Báo cáo Đề tài Một số nghiên cứu mở rộng của mô hình Input – Output trong giảng dạy học phần Các mô hình toán kinh tế

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
-----o0o-----  
BꢀO CꢀO NGHIÊN CꢁU KHOA HỌC  
CꢂP TRƯỜNG  
Đꢃ TꢄI:  
MꢅT Sꢆ NGHIÊN CꢁU Mꢇ RꢅNG CꢈA  
MÔ HꢉNH INPUT – OUTPUT TRONG GIꢊNG DẠY HỌC  
PHꢋN CꢀC MÔ HꢉNH TOꢀN KINH Tꢌ  
Chꢍ nhiꢎm đꢏ tꢐi : TS. Phan Thanh Tꢑng  
Thꢐnh viên  
Đơn vꢓ  
: ThS. Lê Văn Tuꢒn  
: Bꢔ môn Toꢕn  
HÀ NꢅI  
1
2
MỤC LỤC  
Danh mục các kí hiệu…………………………………………….…………………………….4  
Mở đầu............................................................................................................................5  
11. NꢅI DUNG NGHIÊN CꢁU VÀ TIꢌN Đꢅ THỰC HIỆN  
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu đꢏ tài  
1.1. Tính cꢒp thiết cꢍa đꢏ tài nghiên cứu  
1.2. Xác lập và tuyên bố vꢒn đꢏ nghiên cứu trong đꢏ tài  
1.3.Mục tiêu cꢍa đꢏ tài  
1.4 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu  
1.5 Phạm vi nghiên cứu  
1.6 Ý nghĩa cꢍa nghiên cứu  
1.7 Kết cꢒu cꢍa bꢕo cꢕo đꢏ tài  
Chương 2. Cơ sở lý thuyết vꢏ vꢒn đꢏ nghiên cứu  
2.1. Tổng quan vꢏ mô hình Input - Output  
2.2.1. Khái niꢎm cꢍa mô hình, các chỉ số xây dựng mô hình  
2.2.2. Mô hꢖnh Input - Output dạng hiꢎn vật  
2.2.3. Mô hꢖnh Input - Output dạng giá trꢓ  
2.2. Mô hình Input - Output mở rꢔng, mô hình liên vùng  
2.2.1. Xây dựng mô hình liên vùng.  
2.2.2. Mối liên hꢎ cꢍa các yếu tố.  
2.3. Mô hình Input - Output mở rꢔng, mô hình nhân khẩu kinh tế  
2.3.1. Xây dựng mô hình nhân khẩu.  
2.3.1. Mối liên hꢎ cꢍa các yếu tố.  
2.4. ꢁng dụng các mô hình Input – Output mở rꢔng tại Viꢎt Nam  
3
Chương 3. Mô hình Input - Output mở rꢔng dạng số mờ  
3.1. Sơ lược vꢏ logic mờ  
3.1.1. Khoảng số và phép toán  
3.1.2. Tập mờ, số mờ và các phép toán  
3.2. Mô hình I/O mở rꢔng dạng số mờ  
3.2.1. Ý tưởng cꢍa bài toán  
3.2.2. Tính toán thực nghiꢎm  
3.2.3. Nhận xét  
KꢌT LUẬN CꢈA Đꢃ TÀI  
Tài liệu tham khảo.  
Phụ lục.  
1. Bảng I/O tổng quát dạng hiện vật và dạng giá trị…………………………………….30  
2. Thuyết minh đề tài (được duyệt)…………………………………………………………34  
4
Mꢇ ĐꢋU  
Trong chương trình giảng dạy các môn Toán Cao Cấp, Toán Kinh Tế,… ở  
trường Đại học Thương mại nói riêng và các trường kinh tế nói chung, một trong  
những vấn đề ảnh hưởng đến việc hiểu, ghi nhớ và sử dụng các công thức, định nghĩa  
phức tạp của Toán học là ý nghĩa ứng dụng của chúng trong thực tế như thế nào. Đây  
cũng là một rào cản lớn khiến các bạn sinh viên trở nên mất hứng thú với các môn  
Toán trong trường và từ đó làm mất đi một công cụ mang tính định lượng để nghiên  
cứu Kinh tế sau này. Với ý tưởng là giới thiệu một công cụ tương đối đơn giản trong  
Toán học (Ma trận trong môn Đại số tuyến tính) nhưng lại có ý nghĩa ứng dụng rất lớn  
trong Kinh Tế, các tác giả đề xuất ý tưởng về đề tài nghiên cứu cấp cơ sở : “Một số  
nghiên cứu mở rộng của mô hình Input - Output trong giảng dạy học phần "Các mô  
hình Toán Kinh Tế".  
Bảng Input – Output là một bảng số được thiết lập dưới dạng ma trận nhꢀm mô  
phỏng mối quan hệ giữa các ngành trong nền kinh tế trong quá trình sản xuất và sử  
dụng sản phẩm của một nước theo hệ thống hàm tuyến tính. Mô hình này được Giáo  
sư Wassily Leontief lần đầu trình trong công trình “Cấu trúc của nền kinh tế Hoa kỳ”  
năm 1941 và ngày nay, mô hình I/O và các ứng dụng mở rộng của nó được sử dụng  
rộng rꢁi ở nhiều nước trên thế giới. Trong những thập kỷ qua, đꢁ có rất nhiều nghiên  
cứu trong việc mở rộng mô hình I/O cơ bản trên thế giới và tại Việt Nam. Bꢀng cách  
hệ thống lại mô hình I/O cơ bản và hướng mở rộng của mô hình đꢁ và đang được sử  
dụng, đồng thời cung cấp gói lệnh R để ứng dụng mô hình trong tính toán, bản báo  
cáo thu hoạch của đề tài nghiên cứu sẽ có những nội dung cơ bản như sau:  
1. Tổng quan về mô hình Input – Output và các khái niệm liên quan.  
2. Mở rộng của mô hình Input – Output và một số ứng dụng cho nền kinh tế VN.  
3. Mở rộng của mô hình Input – Output dưới dạng số mờ.  
Thông qua đề tài các tác giả cung cấp một cái nhìn toàn diện cho sinh viên hệ chính  
quy của trường đại học Thương mại về một công cụ Toán học khá hiệu quả và rất dễ  
tiếp cận trong việc nghiên cứu định lượng các vấn đề kinh tế. Tuy nhiên vì được viết  
dưới góc độ của người nghiên cứu Toán học chứ không phải chuyên gia về kinh tế,  
bản báo cáo tổng kết vẫn còn nhiều thiếu sót nhất định và kiến thức ứng dụng vẫn còn  
rất ít. Các tác giả rất mong nhận được những kiến phản biện từ các đồng nghiệp, các  
bạn sinh viên, và các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực toán ứng dụng và kinh tế.  
Xin trân thành cảm ơn!  
Tháng 3/2017  
Các tác giả  
5
Chương 1.  
TỔNG QUAN NGHIÊN CꢁU Đꢃ TÀI  
1.1. Tính cꢒp thiết nghiên cứu cꢍa đꢏ tài  
- Các công trình nghiên cứu về ứng dụng mô hình IO mở rộng vào kinh tế tại Việt  
Nam là chưa nhiều và phổ biến. Đồng thời mặc dù là một công cụ phân tích định  
lượng tương đối dễ tiếp cận nhưng các nhà kinh tế dường như bỏ qua công cụ này mà  
chủ yếu sử dụng các công cụ như kinh tế lượng, thống kê khá phức tạp cho những bài  
toán đơn giản mà nhiều khi không khai thác hết đặc trưng của các mối liên hệ trong  
đó.  
-Bên cạnh đó, trong các trường đại học giảng dạy về kinh tế luôn có những môn học  
hàn lâm và khó tiếp cận như Toán học, Tin học. Để giảng dạy và học tập tốt các môn  
học này đòi hỏi sinh viên và giảng viên phải có sự tập trung và hứng thú nhất định.  
Tuy nhiên các bài giảng về Toán học trong các trường đại học khối ngành kinh tế  
thiếu đi mối liên kết với các môn khoa học khác như Tin học, Kinh tế học, dẫn đến  
việc trình bày các vấn đề lý thuyết rất khô khan và cứng nhắc.  
-Việc giới thiệu đề tài “Một số nghiên cứu mở rộng của mô hình Input - Output trong  
giảng dạy học phần "Các mô hình Toán Kinh Tế" nhꢀm giúp giảng viên, sinh viên có  
thêm kiến thức chuyên ngành, cũng như đào sâu ứng dụng của các công cụ Toán học,  
Tin học để giảng dạy trong trường đại học khối ngành kinh tế. Đề tài bổ sung thêm  
phần mở rộng và ứng dụng của mô hình IO trong giảng dạy học phần “Toán cao cấp 1  
- Đại số tuyến tính” và học phần “Các mô hình Toán kinh tế” của trường đại học  
Thương mại.  
1.2. Xác lập và tuyên bố vꢒn đꢏ trong đꢏ tài  
Đề tài nhꢀm nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực hành áp dụng mô hình Input – Output  
thuần túy và dạng mở rộng trong các bài toán nghiên cứu kinh tế tại Việt Nam  
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu  
6
- Nghiên cứu lý thuyết cơ bản về mô hình Input – Output thuần túy và các dạng mở  
rộng của mô hình.  
- Nghiên cứu sự ứng dụng của mô hình trong một số vấn đề thực tế đặt ra trong kinh  
tế.  
- Nghiên cứu tính chất toán học của mô hình đồng thời nghiên cứu dạng mở rộng của  
mô hình bꢀng công cụ tính toán ngẫu nhiên (logic mờ).  
1.4. Phạm vi nghiên cứu  
- Nghiên cứu dựa trên các bài báo đꢁ được công bố về mô hình Input – Output và ứng  
dụng của chúng trong dự báo kinh tế của Việt Nam.  
- Nghiên cứu hướng mở rộng dạng toán học của mô hình Input – Output dưới công cụ  
lý thuyết logic mờ.  
1.5. Ý nghĩa cꢍa nghiên cứu  
- Báo cáo của đề tài là bản tóm tắt lại các công trình đꢁ nghiên cứu cơ bản về Input –  
Output và ứng dụng trong kinh tế tại Việt Nam.  
- Đề tài mở rộng hướng nghiên cứu về mô hình Input – Output khi đưa vào thêm công  
cụ toán học tính toán ngẫu nhiên (logic mờ) và khả năng áp dụng của chúng. Đây là  
phần nghiên cứu lý thuyết hỗ trợ cho giảng viên và sinh viên dạy và học cũng như  
nghiên cứu về các học phần liên quan đến thống kê trong kinh tế.  
1.6. Kết cꢒu báo cáo nghiên cứu  
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài  
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận về chủ đề nghiên cứu  
Chương 3: Kết quả nghiên cứu  
Chương 4: Một số kết luận  
Phụ lục  
1. Bảng I/O tổng quát dạng hiện vật và dạng giá trị.  
1. Thuyết minh đề tài (được duyệt)  
7
Chương 2.  
CƠ Sꢇ LÝ THUYꢌT Vꢃ VꢂN Đꢃ NGHIÊN CꢁU  
2.1. Tổng quan vꢏ mô hình Input - Output  
2.1.1. Khái niệm mô hình Input – Output rút gọn:  
Bảng Input – Output (hoặc còn gọi là bảng cân đối liên ngành) được xây dựng do  
nhu cầu phân tích một cách tổng hợp toàn bộ các hoạt động kinh tế trong một nền kinh  
tế vĩ mô nào đó. Mô hình Input – Output (mô hình I/O) tập trung mô phỏng quan hệ  
của số lớn các ngành trong nền kinh tế của quá trình sản xuất và sử dụng các sản phẩm  
trong nước và nhập khẩu theo một hệ thống hàm tuyến tính. Hàm tuyến tính này thể  
hiện mối quan hệ về công nghệ sản xuất và sử dụng sản phẩm trong một thời kì nhất  
định. Trong sơ đồ khái quát được cấu trúc bởi các ngành theo cột (các ngành cung  
cấp) và các ngành theo dòng (các ngành cầu), ta có mô hình tổng quát của bảng I/O  
như sau (xem thêm phần phụ lục):  
F
Y
X
Tiêu dùng trung gian  
Tổng đầu ra  
Ô I  
Ô II  
VA  
Ô III  
X
Tổng đầu vào  
Trong đó:  
Ô I thể hiện chi phí trung gian của các ngành, bao gồm các ngành sản xuất ra  
sản phẩm vật chất và các ngành sản xuất ra sản phẩm dịch vụ.  
Ô II thể hiện những sản phẩm vật chất và dịch vụ được sử dụng cho nhu cầu sử  
dụng cuối cùng, bao gồm nhu cầu tiêu dùng cuối cùng, tích luỹ tài sản và xuất nhập khẩu.  
Ô III thể hiện giá trị tăng thêm của các ngành, bao gồm thu nhập của người sản  
xuất, thuế sản xuất, khấu hao TSCĐ và thặng dư sản xuất.  
Các ngành trong nền kinh tế có mối quan hệ hàm số như sau:  
X = AX + Y  
(1)  
A: là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp,  
X: là véc tơ giá trị sản xuất.  
Y: là véc tơ sử dụng cuối cùng.  
8
Ma trận A có những tính chất như sau:  
+ Phần tử 푎푖푗 của ma trận A thể hiện: Ngành j để sản xuất ra một đơn vị sản  
phẩm j thì cần sử dụng chi phí trung gian là sản phẩm I một lượng 푎푖푗. (Dạng hiện vật)  
+ 푎푖푗 < 1  
+ 푎푖푗 ≥ 0  
+ Tổng các phần tử trong mỗi cột phải nhỏ hơn hoặc bꢀng 1. Nếu không, có  
nghĩa rꢀng chi phí trung gian của một ngành sẽ cao hơn giá trị sản xuất của ngành đó,  
như vậy giá trị tăng thêm của ngành đó sẽ âm, ngành đó sẽ phá sản.  
2.1.2. Các chỉ tiêu tổng hợp trong bảng I/0:  
a. Kết cấu đầu vào (Chi phí sản xuất): Những chỉ tiêu này được cấu trúc theo cột của  
bảng I/O như sau.  
+ Tổng theo cột của Ô I của bảng I/O thể hiện tổng chi phí trung gian của mỗi ngành.  
Các chỉ tiêu thuộc dạng giá trị gia tăng (Ô III) bao gồm:  
+ Thu nhập của người lao động: Bao gồm lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền  
ăn trưa, các khoản phụ cấp, tiền thưởng,…Các khoản thu từ chuyển nhượng không  
thuộc phạm trù sản xuất không được tính vào thu nhập của người lao động.  
+ Khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ giá trị hao mòn của tài sản cố định trong quá  
trình tài sản cố định đó tham gia vào sản xuất.  
+ Thuế sản xuất: Bao gồm thuế doanh thu hoặc thuế VAT, các khoản phí, lệ phí, thuế  
môn bài; không bao gồm thuế lợi tức, thuế thu nhập doanh nghiệp và các thuế trực thu  
khác.  
+ Thặng dư sản xuất: Thặng dư sản xuất trong bảng I/O được hiểu là thu nhập cuối  
cùng của người chủ sản xuất sau khi đꢁ trừ đi tất cả các khoản chi phí khác (tổng chi  
phí trung gian, thu nhập của người lao động, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định).  
b. Kết cấu đầu ra (Nhu cầu sử dụng) : Những chỉ tiêu này được cấu trúc theo dòng  
của bảng I/O như sau:  
+ Tổng theo hàng của Ô I của bảng I/O thẻ hiện sản phẩm các ngành được các ngành  
khác sử dụng làm chi phí trung gian.  
Các chỉ tiêu thuộc sử dụng cuối cùng (Ô II) bao gồm:  
+ Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình: Bao gồm tất cả các khoản chi tiêu của hộ gia  
đình phục vụ mục đích sinh hoạt của hộ gia đình trong phạm vi một năm.  
9
+ Tiêu dùng cuối cùng của nhà nước: Bao gồm toàn bộ giá trị sản xuất của hoạt động  
quản lý nhà nước và một phần giá trị sản xuất của ngành khoa học công nghệ.  
+ Tích lũy tài sản cố định: Là toàn bộ giá trị tài sản cố định tăng lên trong năm, bao  
gồm cả: Chi phí cải tạo đất, vạt rừng tự nhiên, chi phí chuyển nhượng tài sản cố định,  
phí chuyển nhượng bản quyền về tài sản vô hình.  
+ Tích lỹ tài sản lưu đọng: Tích lũy tài sản lưu động trong bảng I/O được hiểu là giá  
trị thành phẩm tồn kho, sản phẩm dở dang cuối năm trừ đầu năm.  
+ Xuất nhập khẩu: Khái niệm về xuất nhập khẩu của bảng I/O nói riêng và của hệ  
thống tài khoản quốc gia nói chung không giống khái niệm của WTO, xuất nhập khẩu  
trong I/O với ý nghĩa rꢀng chủ sở hữu làm cơ sở, khi một loại hàng hóa nào đó đꢁ  
được kí kết hợp đồng coi như hàng hóa đó đꢁ có chủ sở hữu, tuy chưa đến cảng của  
nước xuất (hoặc nhập); ngoài ra xuất nhập khẩu trong bảng I/O bao gồm xuất nhập  
khẩu hàng hóa và dịch vụ, xuất nhập khẩu dịch vụ ở đây được hiểu là xuất nhập trực  
tiếp dịch vụ đó.  
* Từ các quan hệ đầu vào và đầu ra như đꢁ trình bày, chỉ tiêu GDP của một quốc gia  
có thể được tính theo 3 phương pháp như sau:  
+ Phương pháp dựa trên sử dụng cuối cùng: GDP = Tổng Ô II hay GDP = Tiêu dùng  
cuối cùng + Tích lỹ gộp tài sản + Xuất khẩu – Xuất khẩu.  
+ Phương pháp dựa trên sản xuất: GDP = (Tổng của Ô I + Tổng Ô III) – Tổng của Ô  
I. Hoặc có thể diễn tả là: GDP = Tổng của VA (giá trị tăng thêm) + Thuế xuất nhập  
khẩu trong đó VA được tính = X (véc tơ tổng chi phí sản xuất) – Tổng theo cột của Ô  
I.  
+ Phương pháp thu nhập: GDP = Tổng Ô III hoặc có thể hiêu: GDP = Tổng của VA  
+ Thuế xuất nhập khẩu trong đó VA lại được tính = Thu nhập người lao động + Khấu  
hao tài sản cố định + Thuế sản xuất + Thặng dư sản xuất.  
2.1.3. Ma trận Leontief:  
Ma trận Leontief còn được gọi là ma trận hệ số chi phí toàn phần. Ma trận này có  
thể coi như là khái niệm quan trọng nhất của mô hình I/O và nó được tìm ra theo công  
thức của Đại số tuyến tính rất cơ bản như sau:  
Ta có quan hệ (1) được viết lại là:  
Y = (I - A). X  
Từ đó suy ra:  
X = (I - A)-1. Y  
(2)  
Trong đó I là ma trận đơn vị với các phần tử nꢀm trên đường chéo chính bꢀng 1, các  
phần tử nꢀm ngoài đường chéo chính bꢀng 0.  
10  
훼11 ⋯ 훼1푛  
−1  
⋮
⋱
⋮
(
)
Ma trận  
퐼 − 퐴  
= 훼 = (  
)
훼푛1 ⋯ 훼푛푚  
là ma trận chi phí toàn phần do nhà kinh tế học Leontief thiết lập ra vì thế nó còn có  
tên gọi là ma trận Leontief. Ma trận này cho biết chi phí toàn phần để sản xuất ra một  
đơn vị sử dụng cuối cùng nào đó.  
Nhân tử sản lượng (Output Multiplier):  
Giả sử có sự thay đổi về tiêu dùng cuối cùng của Ngành 1 thêm 1 đơn vị, các ngành khác đều  
không thay đổi, khi đó ta có:  
Vì Y = (1 , 0 , 0 , … , 0) nên 푋 = 퐼 − 퐴 −1. 푌 = (훼11, 훼21, … , 훼푛1)  
(
)
Như vậy một cách khái quát có thể thấy khi tiêu dùng cuối cùng của Ngành 1 tăng  
thêm được 1 đơn vị, giá trị sản xuất của toàn Ngành 1 sẽ tăng lên một giá trị là 훼11 ,  
giá trị sản xuất của toàn Ngành 2 sẽ tăng lên một giá trị là 훼21… Từ đó ta có:  
Tổng giá trị sản xuất của toàn nền kinh tế sẽ tăng một lượng là  
푛
∑
푂1 = 푖=1 훼푖1.  
Ta gọi 푂1 là nhân tử sản lượng của Ngành 1, thể hiện cứ một đơn vị tiêu dùng cuối  
cùng tăng thêm của Ngành 1, sẽ kích thích toàn nền kinh tế tăng thêm giá trị xuất là  
푂1.  
Ta có chú ý rꢀng các phần tử trên đường chéo của ma trận 훼 luôn lớn hơn 1, điều  
đó có nghĩa rꢀng cần một đơn vị của một sản phẩm nào đó cho tăng 1 đơn vị sản phẩm  
cuối cùng của sản phẩm đó, phần còn lại để tăng năng lực sản xuất ra nó. Ma trận  
Leontief không chỉ đóng vai trò hết sức to lớn trong phân tích, dự báo trong kinh tế  
mà còn sau này được mở rộng như một ánh xạ để phân tích mối liên hệ tuyến tính của  
xã hội, môi trường hoặc các hiện tượng khác nhau trong cuộc sống.  
Liên kết ngược (backward linkage): là phép đo mức độ quan trọng tương đối  
của một ngành với tư cách bên sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ làm đầu vào  
từ toàn bộ hệ thống sản xuất. Liên kết ngược được xác định bꢀng tỷ lệ của tổng các  
phần tử theo cột trong ma trận hệ số chi phí toàn phần 훼 (còn gọi là ma trận nghịch  
đảo Leontief) so với mức trung bình của toàn bộ hệ thống kinh tế. Tỷ lệ này còn được  
gọi là chỉ số lan toả (Index of the power of dispersion) và được xác định như sau:  
푚
∑
푖=1 훼푖푗  
푂
푗
푛
푗=1  
휇푗 =  
=
1
1
푚
푖=1  
푛
∑
∑
∑
푗=1 훼푖푗  
푂
푗
푛.푚  
푛
11  
Tỷ lệ này càng cao có nghĩa là liên kết ngược của ngành đó càng lớn và ngành  
đó càng phát triển sẽ dẫn đến mức tăng trưởng càng cao của toàn bộ nền kinh tế. Như  
vậy, các nhà làm chính sách có thể dựa vào đây để đưa ra các quyết định hợp lý.  
Liên kết xuôi (forward linkages): hàm ý mức độ quan trọng của một ngành  
với tư cách là nguồn cung sản phẩm vật chất và dịch vụ cho toàn bộ hệ thống sản xuất.  
Tỷ lệ này được xem như "độ nhạy" của nền kinh tế, được đo lường bꢀng tổng các  
phần tử theo hàng của ma trận nghịch đảo Leontief so với mức trung bình của toàn bộ  
hệ thống.  
푛
∑
푗=1 훼푖푗  
푂푖  
푛
푗=1  
휇푖 =  
=
1
1
푚
푖=1  
푛
∑
∑
∑
푗=1 훼푖푗  
푂
푗
푛.푚  
푛
Ma trận Leontief thực sự đꢁ làm sáng tỏ mối quan hệ liên ngành trong nền kinh  
tế, đꢁ lượng hóa và tính toán mức đầu ra cần thiết để thỏa mãn nhu cầu sử dụng cuối  
cùng, cũng như xem xét đầu ra thay đổi ra sao để đáp ứng sự thay đổi của của nhu cầu  
cuối cùng.  
2.2. Mô hình Input – Output mở rộng – Mô hình liên vùng:  
2.2.1. Cấu trúc mô hình liên vùng:  
Mô hình I-O có thể được vận dụng để nghiên cứu mối quan hệ giữa 2 vùng  
kinh tế trong cùng một đất nước. Chẳng hạn vùng 1 là vùng kinh tế trọng điểm của  
Việt Nam là Thành phố Hồ Chí Minh và vùng 2 là các vùng còn lại của đất nước.  
Ma trận A trong (1) được chia thành 4 ma trận con:  
A
A
11  
12   
A   
A21 A22  
A11 là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp giữa các ngành trong vùng 1 (tức là  
không kể đến chi phí trung gian vùng 1 dùng của bên ngoài).  
A22 tương tự, là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp giữa các ngành trong vùng 2.  
A12 là ma trận hệ số xuất khẩu hàng hoá trung gian từ vùng 1 sang vùng 2, hay còn gọi  
là xuất khẩu nội địa của vùng 1.  
A21 là ma trận hệ số nhập khẩu hàng hoá của vùng 2 làm đầu vào cho sản xuất ở vùng  
1, hay còn gọi là nhập khẩu nội địa của vùng 1.  
Trong bảng I-O liên vùng còn có thêm các ma trận thể hiện trao đổi của vùng 1 và  
vùng 2 với thế giới.  
Từ đó, công thức (1) có thể được khai triển thành:  
12  
A
A12  
X
Y
X
  1   
1   
11  
1   
.
(1)  
   
A21 A22 X2  
Y2  
X2  
   
Hay công thức 2 cũng có thể viết lại dưới dạng ma trận kép:  
I- A  
- A12  
X
Y
  1   
11  
1   
.
(2)  
   
- A21 I- A22 X2  
Y2  
   
Trong đó: Y1 , Y2 lần lượt là các vectơ Tiêu dùng cuối cùng của vùng 1 và vùng 2.  
X1, X2 lần lượt là các vectơ tổng đầu ra của vùng 1 và vùng 2.  
Từ (2) khai triển ra ta có 2 hệ phương trình:  
(I - A11)X1 - A12X2 = Y1  
(I - A22)X2 - A21X1 = Y2  
(3.1)  
(3.2)  
Ta thấy rꢀng :  
Công thức (3.1) cho biết rꢀng: Tiêu dùng cuối cùng các sản phẩm do vùng 1 sản xuất  
ra bꢀng tổng đầu ra vùng 1 trừ đi khoản Tiêu dùng trung gian cho chính vùng 1 và trừ  
tiếp đi khoản tiêu dùng trung gian xuất sang vùng 2.  
Công thức (3.2) cũng được giải thích tương tự như vậy.  
2.2.2. Sự phụ thuộc liên vùng:  
Bꢀng cách sử dụng bảng I-O liên vùng chúng ta có thể nghiên cứu phân tích sự  
phụ thuộc giữa 2 vùng với nhau và với phần còn lại của thế giới (ta có thể mở rộng ma  
trận A thành nhiều ma trận khối nꢀm trong A.  
Hiện nay, bất kỳ một nền kinh tế nào cũng tham gia giao dịch thương mại với  
các nền kinh tế khác trên thế giới. ở cấp độ địa phương, địa phương nào cũng tham gia  
trao đổi thương mại với các tỉnh trong cùng nước và với thế giới bên ngoài. Nhờ quá  
trình giao dịch này, sản lượng của vùng tăng lên rõ rệt. Điều này thể hiện rõ nét ở  
nước ta sau khi các quy định "ngăn sông, cấm chợ” được bãi bỏ, hàng hoá được thông  
thương giữa các tỉnh. Tương tự, kể từ khi kinh tế nước ta mở cửa, khối lượng giao  
dịch tăng lên rất nhiều và trở thành động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước  
phát triển.  
Bây giờ, ta xem xét:  
+ Nếu không quan tâm đến sự biến động của nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của vùng 2  
, tức Y2 = 0, ta có:  
Công thức (3.2) X2 = (I - A22)-1 A21X1  
(3)  
+ Tương tự, trong trường hợp không tính đến sự biến động của nhu cầu tiêu dùng  
cuối cùng của Vùng 1, tức 푌 = 0, ta có:  
1
Công thức (3.1) X1 = (I - A11)-1 A12X2  
(4)  
13  
Công thức (4) cho thấy, trong trường hợp không tính đến ảnh hưởng của nhu cầu tiêu  
dùng cuối cùng của vùng 1, một đơn vị tăng lên của tổng đầu ra của vùng 2 gây ra một  
khoản tăng lên ở tổng đầu ra của vùng 1 là:  
P1 = (I - A11)-1A12 được gọi là hệ số ảnh hưởng lan toả.  
Ảnh hưởng nội vùng và ảnh hưởng ngoại vùng theo Miyazawa  
Theo Miyazawa, ma trận (I - A)-1 có thể phân tích thành tích của 3 ma trận:  
0
I
P
B
0
   
1    
1
1
(I - A)-1 =  
.
.
   
   
0
2  
P
I
0
B2  
2
   
   
Trong đó: 1 = (I- P1P2)-1  
2 = (I- P2P1)-1  
P1 = (I- A11)-1 A12  
P2 = (I- A22)-1 A21  
B1 = (I- A11)-1  
B2 = (I- A22)-1  
Ví dụ: Nếu như ta coi ma trận I/O thể hiện nền kinh tế liên vùng giữa thành phố Hồ  
Chí Minh và các vùng khác trong cả nước thì dễ thấy rꢀng: Trong 3 ma trận trên, ma  
trận đầu tiên là ma trận ảnh hưởng ngoại vùng, thể hiện ảnh hưởng của các hoạt động  
kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh thuộc ngoại vùng; ma trận thứ hai là ma  
trận ảnh hưởng lan toả, thể hiện ảnh hưởng của ngoại vùng gây ra đối với thành phố  
Hồ Chí Minh; và ma trận thứ ba là ma trận ảnh hưởng nội vùng, thể hiện ảnh hưởng tự  
phát sinh trong thành phố Hồ Chí Minh.  
2.3. Mô hình I/O mở rộng – Mô hình nghiên cứu về môi trường:  
2.3.1. Ý tưởng cơ bản về nghiên cứu môi trường từ bảng I/O:  
Xuất phát từ quan hệ cơ bản của ma trận Leontief (công thức (2) – mục 2.1) và với  
giả thiết rꢀng các phần tử thuộc ma trận A (ma trận hệ số chi phí trung gian) là ổn định  
trong một thời kì nhất định là 5 năm, ta thấy sự thay đổi về giá trị sản xuất của các  
ngành phụ thuộc nhu cầu sử dụng cuối cùng của sản phẩm đó:  
Δ푋 = 퐼 − 퐴 −1. Δ푌 (1)  
(
)
Với Δ푋 là sự thay đổi của giá trị sản xuất, Δ푌 là sự thay đổi của nhu cầu sử dụng cuối  
cùng.  
Từ cơ sở lý luận đó, nếu ta xác lập ma trận chất thải trực tiếp từ sản xuất như sau:  
푉∗ = (푣푘∗푗)푚×푛  
14  
Trong đó 푣푘∗푗 thể hiện ngành j trong quá trình sản xuất ra sản phẩm j đꢁ thải ra chất  
thải loại k.  
Số m – số dòng ma trận thể hiện số loại chất thải, n – số cột ma trận thể hiện số ngành  
được khảo sát trong mô hình.  
Nhân 2 vế của quan hệ Leontief với ma trận chất thải trực tiếp từ sản xuất 푉∗ ta có:  
∗
∗
푉 . 푋 = 푉 . 퐼 − 퐴 −1. 푌 (2)  
(
)
Đặt 푉 = 푉∗. 푋 , dễ dàng nhận thấy  
∗
∗
Δ푉 = 푉 . Δ푋 = 푉 . 퐼 − 퐴 −1. Δ푌 (3)  
(
)
Từ đây ta thấy rꢀng, véc tơ V thể hiện ảnh hưởng toàn phần về chất thải trong quá  
trình sản xuất và đi xa hơn nữa là sự thay đổi về chất thải phụ thuộc vào sự thay đổi về  
nhu cầu sử dụng cuối cùng.  
∗
Ma trận 푉 . 퐼 − 퐴 −1 có tên gọi là ma trận hệ số chất thải toàn phần trong quá trình  
(
)
sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm cuối cùng.  
Nếu ta tính theo cột j của ma trận này, nói lên tổng số chất thải (tất cả các loại chất  
thải) được thải ra trong quá trình sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm cuối cùng của ngành j.  
Nếu ta tính theo dòng k của ma trận này, nói lên chất thải loại k được thải ra trong quá  
trình sản xuất ra 1 đơn vị sử dụng cuối cùng.  
* Từ đó cho ta biết được một điều rất hay rꢀng: Vì tổng sử dụng cuối cùng chính là  
GDP và như vậy các nhà phân tích, những người lập kế hoạch và những người nghiên  
cứu về môi trường có thể biết được rꢀng, khi tăng GDP thì từng loại và tổng số chất  
thải sẽ tăng tương ứng một lượng so với GDP.  
2.3.2. Mô hình nghiên cứu liên kết kinh tế - môi trường:  
Một vấn đề được đặt ra rꢀng: Như vậy nền kinh tế có ảnh hưởng gì từ chất thải  
hay không? Không phải chỉ là chất thải từ quá trình sản xuất mà còn chất thải đến từ  
các nguồn khác như nước, mưa, khí hậu, ngoại nhập,…Phát triển ý tưởng nghiên cứu  
ở trên, các nhà khoa học đưa ra mô hình tổng quát dưới đây:  
퐼 − 퐴 −휙1  
푌
푋
[
] × [ ] = [ ] (4)  
휙2  
퐼
−푉∗  
푊
1
Trong đó:  
휙1 là ma trận thể hiện ảnh hưởng ngược từ chất thải lên nền kinh tế (làm giảm năng  
suất, làm tiêu tốn kinh phí để xử lý chất thải).  
휙1 = (휙1푖푗)푛×푚  
15  
휙2 là véc tơ chất thải từ nguồn khác.  
Từ mô hình trên ta có quan hệ như sau:  
(
)
퐼 − 퐴 . 푋 − 휙1. 푊 = 푌 (5)  
푊 = 푉∗. 푋 + 휙2 (6)  
Ở đây, nếu ta không tính ảnh hưởng của môi trường đến nền kinh tế, tức là 휙1 = 0,  
khi đó quan hệ (5) trở thành quan hệ kinh tế theo mô hình I/O truyền thống.  
Trong quan hệ (6), ta thấy tổng số chất thải 푊 sẽ được tính bꢀng chất thải từ nền kinh  
tế 푉∗. 푋 và chất thải từ các nguồn khác 휙2.  
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào ta có thể xác định được ma trận 휙1 = (휙1푖푗)푛×푚  
.
Δ
푖푗  
Để làm được điều này, ta đặt 휙푖푗 =  
(7) Trong đó Δ푖푗 được xác định tùy theo  
푊
mục đích nghiên cứu. Người ta có thể coi Δ푖푗 là chi phí của ngành i để chống lại chất  
thải loại j.  
Từ đó, nếu ta đặt:  
푚
푚
푚
∑
∑
∑
Δ = ( 푗=1 Δ1푗 , 푗=1 Δ2푗 , … , 푗=1 Δ푛푗) và thay vào công thức (5) sẽ được biểu  
thức:  
푌 = 푋 − 퐴. 푋 − Δ (8)  
Biểu thức (8) nói lên phần nguồn là giá trị tăng thêm của mỗi ngành sau khi phải trừ đi  
khoản chi phí để khử chất thải mới được mang cho sử dụng cuối cùng. Nói cách khác,  
chi phí trung gian của mỗi ngành phải được tăng thêm một khoản để chống lại chất  
thải.  
2.4. Mô hình I/O mở rộng – Mô hình có chứa bảo hiểm lao động  
Mô hình I/O thông thường chỉ cho phép nghiên cứu mối quan hệ tác động qua  
lại giữa các ngành sản xuất, theo đó sự tăng (hoặc giảm) tiêu dùng cuối cùng về sản  
phẩm của một ngành trước hết sẽ tác động đến sản lượng sản xuất của chính ngành đó  
và từ đó sẽ kích thích sản xuất của các ngành khác thông qua các mối quan hệ đầu vào  
đầu ra giữa các ngành. Trên thực tế, sự tăng trưởng về qui mô sản xuất của các ngành  
còn đặt ra yêu cầu tăng thêm về lao động và do đó tạo ra được việc làm và thu nhập  
tăng thêm cho người lao động. Các khoản thu nhập tăng thêm này sẽ được sử dụng  
cho tiêu dùng của các hộ gia đình và sự tiêu dùng tăng thêm này đến lượt nó lại kích  
thích phát triển sản xuất.  
Chính vì vậy, trong phân tích mô hình I/O, người ta thường sử dụng mô hình "mở  
rộng", theo đó đưa vào trong mô hình thêm một dòng và một cột như biểu diễn trên  
hình sau đây:  
16  
Tiêu dùng trung gian  
Tiêu dùng cuối cùng (Y)  
GO  
Sử  
trung gian  
dụng  
푥11 푥12 푥13 … 푥1푛  
퐶1 퐺1 퐼1 푋퐾1 − 푀1  
푋1  
퐶2 퐺2 퐼2 푋퐾2 − 푀2  
….  
푋2  
…
푥21 푥22 푥23 … 푥2푛  
….  
퐶푖 퐺푖 퐼푖 푋퐾 − 푀푖  
…
푋푖  
…
푥푖1 푥푖2 푥푖3 … 푥푖푛  
….  
푖
퐶푛 퐺푛 퐼푛 푋퐾푛 − 푀푛  
푋푛  
푥푛1 푥푛2 푥푛3 … 푥푛푛  
Giá trị gia  
tăng  
퐿1 퐿2  
퐾1 퐾2  
퐿3 … . 퐿푛  
퐾3 … . 퐾푛  
푃
푃2  
푇2  
푃3 … . 푃  
1
푛
푇
1
푇3 … . 푇  
푛
GI  
퐿1 퐿2  
퐿3 … . 퐿푛  
2.4. ꢁng dụng mô hình Input – Output mở rꢔng tại Viꢎt Nam  
Việc thiết lập một mô hình I/O liên vùng trong kinh tế đầy đủ thường khá tốn  
kém về kinh phí và không đơn giản về kỹ thuật. Trong phạm vi của bài nghiên cứu,  
các tác giả chỉ trình bày một số vấn đề được nghiên cứu trước đó tại Việt Nam trong  
các bài báo của chuyên gia để phân tích cấu trúc kinh tế liên vùng mà đặc biệt là  
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phần còn lại của Việt.  
Mô hình I/O kinh tế liên vùng với mô hình 2 vùng:  
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phần còn lại của Việt Nam  
Trong nghiên cứu này, các tác giả đꢁ cập nhật lại bảng I/O liên vùng thu được từ bảng  
I/O 9 ngành của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng còn lại năm 2000 và  
2004. Hiện nay, việc phân tích cấu trúc kinh tế thường được hầu hết các nước trên thế  
giới sử dụng thông qua các liên kết ngược và liên kết xuôi ở cấp độ kinh tế quốc gia,  
vùng hoặc liên vùng.  
Trong đó, 9 ngành kinh tế được chia làm 3 khu vực như sau:  
KV I:  
KV II:  
1. Nông, lâm và thuỷ sản.  
2. Công nghiệp khai thác.  
3. Công nghiệp chế biến sản phẩm.  
4. Công nghiệp điện, nước.  
5. Xây dựng.  
17  
KV III:  
6. Thương mại.  
7. Vận tải, bưu điện.  
8. Tài chính, kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấn.  
9. Dịch vụ khác.  
Bảng 1: Liên kết xuôi và liên kết ngược cꢍa Vꢑng KTTĐ phía Nam năm 2000 và  
năm 2004  
2000  
2004  
OM*  
BL** IM*** FL**** OM  
BL  
IM  
FL  
1,70090 0,89872 1,40098 0,74024 1,74411 0,86762 1,50665 0,74949  
2,18671 1,15541 2,61090 1,37954 2,48974 1,23854 2,82191 1,40378  
1,79015 0,94588 1,66588 0,88022 1,79683 0,89385 1,70212 0,84673  
KV I  
KV II  
KV III  
1,893  
1,893  
2,010  
2,010  
Chú thích:  
*
nhân tử đầu ra (output multipliers);  
liên kết ngược (backward linkages);  
nhân tử đầu vào (input multipliers);  
liên kết xuôi (forward linkages).  
**  
***  
****  
Bảng 1 cho thấy khả năng kích cầu bình quân của Vùng KTTĐ phía Nam năm  
2004 cao hơn năm 2000 là 6,2 %, Nếu năm 2004, sử dụng cuối cùng tăng lên 1 đơn vị  
sẽ kích thích sản xuất 1,893 đơn vị; đến năm 2004, khi tăng một đơn vị sử dụng cuối  
cùng sẽ kích thích sản xuất 2,010 đơn vị,  
Điều đáng nói ở đây là liên kết ngược cả trong năm 2000 và 2004 của cả hai khu  
vực I và khu vực III đều nhỏ hơn 1, nghĩa là khả năng kích cầu của hai khu vực này  
đều thấp hơn mức bình quân của tổng thể kinh tế vùng, Như vậy, có thể thấy sự phát  
triển kinh tế là không đồng đều theo 3 khu vực; trong khi quá chú trọng vào khu vực  
công nghiệp thì hai khu vực còn lại chưa đạt được sự phát triển tương xứng,  
Phân tích liên kết xuôi củng cố thêm nhận định rꢀng các vùng khác là nguồn cung  
quan trọng các đầu vào trung gian cho Vùng KTTĐ phía Nam, Như vậy, có thể kết  
luận việc xác định vùng KTTĐ ở đây là hoàn toàn đúng đắn về mặt khoa học, vì khi  
kinh tế của vùng này tăng trưởng sẽ kích thích sản xuất của các vùng khác.  
Bảng 2 cho thấy công nghiệp chế biến và xây dựng của vùng có vị trí quá mạnh,  
khiến mức độ lan toả của các nhóm ngành còn lại không thể vượt qua mức bình quân  
18  
chung. Điều này cũng cho thấy, nếu các nhóm ngành còn lại thay đổi quy trình công  
nghệ tiên tiến hơn nữa sẽ khiến nền kinh tế vùng phát triển đồng đều và kích thích  
nhóm ngành công nghiệp mạnh mẽ hơn.  
Bảng 2: Liên kết ngược theo 9 ngꢐnh năm 2000 vꢐ năm 2004  
Các ngành  
2000  
2004  
1
2
3
4
5
6
7
8
Nông, lâm và thuỷ sản  
Công nghiệp khai thác  
Công nghiệp chế biến  
Công nghiệp điện - nước  
Xây dựng  
0,81961  
0,72503  
1,17558  
1,54452  
1,17141  
0,85981  
0,94263  
0,88551  
0,76338  
1,41624  
0,97671  
1,35848  
0,81445  
0,99509  
Thương mại  
Vận tải, bưu điện  
Tài chính, kinh doanh bất động sản  
và dịch vụ tư vấn  
0,89870  
0,86270  
0,84877  
0,94138  
9
Dịch vụ khác  
Bảng 1 và bảng 2 chỉ ra cơ cấu chi phí của khu vực II (công nghiệp khai thác, công  
nghiệp chế biến, điện - nước và xây dựng) nói chung và công nghiệp chế biến và xây  
dựng nói riêng thay đổi rõ rệt, tuy ở cả hai năm 2000 và 2004 chỉ số lan toả đều ở mức  
lớn hơn 1 nhưng cơ cấu chi phí đầu vào toàn phần của ngành công nghiệp chế biến  
năm 2004 cao hơn năm 2000 trên 120%; ngành xây dựng là 121%; với tốc độ tăng giá  
giữa chi phí đầu vào và sản phẩm đầu ra là khoảng 3%, có thể nhận thấy đꢁ có sự thay  
đổi rõ rệt về hệ số kỹ thuật trong cơ cấu chi phí của 2 ngành này. Ngoài ra, năm 2004,  
dù chỉ số lan toả ở hầu hết các ngành thấp hơn 1 nhưng đều tăng hơn so với năm 2000.  
Riêng ngành điện - nước trong cơ cấu chi phí của năm 2000 bao gồm một khoản rất  
lớn về sử dụng sản phẩm của chính nó (60%), khoản này bao gồm hao hụt trong khâu  
phân phối. Điều này cho thấy hệ thống kinh tế của Vùng KTTĐ phía Nam đꢁ thay đổi  
về chất, xét trên khía cạnh cơ cấu trúc chi phí. Một điều rất đáng quan tâm là mức độ  
lan toả thông qua chỉ số liên kết ngược (BL) của nhóm ngành nông nghiệp và dịch vụ  
nhỏ hơn mức bình quân chung, cho thấy quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá  
chưa đạt mục tiêu cho toàn nền kinh tế; hệ số lan toả của nhóm ngành công nghiệp chế  
biến và xây dựng quá cao trong khi đối với các ngành nông nghiệp và dịch vụ lại quá  
thấp cho thấy công nghiệp hoá và hiện đại hoá chưa đến được với các ngành nông  
nghiệp và dịch vụ. Việc phát triển rầm rộ các khu công nghiệp không đồng nghĩa với  
19  
công nghiệp hoá và hiên đại hóa. Khi công nghiệp hoá và hiện đại hoá đến được với  
nhóm ngành nông nghiệp hoặc dịch vụ tức là việc sử dụng sản phẩm của công nghiệp  
chế biến làm chi phí trung gian nhiều hơn, đồng nghĩa với hệ số lan toả của các ngành  
này sẽ tương thích với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong nội bộ nhóm ngành công nghiệp  
chế biến.  
Bảng 3: Yếu tố cầu theo ngành trong GDP  
Các ngành  
2000  
2004  
1
2
3
4
5
6
7
8
Nông, lâm và thuỷ sản -0,08230  
Công nghiệp khai thác 0,35340  
-0,13236  
0,26845  
0,53410  
0,00310  
0,14309  
0,00658  
0,00263  
Công nghiệp chế biến  
0,31994  
Công nghiệp điện - nước -0,01309  
Xây dựng  
0,11258  
0,06341  
-0,00438  
Thương mại  
Vận tải, bưu điện  
Tài chính, kinh doanh bất  
động sản và dịch vụ tư  
vấn  
0,00161  
0,24884  
1,00000  
0,02955  
0,14486  
1,00000  
9
Dịch vụ khác  
Bảng 3 cho thấy các nhân tố theo ngành tạo nên GRDP của Vùng KTTĐ phía Nam.  
Những yếu tố ngoài vùng làm giảm GRDP của năm 2000 gồm nhóm ngành nông -  
lâm - thuỷ sản, công nghiệp điện - nước và vận tải; tỷ trọng làm giảm GRDP của các  
yếu tố liên vùng xấp xỉ 10% năm 2000 và 13% năm 2004. Năm 2000, ngành công  
nghiệp điện - nước có BL rất cao (1,54), nhưng nhìn vào hệ số chi phí trực tiếp có thể  
nhận thấy Vùng KTTĐ phía Nam nhập điện từ ngoài vùng và hao hụt rất lớn; do đó,  
dù ngành này có BL cao nhưng thực ra không có ý nghĩa tích cực. Năm 2004, mặc dù  
ảnh hưởng liên vùng làm GRDP của vùng giảm 13% do nhập sản phẩm nông, lâm,  
thuỷ sản từ bên ngoài nhưng ngành công nghiệp chế biến lại đóng góp 53% so với  
32% của năm 2000 vào GRDP. Như vậy, có thể nhận thấy trên phương diện thương  
mại liên vùng, hệ thống kinh tế của Vùng KTTĐ phía Nam sẽ kích thích sản xuất đối  
với các sản phẩm thuộc nhóm ngành nông, lâm và thuỷ sản của các vùng khác.  
Bảng 4.1: Nhân tử đầu ra cꢍa mꢔt số tỉnh trong Vꢑng KTTĐ năm 2004  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 46 trang yennguyen 20260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Một số nghiên cứu mở rộng của mô hình Input – Output trong giảng dạy học phần Các mô hình toán kinh tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_mot_so_nghien_cuu_mo_rong_cua_mo_hinh_input_o.pdf