Báo cáo Đề tài Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam và một số nước trong hoạt động các khu kinh tế - Dưới gốc độ so sánh

ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
------&-----  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC (NCS)  
ĐỀ TÀI:  
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ  
MỘT SỐ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG CÁC KHU  
KINH TẾ - DƯỚI GỐC ĐỘ SO SÁNH  
Mã số: ĐHL2018-NCS-01  
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Sơn Hà  
Thời giàn thực hiện: Từ 01/2018-12/2019  
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2020  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi, được  
hoàn thành sau quá trình học tập và nghiên cứu thực trạng. Các lập luận, phân  
tích, đánh giá được đưa ra trên quan điểm cá nhân sau khi nghiên cứu.  
công trình nghiên cứu không sao chép, không trùng lặp với bất kỳ công  
trình nghiên cứu khoa học đã được công bố nào.  
Thừa Thiên Huế, ngày 22 tháng 5 năm 2019  
Nghiên cứu sinh  
Nguyễn Sơn Hà  
MỤC LỤC  
A. PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................... 1  
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài...................................................... 1  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.................................................... 3  
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...................................................................11  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài .............................................. 11  
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ............................................................ 12  
6. Kết cấu của đề tài ........................................................................................ 13  
B. PHẦN NỘI DUNG ................................................................................... 14  
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI  
TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHU KINH TẾ.............. 14  
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về khu kinh tế ....................................... 14  
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của khu kinh tế ....................................... 14  
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển khu kinh tế ........................................ 17  
1.1.3. Khái quát tình hình thành lập khu kinh tế ở Việt nam và một số nước  
trên thế giới trong thời gian qua...................................................................... 20  
1.2. Khái quát pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các khu  
kinh tế............................................................................................................. 23  
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong  
hoạt động các khu kinh tế................................................................................ 23  
1.2.2. Nội dung của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các khu  
kinh tế của Việt Nam....................................................................................... 29  
Kết luận chương 1........................................................................................... 32  
Chương 2. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
TRONG HOẠT ĐỘNG CÁC KHU KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ  
MỘT SỐ NƯỚC............................................................................................ 33  
2.1. Pháp luật bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây  
dựng Khu kinh tế của Việt Nam và một số nước....................................... 33  
2.1.1. Quy định về bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch xây dựng khu  
kinh tế.............................................................................................................. 33  
2.1.2. Các quy định về bảo vệ môi trường trong thiết kế, hạ tầng kỹ thuật khu  
kinh tế.............................................................................................................. 35  
2.2. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn triển khai thi công  
xây dựng khu kinh tế của Việt Nam và một số nước................................. 40  
2.3. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn hoạt động khu kinh  
tế của Việt Nam và một số nước .................................................................. 43  
2.3.1. Quy định về thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải rắn................................ 43  
2.3.2. Quy định về quan trắc môi trường và ứng phó với sự cố môi trường  
trong hoạt động của khu kinh tế......................................................................50  
2.4. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường khu kinh tế của  
Việt Nam và một số nước..............................................................................53  
Kết luận Chương 2 .......................................................................................... 60  
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP  
LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÁC KHU  
KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM  
MỘT SỐ NƯỚC............................................................................................ 61  
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt  
động các khu kinh tế ở Việt Nam................................................................. 61  
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các khu  
kinh tế phải đảm bảo phát triển bền vững....................................................... 61  
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường khu kinh tế phải đảm bảo sự  
đồng bộ của hệ thống pháp luật môitrường .................................................... 63  
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường khu kinh tế phải đáp ứng yêu  
cầu hội nhập kinh tế, quốc tế và hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường.... 63  
3.1.4. Khảo cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc hoàn  
thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu kinh tế................................. 64  
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt  
động các Khu kinh tế ở Việt Nam................................................................ 64  
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư  
xây dựng khu kinh tế....................................................................................... 64  
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong giai đoạn triển khai thi  
công xây dựng khu kinh tế.............................................................................. 66  
3.2.3. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong giai đoạn hoạt động khu  
kinh tế.............................................................................................................. 66  
3.2.4. Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ môi  
trường khu kinh tế........................................................................................... 68  
Kết luận Chương 3 .......................................................................................... 71  
C. PHẦN KẾT LUẬN CHUNG................................................................... 72  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 73  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
KKT  
Khu Kinh tế  
KKTCK  
KKTVB  
KCN  
Khu kinh tế cửa khẩu  
Khu kinh tế ven biển  
Khu công nghiệp  
Khu công nghệ cao  
Khu chế xuất  
KCNC  
KCX  
KTMTD  
BVMT  
Khu thương mại tự do  
Bảo vệ môi trường  
A. PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài  
Trong một nghiên cứu mới nhất về Chỉ số hiệu suất môi trường của Đại  
học Yale (Mỹ) thì Việt Nam là một trong 10 quốc gia ô nhiễm không khí nhất  
thế giới. Còn theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam có thể phải  
chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP hàng năm. Mỗi năm  
Việt Nam cũng thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh vực sức khỏe cộng  
đồng vì ô nhiễm môi trường. Đây là những con số và thông tin đáng báo động  
về tình trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam hiện nay. Có lẽ mỗi người dân  
Việt Nam còn nhớ như in ngày 6 tháng 4 năm 2016, ngày mà hiện tượng  
thủy sản chết lan trên diện rộng, bắt đầu từ vùng ven biển Hà Tĩnh lan tiếp  
dọc ven biển các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Sự cố này  
đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trường. Nguyên nhân gây ra  
sự cố môi trường làm hải sản chết hàng loạt tại ven biển 4 tỉnh miền Trung  
được xác định do công ty Formosa gây ra trong quá trình vận hành thử  
nghiệm tổ hợp nhà máy, đã có những vi phạm và để xảy ra sự cố nước thải có  
chứa độc tố phenol, xyanua chưa được xử lý đạt chuẩn xả ra môi trường.  
Như vậy, bên cạnh những đóng góp tích cực đem lại diện mạo mới về  
kinh tế - xã hội cho nhiều địa phương, quá trình phát triển công nghiệp nói  
chung và hệ thống các KKT nói riêng ở Việt Nam đang đặt ra nhiều thách  
thức cho việc bảo vệ môi trường. Hiện nay, trong cả nước có 21 KKTCK và  
16 KKTVB, KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường  
đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư. Mục tiêu quan  
trọng nhất của việc xây dựng các KKT ở Việt Nam là để thử nghiệm các mô  
hình, thể chế và chính sách mới nhằm tạo ra các động lực phát triển có tính  
đột phá, nhờ đó đem lại sức sống, nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh  
1
xuất khẩu cho toàn nền kinh tế, gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế không  
chỉ của địa phương mà còn là của vùng và cả nước. Việc phát triển các KKT  
trên cả nước là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên,  
nhiệm vụ đặt ra là phát triển KKT phải dựa trên nguyên tắc phát triển bền  
vững.  
Tại các KKT, yêu cầu bảo vệ môi trường thường được đặt ra rất khắt  
khe, đòi hỏi tính tổ chức cao hơn so với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, bởi vì với  
quy mô hoạt động của KKT có tác động rất lớn tới môi trường. Để quản lý,  
bảo vệ môi trường trong hoạt động của các KKT, nhiều văn bản pháp luật đã  
được các cơ quan có thẩm quyền ban hành như: Luật Bảo vệ môi trường  
2014; Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về KCN, KCX và KKT; Nghị định  
164/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số  
29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về KCN,  
KCX và KKT; Thông tư 35/2015/TT-BTNMT về bảo vệ môi trường Khu  
kinh tế, Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao;... Có thể khẳng  
định, hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt  
động của Khu kinh tế ở Việt Nam đã được ban hành tương đối đầy đủ, tạo cơ  
sở pháp lý cần thiết cho việc quản lý và BVMT. Tuy nhiên, hệ thống các văn  
bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, tính ổn định không cao thiếu  
các quy định phù hợp với quản lý môi trường đặc thù của các KKT, một số  
quy định còn chồng chéo về thẩm quyền quản lý, điều hành. Việc chỉ đạo,  
điều hành, giám sát, kiểm tra công tác BVMT tại các KKT chưa được thực  
hiện thường xuyên, thiếu tính dự phòng dẫn đến tình trạng khi xảy ra sự cố ô  
nhiễm môi trường thì mới phát hiện và xử lý, còn chủ thể phát hiện thường là  
người dân. Một số KKT chưa tuân thủ quy định về BVMT trong quá trình  
hoạt động, như: không có khu xử lý nước thải tập trung hoặc có nhưng hiệu  
quả hoạt động hạn chế; thiết bị phục vụ công tác xử lý chất thải còn sơ sài,  
2
đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của chất thải gây ra đối với môi  
trường xung quanh; chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại  
cho doanh nghiệp thứ cấp trong KKT. Mặt khác, việc đầu tư cho công tác môi  
trường làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp trong KKT, ảnh hưởng  
trực tiếp tới lợi nhuận đạt được nên nhiều doanh nghiệp đã cố tình vi phạm.  
Như vậy, BVMT trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam hiện nay là  
nhiệm vụ hết sức cấp thiết. Đây là vấn đề quan trọng cần có những nghiên  
cứu đánh giá, so sánh đối chiếu với các quy định BVMT của các nước trên thế  
giới từ đó đưa rút ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện và nâng cao  
hiệu quả thực thi pháp luật về BVMT trong hoạt động của các KKT ở Việt  
Nam. Xuất phát từ những lý do trên, Tôi quyết định chọn đề tài: “Pháp luật bảo  
vệ môi trường ở Việt Nam và một số nước trong hoạt động các khu kinh tế -  
Dưới gốc độ so sánh” làm đề tài nghiên cứu của mình.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước  
Ở Việt Nam trong những năm qua vấn đề chính sách pháp luật BVMT  
trong các hoạt động của con người nói chung và các KCN, KKT nói riêng rất  
được các tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều gốc độ khác nhau. Cụ thể có  
các công trình điển hình sau đây:  
Thứ nhất, sách chuyên khảo: Qua khảo sát người nghiên cứu nhận thấy  
có các công trình nghiên cứu liên quan, điển hình sau đây:  
Cuốn “Bình luận khoa học và định hướng giải quyết một số vụ tranh  
chấp môi trường điển hình”, của Lê Hồng Hạnh, Vũ Thu Hạnh, Nguyễn Văn  
Phương xuất bản năm 2010. Cuốn sách xây dựng các tình huống giả định trên  
cơ sở tổng hợp những thông tin về một số vụ tranh chấp môi trường điển hình  
và thực tiễn giải quyết các tranh chấp đó ở Việt Nam trong thời gian qua;  
3
Cuốn “Quản lý chất thải rắn (tập 1)” của Trần Hiếu Nhuệ, Ưng Quốc  
Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái, xuất bản năm 2011. Cuốn sách đã tập trung  
nghiên cứu các biện pháp thu gom, tập trung, vận chuyển và xử lý chất thải  
rắn đô thị; các phương pháp tận thu các chất thải từ hoạt động công nghiệp.  
Ngoài ra, tác giả cuốn sách cũng đã chỉ rõ các công cụ pháp lý và chính sách  
trong quản lý chất thải rắn ở Việt Nam;  
Cuốn “Cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường”  
của tác giả Vũ Thu Hạnh, xuất bản năm 2012. Cuốn sách đã nghiên cứu  
chuyên sâu cơ sở lý luận, thực trạng cũng như các kiến nghị, giải pháp để  
hoàn thiện quy định của pháp luật về cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại do  
ô nhiễm môi trường tại Việt Nam.  
Thứ hai, về đề tài nghiên cứu khoa học các cấp: Vấn đề về bảo vệ môi  
trường ở Việt Nam và một số nước trong hoạt động các Khu kinh tế đã thu  
hút nhiều đề tài nghiên cứu liên quan:  
Đề tài “Tuân thủ - cưỡng chế - giám sát trong kiểm soát ô nhiễm môi  
trường”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của chủ nhiệm Vũ Thu Hạnh  
thực hiện năm 2010. Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về các cơ  
sở lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường dựa trên ba nguyên tắc tuân thủ,  
cưỡng chế và giảm sát. Trên cơ sở phân tích thực trạng thực thi pháp luật về  
kiểm soát ô nhiễm môi trường thông qua các vụ việc vi phạm và xử lý các  
hành vi làm ô nhiễm môi trường mà điển hình là vụ việc của Công ty Vedan  
Việt Nam, công trình đề xuất các giải pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường  
dựa trên ba nguyên tắc tuân thủ, cưỡng chế và giảm sát;  
Đề tài “Điều tra, khảo sát, đánh giá đa dạng sinh học vùng biển KKT  
Dung Quất, đề xuất giải pháp giảm thiểu các tác hại môi trường đến đa dạng  
sinh học” đề tài thuộc Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo của chủ  
nhiệm Vũ Thanh Ca thực hiện năm 2013. Đề tài khoa học này đã phân tích cơ  
4
sở dữ liệu về hệ sinh thái KKT Dung Quất (các loài san hô, các loài cá sống ở  
vùng triều và cá ở rạn san hô; rong biển; thân mềm, hai mảnh vỏ, tôm cua… ;  
hiện trạng môi trường khu vực ven bờ), cung cấp cơ sở khoa học cho việc quy  
hoạch và định hướng phát triển KKT Dung Quất;  
Đề tài “Kỹ năng giải quyết xung đột trong lĩnh vực môi trường tại Việt  
Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường của chủ nhiệm Vũ Thị Hạnh  
thực hiện năm 2014. Đề tài này nghiên cứu những biểu hiện, nguyên nhân của  
xung đột môi trường trên cơ sở đó chia sẽ kinh nghiệm, kỹ năng cụ thể cần áp  
dụng để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực môi trường tại Việt Nam.  
Thư ba, về Luận án tiến sĩ:  
Luận án “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động  
hằng hải ở Việt Nam” của tác giả Lưu Ngọc Tô Tâm, năm 2012 tại trường  
Đại học Luật Hà Nội. Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp  
luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam,  
công trình đã làm rõ sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển  
trong hoạt động hàng hải bằng pháp luật trên cơ sở nghiên cứu các quy định  
của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Mặt khác, công trình cũng đã  
làm rõ quá trình hình thành và nội dung từng bước hoàn thiện hệ thống pháp  
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt  
Nam với tính chất là một bộ phận trong hệ thống pháp luật môi trường, trong  
mối quan hệ tác động qua lại mật thiết với các đòi hỏi về phát triển kinh tế  
của đất nước, đáp ứng các yêu cầu về an ninh chính trị, văn hóa, an ninh quốc  
phòng.Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị cụ thể về việc xây dựng và  
hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt  
Nam nhằm đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn;  
Luận án “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong BVMT ở Việt  
Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào, năm 2013 tại Viện Hàn  
5
lâm khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội. Luận án tiến sĩ  
luật học của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào đã làm sáng tỏ những vần đề lý  
luận về pháp luật sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường, đánh  
giá thực trạng pháp luật về sử dụng các công cụ này trong bảo vệ môi trường,  
từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về sử dụng các  
công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường;  
Luận án “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt  
Nam” của tác giả Bùi Đức Hiển, năm 2016 tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội  
Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội. Luận án này là công trình nghiên cứu  
chuyên sâu pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt  
Nam. Trong đó, công trình đã làm rõ nhận thức lý luận về kiểm soát ô nhiễm  
môi trường không khí, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí;  
phân tích các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm không khí ở  
Việt Nam và chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.  
Bên cạnh đó, công trình cũng đã phân tích làm rõ thực tiễn thực hiện pháp luật  
cũng như có những kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kiểm  
soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam.  
Thứ tư, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chi nghiên cứu:  
Bài “Môi trường khu công nghiệp, khu chế xuất các tỉnh phía bắc - Thực  
trạng và bài học kinh nghiệm” của tác giả Phương Nhung, đăng trên tạp chí  
Quản lý Nhà nước, số 174/2010. Bài báo đưa ra một số thực trạng về môi  
trường tại các KCN, KCX các tỉnh phía Bắc và nêu lên một số giải pháp tăng  
cường công tác bảo vệ môi trường tại các KCN, KCX;  
Bài “Vấn đề thực thi pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam  
hiện nay” của tác giả Lê Kim Nguyệt đăng trên tạp chí Khoa học ĐHQGHN  
số 27/2011, bài báo đã chỉ ra được thực trạng thực thi pháp luật về quản lý  
chất thải nguy hại ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra các kiến nghị nhằm  
6
góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và về lĩnh vực  
quản lý chất thải nguy hại nói riêng;  
Bài“Phát triển các KKT ven biển - Bước đột phá trong chiến lược phát  
triển kinh tế vùng ở Việt Nam” của tác giả Thân Trọng Thụy, Phạm Xuân Hậu  
được đăng trên tạp chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh số 41/2012. Bài báo  
khái quát những tiền đề phát triển của các KKT trên thế giới nói chung và các  
KKTVB tại Việt Nam nói riêng.  
Bài “Pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường”  
của ThS. Mai Hải Đăng, đăng tại Tạp chí Luật học số 6/2013. Bài báo đã tổng  
hợp và phân tích quy định của các Công ước quốc tế (Công ước trách nhiệm  
dân sự năm 1969; Công ước quỹ năm 1971; Công ước trách nhiệm dân sự  
năm 1992; Công ước quỹ năm 1992; Nghị định thư bổ sung Quỹ 2003) về bồi  
thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, đồng thời đưa ra một số nhận xét và gợi ý để  
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu;  
Bài “Chính sách pháp luật môi trường bảo đảm phát triển bền vững ở  
Việt Nam trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng  
cộng sản Việt Nam” của tác giả Bùi Đức Hiển đăng trên Tạp chí Luật học số  
8/2013. Bài viết đã đánh giá tổng quan những điểm mới về quan điểm, đường  
lối trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản  
Việt Nam đối với phát triển bền vững. Mặt khác, trên cơ sở đánh giá thực  
trạng chính sách, pháp luật môi trường bảo đảm phát triển bền vững ở Việt  
Nam hiện nay, tác giả đã có những định hướng để hoàn thiện chính sách, pháp  
luật môi trường đảm bảo phát triển bền vững theo quan điểm đường lối của  
Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội XI;  
Bài “Pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành  
vi làm ô nhiễm môi trường gây ra – Thực trạng và kiến nghị” của tác giả Bùi  
Kim Hiếu đăng tại Tạp chí Luật học số 10/2014. Bài viết trình bày thực trạng  
7
pháp luật hiện hành và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện yêu  
cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra;  
Bài “Phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ môi trường trong bối cảnh  
hội nhập quốc tế” của tác giả Vũ Thu Hạnh – Nguyễn Minh Đức đăng trên  
tạp chí Pháp Luật và Phát triển số 01/2014. Bài viết đánh giá những cơ hội và  
thách thức của hội nhập quốc tế nhìn từ góc độ BVMT, từ đó đưa ra các yêu  
cầu của hội nhập quốc tế đối với công tác BVMT;  
Bài “Các quy định về BVMT trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch  
vụ Luật BVMT năm 2014” của tác giả Đào Mộng Điệp đăng trên Tạp chí Nhà  
nước và Pháp luật số 4/2015. Bài viết tập trung đánh giá những thành công,  
hạn chế và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định về BVMT trong  
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;  
Bài “Hiến pháp năm 2013 và những điểm mới trong việc hoàn thiện thể  
chế kính tế và môi trường” của tác giả Lê Hồng Hạnh đăng trên tạp chí Pháp  
luật và Phát triển số 7-8/2016. Tác giả bài viết này đã đánh giá các quan điểm  
về phát triển trong Hiến pháp năm 2013 về kinh tế và bảo vệ môi trường,  
đồng thời đề cập một số vấn đề về thể chế hóa quan điểm phát triển của Hiến  
pháp 2013 trong một số luật cụ thể trong đó có Luật BVMT 2014;  
Báo cáo“Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016” của Bộ  
Tài nguyên và môi trường. Trong báo cáo này có đề cập đến sự cố ô nhiễm  
môi trường biển tại 4 tỉnh của Miền Trung do Công ty Fomosa nằm trong Khu  
kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh.  
Bài “Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với nhóm tội  
phạm về môi trường” của tác giá Lưu Hải Yến đăng trên Tạp chí luật học số  
01/2017. Bài viết đã phân tích, đánh giá một cách khái quát các điểm mới về  
hình thức, nội dung và kỹ thuật lập pháp của Chương XIV – Các tội phạm về  
8
môi trường trong Bộ luật hình sự năm 2015, đồng thời chỉ ra một số hạn chế  
cần khắc phục của các quy định này.  
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài  
Ở nước ngoài trong những năm qua vấn đề chính sách pháp luật BVMT  
trong hoạt động KKT được các tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều khía  
cạnh khác nhau. Cụ thể có các công trình điển hình sau đây:  
Thứ nhất, về sách chuyên khảo đã có công trình nghiên cứu của Connie  
Carter, Andrew Harding (2011) Special economic zones in asian maket  
economies ( Các khu kinh tế đặc biệt trong nền kinh tế thị trường châu Á).  
Đây là quyển sách xem xét nguồn gốc, bản chất và tình trạng của các KKT ở  
châu Á và những thách thức mà KKT đang phải đối mặt. Cuốn sách này cung  
cấp các nghiên cứu về các KKT ở các nền kinh tế thị trường Châu Á.  
Thứ hai, về đề tài nghiên cứu, qua khảo sát nhận thấy đã có tác giải  
Erlangung des Doktorgrades (2014) Wastewater Management in Industrial  
Zones of the Vietnamese Mekong Delta (Quản lý nước thải trong các KCN  
của đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam). Đề tài nghiên cứu này nhằm tìm  
hiểu và đưa lại bối cảnh này vào phân tích quản lý nước thải tại các KCN của  
đồng bằng sông Cửu Long bằng cách sử dụng một phân tích về thể chế và  
một chiến lược nghiên cứu quy nạp. Dữ liệu thực nghiệm định tính bao gồm  
100 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các cơ quan nhà nước, công ty, chuyên  
gia tư vấn, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm, tài liệu của tỉnh, cũng như  
báo cáo phương tiện truyền thông ở bốn tỉnh dọc theo sông Hậu trong giai  
đoạn từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012.  
Thứ ba, liên quan đến bài báo nghiên cứu đã có: MT KKT Zhao Zhang,  
Shiqiang Du, Peijun Shi, Fulu Tao, Martin Doyle (2011) Water quality  
changes in the world's first special economic zone, Shenzhen, China (Thay  
đổi chất lượng nước ở KKT đặc biệt đầu tiên trên thế giới, Thâm Quyến,  
9
Trung Quốc). Bài báo này khảo sát sự khác nhau về thời gian trong chất  
lượng nước mặt ở Thẩm Quyến bằng cách phân tích dữ liệu từ tám lưu vực  
sông ở Thâm Quyến từ năm 1991 đến năm 2008. Qua đó đánh giá mức độ ô  
nhiễm chất lượng nước trong quá trình đô thị hóa tại Khu kinh tế Thâm  
Quyến; Douglas Zhihua Zen (2015), Global Experiences with Special  
Economic Zones - With a Focus on China and Africa (Kinh nghiệm toàn cầu  
với các khu kinh tế đặc biệt − Tập trung vào Trung Quốc và Châu Phi). Bài  
báo này nhằm cung cấp một cái nhìn khái quát về các kinh nghiệm của các  
Khu kinh tế đặc biệt ở Trung Quốc và Châu Phi, những bài học quan trọng mà  
châu Phi có thể học được từ Trung Quốc, cũng như các khu vực Trung Quốc  
gần đây ở châu Phi; Arnault Morisson, Patrick J. Gilabert (2015), Economic  
zones in the asean: industrial parks, special economic zones, eco industrial  
parks, innovation districts as strategies for ídustrial competitiveness (Các  
KKT trong khu vực như: KCN, KKT đặc biệt, KCN sinh thái, huyện đổi mới  
làm chiến lược cạnh tranh về công nghiệp). Đây là một báo cáo nghiên cứu  
của tổ chức Liên hợp quốc về các KKT ở Asean, Báo cáo nghiên cứu đưa ra  
các khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách và các tổ chức trong việc  
sửa lại các KCN và KKT hiện có thành các KCN sinh thái và các vùng kinh tế  
đặc biệt sinh thái; thúc đẩy chuỗi giá trị bằng cách tạo ra các huyện đổi mới ở  
các thành phố lớn; và tạo ra một tổ chức phi lợi nhuận trong ASEAN - Cơ  
quan Quản lý Khu kinh tế ASEAN (AEZA) - để theo dõi các khu kinh tế  
trong ASEAN; Samuel Hall (2015), Special Economic Zones in Afghanistan.  
A new business and economic deal for 2020?” (Các khu kinh tế đặc biệt ở  
Afghanistan. Một thỏa thuận kinh doanh và kinh tế mới cho năm 2020?). Đây  
là báo cáo điều tra bối cảnh kinh tế của các Khu kinh tế đặc biệt tại  
Afghanistan trên bảy vùng trong cả nước: Kabul, Balkh, Nangarhar, Paktia,  
Kunduz, Kandahar và Herat. Báo cáo nhấn mạnh việc tạo ra các Khu kinh tế  
10  
đặc biệt sẽ là tín hiệu cho các nhà đầu tư trong nước và có thể khuyến khích  
các khoản đầu tư nước ngoài vào nước này.  
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
Đề tài hướng tới việc luận giải cơ sở lý luận pháp luật về bảo vệ môi  
trường trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam và một số nước, từ đó đi  
phân tích, so sánh các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các  
KKT ở Việt Nam và một số nước nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để  
hướng tới hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BVMT trong  
hoạt động của các KKT ở Việt Nam.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài  
4.1 Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của một  
số nước trên thế giới về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các KKT. Bên  
cạnh đó, để làm luận chứng cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện và nâng cao  
hiệu quả thực thi pháp luật về BVMT trong hoạt động tại các KKT ở Việt  
Nam, đề tài còn nghiên cứu các quan điểm, học thuyết khoa học về BVMT  
trong hoạt động tại các KKT.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Thứ nhất, phạm vi về Nội dung nghiên cứu: Với đề tài này, để giải quyết  
một cách thấu đáo cần phải nghiên cứu hệ thống các quy định của pháp luật  
về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam và các nước  
bao gồm: (i) Pháp luật về BVMT trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng  
KKT; (iii) Pháp luật về BVMT trong giai đoạn triển khai thi công xây dựng  
KKT; (ii) Pháp luật về BVMT trong giai đoạn hoạt động KKT.  
Thứ hai, về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và  
thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các KKT  
của Việt Nam và một số nước, cụ thể là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và  
Singapore.  
11  
Thứ ba, về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thi hành  
pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các KKT của Việt Nam và  
một số nước từ năm 2010 cho đến tháng 12 năm 2018.  
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài  
Đề được thực hiện dựa trên các phạm trù của triết học Mác – Lênin mà  
hạt nhân là phép duy vật biện chứng để nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt  
động của các KKT với vấn đề ô nhiễm môi trường. Đồng thời, trong quá trình  
nghiên cứu đề tài bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của  
Nhà nước về BVMT tại các KKT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
và hội nhập quốc tế.  
Bên cạnh sử dụng phương pháp luận xuyên suốt cho cả quá trình nghiên  
cứu, công trình còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác, như:  
Thứ nhất, phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả nghiên cứu và kế  
thừa những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu đã công bố  
liên quan đến BVMT nói chung và BVMT trong hoạt động của các KKT nói  
riêng, cũng dựa trên những thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý  
như: Luật Môi trường, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật  
Đầu tư, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật,...  
Thứ hai, phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp nghiên cứu này  
sẽ được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu để tổng quan các  
công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về BVMT trong hoạt động của các  
KKT; nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của pháp luật về về BVMT trong  
hoạt động của các KKT; đánh giá, bình luận các quan điểm, các quy định  
pháp luật, các tình huống thực tiễn làm cơ sở cho những kết luận khoa học  
cũng như đưa ra khung pháp luật hoàn thiện về BVMT trong hoạt động của  
các KKT ở Việt Nam và một số nước hiện nay;  
12  
Thứ ba, phương pháp so sánh: phương pháp nghiên cứu này tác giả sẽ sử  
dụng chủ yếu trong chương 2 nhằm so sánh các quy định pháp luật về BVMT  
trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam và một số nước;  
6. Kết cấu của đề tài  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,  
đề tài được kết cấu thành 3 chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong  
hoạt động của các Khu kinh tế  
Chương 2: Pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường trong hoạt động  
các Khu kinh tế của Việt Nam và một số nước  
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ  
môi trường trong hoạt động các Khu kinh tế ở Việt Nam trên cơ sở vận dụng  
kinh nghiệm một số nước.  
13  
B. PHẦN NỘI DUNG  
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHU KINH TẾ  
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về khu kinh tế  
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của khu kinh tế  
Lịch sử phát triển đã chứng minh vai trò không thể phủ nhận của các khu  
công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế (trong quá trình phát triển của mỗi  
quốc gia, nó đang thể hiện rõ tính chất, hiệu quả của một mô hình mang tính  
đột phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu  
kinh tế của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng theo  
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì thế, các khái niệm về KCN, KCX,  
đặc biệt là KKT đã được nhiều học giải và công trình nghiên cứu quan tâm, lý  
giải. Qua khảo sát, tác giả nhận thấy, đã có những nghiên cứu nhằm lý giải về  
KKT sau đây:  
Trước hết phải kể đến khái niệm về KKT do Cơ quan tư vấn Tài chính  
và Đầu tư (FIAS) đưa ra – Đây là cơ quan nghiên cứu và tư vấn thuộc Tổ  
chức Tài chính quốc tế (IFC), theo quan điểm này thì KKT được định nghĩa là  
một khu vực địa lý có ranh giới rõ ràng, do một cơ quan quản lý, các pháp  
nhân trong đó được cung cấp những ưu đãi nhất định (ví dụ: các ưu đãi về  
thuế, nới lỏng về hải quan) khi thực hiện các hoạt động kinh tế bên trong khu.  
Hay theo Ngân hàng Thế giới (ADB) đưa ra khái niệm về Đặc khu kinh  
tế (SEZ) như sau: Một Đặc khu kinh tế là một vùng lãnh thổ của quốc gia  
nhưng được điều hành bởi một cơ quan hành chính riêng biệt. Các nhà đầu tư  
khi đầu tư vào Đặc khu kinh tế này được hưởng các ưu đãi đặc biệt về dịch  
vụ, các nghĩa vụ và thuế, cho phép doanh nghiệp vận hành theo một cơ chế  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 80 trang yennguyen 25340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam và một số nước trong hoạt động các khu kinh tế - Dưới gốc độ so sánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_phap_luat_bao_ve_moi_truong_o_viet_nam_va_mot.pdf