lê Thị Ngọc
Lớp
: 1705CSCA
Cán bộ hướng dẫn : ThS. Phạm Thúy Quỳnh Nga
Hà Nội, 2020
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, nhóm tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các
Thầy/Cô giáo trong Khoa Khoa học Chính trị, trường Đại học Nội vụ Hà Nội
và tập thể lớp 1705CSCA đã luôn tạo điều kiện tốt nhất, đồng hành, sát cánh,
cung cấp tri thức và kỹ năng để nhóm tác giả có thể hoàn thành đề tài nghiên
cứu khoa học của mình.
Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo
ThS. Phạm Thúy Quỳnh Nga đã là người hướng dẫn tận tình, chu đáo và tâm
huyết để nhóm tác giả có được thành quả lao động ngày hôm nay.
Do hạn chế về thời gian, trình độ và tình hình dịch bệnh diễn biến phức
tạp trong thời gian thực hiện đề tài, nhóm tác giả không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Qua đây, nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp
của Quý Thầy/Cô và các bạn để đề tài của nhóm tác giả được hoàn thiện tốt
nhất.
Nhóm tác giả xin được gửi lời kính chúc sức khỏe, hạnh phúc và tri ân
tới tất cả các Thầy/Cô, các bạn.
Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội. Ngày ...... tháng ..... năm 2020
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
VIẾT TẮT
GTYTBVMT
YTBVMT
BVMT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Ý thức bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường
Môi trường
2
3
4
MT
5
BĐKH
Biến đổi khí hậu
Giáo dục và Đào tạo
Bộ Giáo dục đào tạo
Chỉ thị
6
GD VÀ ĐT
BGDĐT
CT
7
8
9
CT/TW
CT – TTG
CLB
Chỉ thị/Trung ương
Chỉ thị - Thủ tướng
Câu lạc bộ
10
11
12
13
CSC
Chính sách công
Ban chấp hành
BCH
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Nội dung
Biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1 Những hành động bảo vệ môi trường của sinh
viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
47
Biểu đồ 2.2 Mức độ tham gia bảo vệ môi trường của sinh
viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
48
53
Biểu đồ 2.3 Nhu cầu giáo dục kỹ năng ý thức bảo vệ môi
trường của sinh viên trường Đại học Nội vụ
Hà Nội.
Biểu đồ 3.1 Tầm quan trọng giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường của sinh viên trường Đại học Nội vụ
Hà Nội.
73
42
Hình 2.1
Các chức năng chủ yếu của môi trường.
DANH MỤC ẢNH
NỘI DUNG
STT
1
TRANG
Chi đoàn viên chức cùng thực hiện công trình “Tái
chế lốp xe” sau mỗi ngày kết thúc giờ làm việc.
Công trình "từ rác thải đến sân chơi"
Đoàn trường Đại học Nội vụ Hà Nội thực hiện
chương trình “ Mùa hè xanh” tại Tuyên Quang
tháng 7 năm 2018.
94
94
95
2
3
Đoàn trường Đại học Nội vụ Hà Nội thực hiện
chương trình “ Mùa hè xanh” tại Tuyên Quang
tháng 7 năm 2018.
95
96
97
4
5
6
Đoàn trường Đại học Nội vụ Hà Nội thực hiện
chương trình “ Mùa hè xanh” tại Tuyên Quang
tháng 7 năm 2018.
Bộ Tài nguyên và Môi trường phát động phong
trào “Chống rác thải nhựa” tháng 10 năm 2019 tại
trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài.................................................................................... 1
6. Giả thuyết nghiên cứu........................................................................... 6
7. Đóng góp mới của đề tài ....................................................................... 6
học ........................................................................................................... 19
đại học ..................................................................................................... 20
học ........................................................................................................... 22
học ........................................................................................................... 23
Tiểu kết chương 1.................................................................................... 33
học Nội vụ Hà Nội .................................................................................. 34
học Nội vụ Hà Nội. ................................................................................. 39
Tiểu kết chương 2.................................................................................... 58
VỤHÀ NỘI..................................................................................................... 59
đổi khí hậu............................................................................................... 59
môi trường............................................................................................... 64
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang trở thành một thách
thức lớn với cả nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng. Biến đổi khí hậu tác
động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống con người và môi trường trên phạm vi
toàn thế giới; làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn
cầu như: an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, đất đai, an ninh năng lượng,...
Ảnh hưởng đến các vấn đề an toàn xã hội, văn hóa, ngoại giao và thương mại ở các
quốc gia. Việt Nam được IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change - Ủy
ban liên chính phủ về BĐKH) xác định là một trong năm quốc gia đang và sẽ chịu
ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH. Bức tranh ảm đạm về môi trường sinh thái ở
nước ta cũng như trên thế giới gần đây đã phản ánh rõ nét sự thiếu ý thức trách
nhiệm của con người với tự nhiên. Thái độ cực đoan và hành vi phi nhân tính của
con người tàn phá môi trường, cho thấy ý thức bảo vệ môi trường của con người
yếu kém là căn nguyên sâu xa của mọi tình trạng khủng hoảng môi trường toàn cầu.
Để hình thành và phát triển ý thức bảo vệ môi trường, chúng ta cần phải không
ngừng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường. Đây được xem là nhiệm vụ chính trị
quan trọng, lâu dài; cần sự định hướng đúng đắn, thống nhất của Đảng và Nhà
nước, sự chung tay của cả xã hội. Tuy nhiên, suốt thời gian dài vừa qua, việc tuyên
truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường để nâng cao nhận thức, điều chỉnh hành
vi, thái độ ứng xử của con người trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài
nguyên thiên nhiên vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
GDYTBVMT rất cần được xem là cái gốc cho mọi giải pháp, cần đi trước, đi
cùng và theo sau mọi hoạt động bảo vệ môi trường. Vì thế, công tác tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục cho nhân dân về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí
hậu phải ngày càng được quan tâm. Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cũng là một nội dung quan trọng, góp phần tích cực vào quá trình thực hiện sự lãnh
đạo của Đảng ở lĩnh vực bảo vệ tài nguyên môi tường, chủ động ứng phó với biến
đổi khí hậu. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
1
nêu rõ: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và
nghĩa vụ của mọi công dân”. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011-2020, Đảng xác định: “Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ,
mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế xã hội”.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là
giáo dục cho thế hệ trẻ về vấn đề này có ý nghĩa to lớn. Thế hệ trẻ, trong đó có
thanh niên sinh viên, là bộ phận xã hội luôn được Đảng ta quan tâm đào tạo, bồi
dưỡng. Họ sẽ trở thành lực lượng nòng cốt gánh vác trọng trách tương lai của đất
nước. Những năm qua, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên, sinh
viên đã được thực hiện, góp phần trang bị nền tảng nhận thức, cổ vũ tinh thần nhiệt
tình hăng hái của họ trong các hoạt động bảo vệ môi trường, vì sự phát triển bền
vững, nhằm phát huy vai trò xung kích của thanh niên trên mọi mặt trận trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
ở các trường đại học có ý nghĩa quan trọng không chỉ với mục tiêu giáo dục toàn
diện con người thế hệ mới, mà còn có thể tạo sự lan tỏa ý nghĩa giáo dục cho cả xã
hội, góp phần thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với
biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên các trường
đại học trên địa bàn Hà Nội nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung có ý nghĩa
rất quan trọng đối với việc tìm ra giải pháp nhằm khắc phục mọi khó khăn để nâng
cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên nước ta, góp phần
xây dựng một lực lượng xã hội tích cực trong lĩnh vực bảo vệ MT, chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu. Hiện có rất ít công trình nghiên cứu sâu về hoạt động giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên đại học. Đặc biệt lĩnh vực về giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho sinh viên đại học trên địa bàn Hà Nội theo góc độ tiếp
cận của khoa học công tác tư tưởng thì còn nhiều nội dung lớn phải được nghiên
cứu một cách nghiêm túc và toàn diện cả lý luận lẫn thực tiễn, nhằm làm rõ hơn
nữa về vị trí và vai trò của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên trong
công tác tư tưởng hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên mà nhóm tác giả lựa chọn
2
đề tài “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà
Nội” làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Con người, xã hội và tự nhiên luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng
với nhau và chịu sự chi phối của những quy luật phổ biến nhất định của thế giới vật
chất. Nghiên cứu của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã có những tư tưởng
vượt trước thời đại, đặt nền móng - cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và giải
quyết vấn đề môi trường: C.Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập (1995).
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Bùi Văn Dũng (1999), “Mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền”. Nghiên cứu
luận giải quyết mối quan hệ có nhiều mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ
MT dưới góc độ triết học, từ đó nêu lên các điều kiện và giải pháp để giải quyết các
mâu thuẫn, nhằm thực hiện sự phát triển lâu bền trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Ngoài ra còn có các cuốn sách bàn về vấn đề này tác giả Phạm Thị Ngọc
Trầm (2002), “Bảo vệ MT- Nhiệm vụ chung của toàn nhân loại”; tác giả Nguyễn
Thị Thơm, An Như Hải (2011), “Nâng cao hiệu lực quản lý về môi trường”; tác giả
Phạm Anh (2012), “Những vấn đề bảo vệ môi trường mà người dân cần biết”;
Nguyễn Minh Quang (2013), “Chủ động ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh công tác
bảo vệ tài nguyên, MT”. Các công trình phân tích việc bảo vệ môi trường dưới
nhiều góc độ: quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đề cao vai trò của
đạo đức môi trường, nghiên cứu các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ rủi ro thiên
tai.
Trên cơ sở nhận thức luận duy vật khoa học; Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2012), “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam”; tác giả Lê
Thanh Vân trong cuốn “Con người và môi trường” (2012); tác giả Đỗ Thị Ngọc
Lan trong cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt động sống của con người”(2013)
đã phân tích: MT tự nhiên không những cung cấp những giá trị vật chất cho sự hình
thành, phát triển của con người và xã hội, mà còn mang lại nhiều giá trị tinh thần;
3
giá trị thẩm mỹ, thể hiện quan hệ đạo đức, văn hóa và tác động ảnh hưởng đến quan
hệ chính trị của con người.
Cuốn “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài
nguyên môi trường. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hội đồng khoa học các
cơ quan đảng Trung ương (2013). Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của các tác giả
đại diện trong Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Viện
khoa học Khí tượng thủy văn và MT,Trung tâm Nghiên cứu, giáo dục MT và Phát
triển (CERED),... đánh giá tổng quát về công tác bảo vệ tài nguyên MT, ứng phó
với BĐKH nước ta thời gian qua; nêu lên một số kinh nghiệm quốc tế trong công
tác bảo vệ tài nguyên và MT; đồng thời nêu định hướng chiến lược quản lý tài
nguyên và chủ động ứng phó với BĐKH.
Hoạt động của con người, trong đó có hoạt động kinh tế, gắn liền với quá
trình đô thị hóa và sản xuất công nghiệp phát triển mạnh mẽ, là nguyên nhân cơ bản
dẫn đến sự suy kiệt tài nguyên, ô nhiễm MT và biến đổi khí hậu hiện nay. Các công
trình tiêu biểu: Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE), Nguyễn
Đức Trí, Nguyễn Thị Hoàng Yến (2015), “Một số bệnh, dịch liên quan đến ô nhiễm
môi trường”, Nxb. Khoa học, kỹ thuật.
Bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm
của tất cả các quốc gia và của mọi công dân trên toàn thế giới. Với MT đã bị tàn
phá nặng nề sau chiến tranh kéo dài và sự phát triển nóng khi bước vào thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tốc độ đô thị hóa cao,...Việt Nam nhận thức rõ
nhiệm vụ phải bảo vệ MT, mà trước hết là nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho
nhân dân.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài làm rõ cơ sở lý luận của GDYTBVMT cho sinh viên đại học.Trêncơ
sở khảo sát,đánh giá thực trạng YTBVMT và thực trạng GDYTBVMT cho sinh
viên ở trường Đại học Nội vụ Hà Nội, đề tài đề xuất một số quan điểmvà giải pháp
nhằm tăng cường GDYTBVMT cho sinh viên đại học Nội vụ Hà Nội.
4
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt mục đích nêu trên, nhóm tác giả cần thực hiện nhiệm vụ:
+ Tổng quan các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước có liên
quan đến đề tài, để từ đó xác định hướng nghiên cứu của đề tài.
+ Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận về GDYTBVMT cho sinh
viên đại học, tầm quan trọng của GDYTBVMT cho sinh viên trong bối cảnh
BĐKH trên thế giới và Việt Nam hiện nay.
+ Khảo sát thực trạng GDYTBVMT cho sinh viên và đánh giá thực trạng
YTBVMT của sinh viên trường đại học Nội vụ Hà Nội, từ đó khái quát những vấn
đề đặt ra đối với hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên.
+ Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường
GDYTBVMT cho sinh viên đại học Nội vụ Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Đề tài nghiên cứu vấn đề GDYTBVMT cho sinh viên trường đại học Nội
vụ Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên
trường đại học Nội vụ Hà Nội
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên
trường đại học Nội vụ Hà Nội từ năm 2015 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, cụ thể là vận dụng các nguyên tắc, quan điểm cơ bản
trong nghiên cứu như: Nguyên tắc khách quan, nguyên tắc đề cao tính năng động
chủ quan của ý thức, quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử
cụ thể, nguyên tắc lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Lôgic, phân tích và tổng hợp, thống kê, nghiên cứu tài liệu, phương pháp
5
điều tra xã hội.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên trường đại học Nội vụ Hà Nội trong
những năm gần đây đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên vẫn còn tồn
tại một số hạn chế. Đề tài đưa ra được những giải pháp hợp lý sẽ nâng cao được
hiệu quả của hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên trường đại học Nội vụ Hà Nội.
7. Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học, xây dựng
khung lý thuyết về cấu trúc GDYTBVMT cho sinh viên đại học, định hướng quá
trình giáo dục bảo vệ MT có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy ở
trường đại học Nội vụ Hà Nội.
Ngoài ra, đề tài có ý nghĩa đóng góp cho việc xây dựng định hướng, chính
sách, chương trình giáo dục, tuyên truyền, xây dựng nội dung tập huấn nhằm nâng
cao nhận thức và hình thành tính tích cực trong hoạt động thực tiễn của sinh viên
với nhiệm vụ bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thảm khảo, đề tài có ba
chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
sinh viên các trường đại học.
Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
trường đại học Nội vụ Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho sinh viên trường đại học Nội vụ Hà Nội.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan
1.1.1. Khái niệm về môi trường
Đến nay, những vấn đề MT toàn cầu đang đặt ra yêu cầu ngày càng bức thiết
đối với nghiên cứu, quan niệm về MT đã hết sức đa dạng, tùy các góc độ tiếp cận
nghiên cứu khác nhau mà sử dụng các khái niệm khác nhau: MT, MT tự nhiên, MT
sinh thái, MT địa lý, MT sống.
Theo định nghĩa của UNESCO (1987), “MT sống” của con người chỉ bao
gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con
người. Với nghĩa hẹp, khái niệm “MT sống” của con người chỉ bao gồm các nhân
tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như số diện
tích nhà ở, chất lượng bữa ăn hàng ngày, nước sạch, bầu không khí cho sinh hoạt,
điều kiện vui chơi, giải trí, MT cho hoạt động học tập, MT làm việc,...
Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, cả trên thế
giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này và đề xuất những
cách định nghĩa khác nhau về MT.
Theo điều 3, Luật “Bảo vệ môi trường” năm 2015: “MT là hệ thống các yếu
tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con
người và sinh vật”.
Qua phân tích hàng loạt cách tiếp cận khái niệm, luận án tập trung làm rõ
khía cạnh MT tự nhiên bao quanh cuộc sống con người (nhưng mang nghĩa rộng
hơn tự nhiên thuần túy trong sinh học, đồng thời không phải là toàn bộ “giới tự
nhiên” như triết học).
Môi trường là hệ thống tổng thể các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có vai trò
quyết định trực tiếp hoặc ảnh hưởng đến đời sống, hoạt động, sự phát triển của con
người trong những thời kỳ lịch sử nhất định.
7
Giữa MT và sự phát triển xã hội loài người có mối quan hệ biện chứng với
nhau. MT là địa bàn tạo điều kiện cho hoạt động con người diễn ra, đồng thời là đối
tượng chịu sự tác động của con người. MT biến đổi cũng thể hiện phần nào trình độ
phát triển xã hội mỗi thời đại đạt được. Tuy nhiên, không phải mọi sự biến đổi của
MT đều cho thấy đó là dấu hiệu phát triển. Có những biến đổi chỉ đáp ứng lợi ích
trước mắt, theo một khía cạnh ý nghĩa nhất định chúng ta đã từng coi đó là bước
phát triển của trình độ con người trong quá trình chinh phục giới tự nhiên, song lại
gây nên biến đổi tiêu cực đối với MT. Quan điểm về sự phát triển xã hội còn nhiều
khía cạnh phải nghiên cứu thêm, nhưng trong phạm vi xét ở mối liên hệ với MT thì
phát triển cần được hiểu là quá trình biến đổi cả đời sống xã hội con người lẫn MT
theo hướng tích cực và bền vững.
Tóm lại: Môi trường là tất cả những gì xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống
và phát triển. Con người là một thực thể tự nhiên có những nhu cầu sống như mọi
sinh vật khác, đồng thời là một thực thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận
không thể tách rời của giới tự nhiên. Đối với con người và xã hội loài người, các
điều kiện bao quanh nó không chỉ là những điều kiện tự nhiên mà còn bao gồm các
điều kiện xã hội.
1.1.2. Khái niệm bảo vệ môi trường
Hiện nay, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng MT của chúng ta đang bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Từ những điều nhỏ nhất như khói bụi cho đến những điều lớn
như biến đổi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt hơn, mưa axit, nước biển dâng, sa mạc
hóa,...
Đặc biệt, con người sống trong MT bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng không nhỏ. Khi
sống trong MT bị ô nhiễm, con người có thể dễ mắc các bệnh về tim mạch, phổi,
gan, giảm trí thông minh ở trẻ em,... Vì vậy, việc cấp thiết hiện nay đó là bảo vệ
MT và cải thiện MT đang bị ô nhiễm.
Theo khoản 3 điều 3 Luật “bảo vệ môi trường” năm 2015: Hoạt động bảo vệ
MT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến MT; ứng phó
sự cố MT; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi MT; khai thác, sử dụng
8
hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ MT trong lành.
Các nguyên tắc bảo vệ môi trường theo Luật bảo vệ môi trường:
- Bảo vệ MT phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến độ
xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ MT quốc gia phải gắn với bảo vệ
MT khu vực và toàn cầu.
- Bảo vệ MT là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan
nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
- Hoạt động ô nhiễm MT phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết
hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng.
- Bảo vệ MT phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử,
trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
- Mỗi tổ chức, cá nhân, gia đình gây ô nhiễm MT phải có trách nhiệm khắc
phục, bồi thường thiệt hại, chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Như vậy, bảo vệ môi trường là quá trình bảo vệ và khai thác hợp lý các
nguồn tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa và khắc phục những tác động bất lợi của
sự suy thoái môi trường; gìn giữ môi trường sống nhằm đảm bảo sự phát triển của
con người.
1.1.3. Khái niệm ý thức bảo vệ môi trường
Ý thức con người là một phạm trù rất rộng, là đối tượng nghiên cứu của rất
nhiều khoa học khác nhau như tâm lý học, triết học, luật học, văn học, kinh tế học,
nghệ thuật học, đạo đức học,... Mọi trạng thái tâm lý, mọi hoạt động sống của con
người đều là biểu hiện và bị chi phối bởi ý thức. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu làm rõ
đặc trưng của ý thức tinh thần con người theo khía cạnh khac nhau. Cấu trúc của ý
thức về cơ bản bao gồm: Tri thức, niềm tin, tình cảm, giá trị, ý chí. Vai trò của ý
thức biểu hiện khi con người có nhu cầu, động cơ, mục tiêu, niềm tin, lý tưởng tích
cực hình thành trên nền tảng nhận thức đúng đắn về thế giới, tạo động lực tinh thần
từ bên trong thôi thúc ý chí sẵn sàng hành động tích cực.
Bảo vệ môi trường là quá trình bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên; phòng ngừa và khắc phục những tác động bất lợi của sự suy
9
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_cao_de_tai_giao_duc_y_thuc_bao_ve_moi_truong_cho_sinh_vi.pdf

