Báo cáo Đề tài Nghiên cứu điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ  
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN KHỞI SỰ KINH DOANH  
CỦA DOANH NGHIỆP MỚI THÀNH LẬP  
Mã số: CS - 18 - 01  
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trịnh Thị Nhuần  
Hà Nội, tháng 4 năm 2019  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả đề tài xin trân trọng cảm ơn Ban  
giám hiệu Nhà trường, Khoa quản trị doanh nghiệp và bộ môn quản trị doanh nghiệp  
thương mại đã tạo mọi điều kiện cho tôi được đảm nhận và thực hiện nghiên cứu này.  
Đồng thời, tác giả nghiên cứu đề tài cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các  
giảng viên, các nhà nghiên cứu khoa học tại trường đại học Thương Mại và các doanh  
nghiệp đã giúp chúng tôi thu thập được những thông tin bổ ích, phục vụ cho việc  
nghiên cứu đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đang công tác tai bộ môn Quản trị  
doanh nghiệp thương mại đã góp ý, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề  
tài nghiên cứu.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2019  
Chủ nhiệm đề tài  
ThS. Trịnh Thị Nhuần  
ii  
MỤC LỤC  
TÓM LƯỢC ĐỀ TÀI......................................... Error! Bookmark not defined.  
1.3. Quá trình khởi sự kinh doanh ....................................................................... 30  
iii  
 
3.1. Xu hướng về khởi sự kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam đến năm  
2025...................................................................................................................... 72  
iv  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
CDN  
Chủ doanh nghiệp  
Doanh nghiệp  
Đổi mới sáng tạo  
Khởi nghiệp  
DN  
ĐMST  
KN  
KS  
Khởi sự  
KSKD  
Khởi sự kinh doanh  
v
 
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ  
Bảng 1.1. Các khoản chi phí thường xuyên của một doanh  
nghiệp………………........................................................................................... 43  
vi  
 
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
1. Thông tin chung  
- Tên đề tài: Nghiên cứu điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành  
lập  
- Chủ nhiệm đề tài: Trịnh Thị Nhuần  
- Thành viên tham gia: Nguyễn Thị Thanh Tâm  
- Đơn vị công tác: Bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh – Khoa Quản trị kinh  
doanh  
2. Mục tiêu đề tài  
* Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh  
nghiệp mới thành lập.  
* Phân tích và đánh giá khái quát một số điều kiện khởi sự kinh doanh ở Việt  
Nam hiện nay. Đánh giá của các chủ doanh nghiệp về sự ảnh hưởng của các điều kiện  
khởi sự kinh doanh này đến sự thành công của doanh nghiệp mới thành lập (3,5 năm  
đầu).  
* Đề xuất giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy học phần khởi  
sự kinh doanh của bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh, đề xuất các giải pháp hỗ trợ  
các cá nhân/ nhóm người khởi sự kinh doanh tại các doanh nghiệp mới thành lập ở Việt  
Nam  
3. Tính mới và sáng tạo  
Trên cơ sở tổng quan và kế thừa từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài  
nước, đề tài đã làm rõ và bổ sung một số vấn đề lý luận về điều kiện khởi sự kinh doanh  
của các doanh nghiệp mới thành lập, phân tích đánh giá một số điều kiện khởi sự kinh  
doanh nước ta hiện nay, đánh giá của các chủ doanh nghiệp về sự tác động của điều  
kiện khởi sự kinh doanh hiện nay đến các doanh nghiệp mới thành lập. Trên cơ sở đó,  
đề tài nghiên cứu đã chỉ ra một số đề xuất và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng  
dạy cũng như trong thực tiễn.  
4. Kết quả nghiên cứu  
vii  
Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp và trên cơ sở kế thừa  
các nghiên cứu trước, đề tài đã xây dựng được 3 nhóm điều kiện khởi sự kinh doanh  
chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mới thành  
lập đó là: điều kiện môi trường kinh doanh bên ngoài (gồm 6 yếu tố như tác động của  
Chính phủ, cơ sở hạ tầng, thị trường gia nhập, giáo dục và đào tạo, văn hóa xã hội,  
kinh tế chính trị); điều kiện kinh doanh nội tại của doanh nghiệp mới (gồm nhân lực,  
cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, sản phẩm, văn hóa doanh nghiệp, marketing và bán  
hàng) và điều kiện khởi sự kinh doanh thuộc về bản thân người chủ doanh nghiệp  
(động cơ khởi sự kinh doanh, kinh nghiệm thực tế, năng lực lãnh đạo, kiến thức, kỹ  
năng, tố chất cá nhân).  
Đề tài đã đánh giá được thực trạng các điều kiện khởi sự kinh doanh hiện nay  
trên một số điều kiện cơ bản môi trường bên ngoài.  
Đề tài đã tổng kết lại những đánh giá của các chủ doanh nghiệp đã khởi sự kinh  
doanh và hiện đang điều hành những doanh nghiệp của họ, những doanh nghiệp này  
đều là những doanh nghiệp được thành lập nhỏ hơn 3,5 năm nhằm làm rõ hơn sự ảnh  
hưởng của các điều kiện khởi sự kinh doanh đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp họ những năm đầu thành lập.  
Thông qua việc phân tích thực trạng và đánh giá của các chủ doanh nghiệp nói trên,  
đề tài đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu để nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu  
trong giảng dạy học phần và trong thực tiễn đối với người chuẩn bị khởi sự kinh doanh,  
đối với doanh nghiệp mới thành lập.  
5. Đóng góp của đề tài  
Thông qua kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã giúp các chủ doanh nghiệp  
có cái nhìn toàn diện hơn về những điều kiện khởi sự kinh doanh tác động đến sự  
thành công và thất bại của DN họ trong những năm đầu mới khởi sự (cụ thể là 3,5  
năm đầu tiên). Kết quả đề tài đã làm rõ, trong số 3 nhóm điều kiện khởi sự kinh doanh  
của DN mới thành lập, nhóm điều kiện thuộc về các đặc điểm cá nhân của người chủ  
doanh nghiệp là nhóm quyết định sự thành công của DN mới thành lập. Cụ thể là các  
điều kiện về kiến thức; kinh nghiệm, năng lực lãnh đạo, tố chất cơ bản như chấp nhận  
mạo hiểm, khả năng chịu rủi ro trong kinh doanh, thị trường gia nhập, khả năng tài  
chính của DN. Nhóm điều kiện khởi sự kinh doanh có ảnh hưởng và khả năng quyết  
định đến sự thành công của doanh nghiệp mới ít hơn là nhóm các yếu tố như khả năng  
liên minh giữa doanh nghiệp với đối tác, cơ sở hạ tầng, quy mô nhóm các nhà khởi  
sự kinh doanh, văn hóa xã hội, … Trên cơ sở nghiên cứu này, các doanh nghiệp sẽ  
biết mình cần làm gì để cạnh tranh khi mới bắt đầu, mình còn thiếu và yếu những  
điều kiện nào, từ đó giúp các cá nhân/ nhóm người khởi sự kinh doanh cũng như  
doanh nghiệp mới nâng cao khả năng thành công trong khởi sự kinh doanh của mình.  
6. Công bố khoa học của người thực hiện  
viii  
02 bài báo đăng hội thảo quốc gia (gồm 01 bài của chủ nhiệm đề tài và 01  
bài của thành viên tham gia)  
Ngày tháng năm 2019  
Người thực hiện  
Trịnh Thị Nhuần  
Nguyễn Thị Thanh Tâm  
ix  
CHƯƠNG MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài  
Khởi sự kinh doanh đang là chủ đề thời sự, nhận được sự quan tâm rộng rãi  
trong xã hội Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới. Các doanh nghiệp khởi  
sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước, tạo công ăn việc làm, phát  
huy nguồn nội lực và sức sáng tạo của mỗi người. Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã  
và đang đề ra nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ, khuyến khích tinh thần đổi mới sáng  
tạo, khởi nghiệp của các cá nhân, nhất là các bạn trẻ. Với sự lựa chọn cho mình con  
đường lập thân, lập nghiệp, hoặc là đi “làm thuê”, hoặc là bản thân mình “làm chủ”?  
Với sự lựa chọn muốn “làm chủ”, khi bắt đầu khởi sự công việc kinh doanh của mình,  
họ sẽ đứng trước nhiều câu hỏi. Làm thế nào để hiện thực hóa ý tưởng, làm thế nào  
để huy động các nguồn lực, khởi động và điều hành hoạt động kinh doanh mới… Đặc  
biệt, đâu là các yếu tố, các điều kiện cần thiết để khởi sự kinh doanh thành công, ngay  
từ những giai đoạn đầu hình thành ý tưởng đến khi đưa doanh nghiệp vào hoạt động  
và để doanh nghiệp hoạt động thành công trên thị trường vẫn là những câu hỏi lớn  
đặt ra đối với các cá nhân, tổ chức.  
Trên thực tế hiện nay tại Việt Nam cho thấy, số lượng người khởi sự kinh  
doanh hàng năm rất lớn, nhưng số lượng thành công thì chỉ là một phần nhỏ hoặc  
thậm chí rất nhỏ. Bên cạnh đó không ít những doanh nghiệp khởi sự kinh doanh thất  
bại. Theo số liệu thống kê của Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp trẻ Việt Nam, 50% số  
công ty mới thành lập ở Việt Nam không thể tồn tại quá 5 năm. So sánh với một số  
nước khác trên thế giới như tại nước Anh, tỷ lệ doanh nghiệp tồn tại sau 3-5 năm là  
70%, còn tại Mỹ thì tỷ lệ DN tồn tại sau 5 năm hoạt động là dưới 50%. Khi tìm hiểu  
về những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các doanh nghiệp khởi sự, một trong  
những lý do chủ yếu là các điều kiện khởi sự kinh doanh chưa đảm bảo kể cả các điều  
kiện bên ngoài doanh nghiệp; lẫn các điều kiện bên trong doanh nghiệp chẳng hạn  
như các điều kiện về pháp lý, điều kiện về vốn, điều kiện về nhân lực và cả những  
yếu tố thuộc về cá nhân người khởi sự kinh doanh… Và đặc biệt khởi sự kinh doanh  
thất bại cũng là do người khởi sự kinh doanh đã không đánh giá đúng những gì họ  
cần học, thiếu kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết . Đây thực sự là thách thức  
lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn khởi sự kinh doanh hiện nay.  
Chưa kể, sau khi ý tưởng được hiện thực hóa thành một doanh nghiệp cụ thể, những  
người khởi sự kinh doanh mới thực sự thấy nhiều khó khăn chồng chất.  
Việc nghiên cứu lý thuyết về điều kiện khi khởi sự kinh doanh của doanh  
nghiệp mới thành lập hiện nay còn rất hạn chế, tuy đã được ít nhiều các tài liệu nghiên  
cứu, nhưng đa phần các tài liệu chưa chỉ ra được một cách có hệ thống các điều kiện  
1
   
cần thiết khi khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập. Đồng thời, cũng  
chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về điều kiện khởi sự kinh doanh của các  
doanh nghiệp nói chung, của doanh nghiệp mới thành lập ở Việt Nam nói riêng.  
Tại Trường Đại học Thương mại, Khởi sự kinh doanh là một trong những học  
phần chuyên ngành quan trọng được Nhà trường phân công cho bộ môn Quản trị tác  
nghiệp kinh doanh giảng dạy từ năm học 2017 – 2018. Tuy nhiên, cũng giống như  
các tài liệu trong và ngoài nước hiện nay, tài liệu giảng dạy học phần Khởi sự kinh  
doanh của bộ môn vẫn chưa hoàn thiện. Riêng nội dung về các điều kiện khởi sự kinh  
doanh của doanh nghiệp mới thành lập chỉ được đề cập đến ở mức rất khái quát và  
chưa có tính hệ thống cao. Để đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà  
trường cũng đã có quyết định giao cho Bộ môn trong việc biên soạn giáo trình học  
phần này và hiện đang được bộ môn triển khai trong năm học giai đoạn 2018-2020.  
Vì vậy, đóng góp cho việc biên soạn giáo trình học phần Khởi sự kinh doanh trong  
thời gian tới, công tác nghiên cứu về khởi sự kinh doanh nói chung, các điều kiện  
khởi sự kinh doanh nói riêng là điều rất cần thiết. Được bộ môn phân công nghiên  
cứu và viết một số nội dung liên quan đến học phần này, trong đó có nội dung nghiên  
cứu về “điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập”. Tác giả  
sẽ tiến hành nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về điều kiện khởi sự kinh doanh của  
các doanh nghiệp mới thành lập và nghiên cứu thực trạng tại một số doanh nghiệp  
mới thành lập ở Việt Nam để nhằm cung cấp rõ hơn về lý thuyết cũng như thực tiễn.  
Với mục tiêu phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình giảng dạy học  
phần Khởi sự kinh doanh trong thời gian tới cùng với mong muốn hỗ trợ các doanh  
nghiệp trong việc khởi sự kinh doanh thành công, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên  
cứu điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập” là đề tài nghiên  
cứu khoa học cấp Trường.  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu  
2.1. Trong nước  
Hiện nay, trong nước có khá nhiều tài liệu và các công trình nghiên cứu về  
khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh. Các tài liệu và công trình nghiên cứu đó được xoay  
quanh các vấn đề chính như tinh thần khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, quá trình khởi  
nghiệp, ý định khởi sự kinh doanh… Về điều kiện khởi sự kinh doanh, các tài liệu đó  
cũng đã ít nhiều có đề cập đến các điều kiện khác nhau, bao gồm các điều kiện về bản  
thân người khởi sự kinh doanh, điều kiện nền tảng về vốn, pháp lý, nhân lực, cơ sở  
vật chất trang thiết bị… Nhưng nhìn chung, các tài liệu và công trình này đưa ra còn  
chưa mang tính hệ thống, chưa khoa học và chưa thực sự chi tiết về các điều kiện  
khởi sự kinh doanh. Cụ thể:  
2
   
Trong tài liệu của tác giả Nguyễn Ngọc Huyền Và Ngô Thị Việt Nga (2016) đã  
cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về nghề kinh doanh, khởi sự kinh doanh,  
tư duy khởi sự kinh doanh, phương thức, quy trình, chiến lược khởi sự kinh doanh.  
Trong đó, nội dung các điều kiện khởi sự kinh doanh được tác giả đề cập đến theo  
các nội dung bao gồm: các điều kiện cần thiết để trở thành chủ DN (tư chất của một  
doanh nhân sẽ “thành đạt”, đến chuẩn bị các điều kiện về kiến thức, điều kiện về tố  
chất….), các điều kiện về nguồn lực cần thiết cho doanh nghiệp mới như điều kiện  
về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất trang thiết bị, điều kiện về tài chính cho việc tạo  
lập và duy trì doanh nghiệp mới… Để đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho doanh  
nghiệp mới, theo nhóm tác giả việc lựa chọn nhóm các nhà quản trị để khởi sự kinh  
doanh là nhiệm vụ quan trọng nhất khi thành lập doanh nghiệp mới. Tiếp đó là các  
vấn đề liên quan đến tuyển chọn nhân lực, huy động vốn, mua sắm tài sản phương  
tiện và trang thiết bị văn phòng. Điều kiện về tài chính cần thiết, các yếu tố liên quan  
đến marketing như chọn thị trường mục tiêu, xác định vị thế của doanh nghiệp, xác  
định đối tượng khách hàng, xây dựng nhãn hiệu, marketing hỗn hợp cho doanh nghiệp  
mới, quá trình bán hàng… Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến khía cạnh để tạo dựng  
nền tảng cho một doanh nghiệp phát triển lâu dài, ổn định, bền vững ngay từ giai đoạn  
đầu khi thành lập chủ DN đã phải thực hiện các công việc thiết lập quan hệ với các  
đối tác chiến lược, bạn hàng, khách hàng, thiết lập các quan hệ nội bộ doanh nghiệp,  
với các cơ quan quản lý vĩ mô và thực thi chiến lược phát triển thích hợp lâu dài.  
Quy trình khởi sự kinh doanh được trình bày cụ thể bao gồm các bước từ khi  
hình thành, đánh giá và lựa chọn ý tưởng, đến khi lập kế hoạch kinh doanh và triển  
khai hoạt động kinh doanh mới. Như vậy, đây là tài liệu rất hữu ích cung cấp cho độc  
giả những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất về khởi sự kinh doanh và điều kiện khởi  
sự kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tài liệu chưa nhấn mạnh được đâu là  
điều kiện có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến sự thành công của doanh nghiệp mới  
khởi sự, đâu là điều kiện quyết định sự thành công của cá nhân người khởi sự kinh  
doanh.  
Theo GEM (2018): (GEM được triển khai lần đầu vào năm 1999 với sự tham  
gia của 10 nước phát triển, trong đó có 7 nước thuộc nhóm G7 là Canada, Pháp, Đức,  
Ý, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ và ba nước khác là Đan Mạch, Phần Lan  
và Israel. Từ chỗ chỉ 10 quốc gia phát triển tham nghiên cứu chỉ số GEM trong năm  
đầu tiên, sau 19 năm triển khai, nghiên cứu GEM đã được thực hiện ở trên 100 nước  
và trở thành nghiên cứu có quy mô lớn nhất về kinh doanh trên toàn cầu. Với phương  
pháp nghiên cứu thống nhất được điều hành bởi các nhà nghiên cứu kinh tế hàng đầu  
của Hiệp hội các nhà nghiên cứu kinh doanh toàn cầu (Global Entrepreneurship  
3
Research Association - GERA2 ), GEM có thể thu thập được bộ cơ sở dữ liệu đồng  
bộ tại quốc gia thành viên, từ đó có thể giúp so sánh sự phát triển kinh doanh và các  
yếu tố tác động đến sự phát triển kinh doanh giữa các quốc gia, giữa các khu vực một  
cách chính xác và đề xuất các chính sách giúp nâng cao sự phát triển kinh doanh tại  
các quốc gia). Mối quan tâm chính của GEM là hoạt động thành lập doanh nghiệp  
mới, bao gồm những doanh nghiệp đang được thành lập hoặc mới hoạt động được  
dưới 3,5 năm. Kết quả nghiên cứu của GEM trong báo cáo chỉ số khởi nghiệp của  
Việt Nam xuất bản năm 2018, là một trong những tài liệu chỉ ra rất cụ thể về các chỉ  
số khởi nghiệp của Việt Nam, cơ hội, tiềm năng khởi nghiệp ĐMST, hoạt động khởi  
sự kinh doanh tại Việt Nam năm 2018, triển vọng kinh doanh ở Việt Nam năm 2018.  
Khi đề cập đến các điều kiện để hỗ trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và khởi sự  
kinh doanh tại Việt Nam, tài liệu đã đưa ra phân tích dựa trên hệ sinh thái khởi nghiệp,  
trong đó làm rõ các điều kiện kinh doanh tác động đến doanh nghiệp khởi sự kinh  
doanh. Các điều kiện kinh doanh chính được sử dụng trong báo cáo bao gồm: năng  
lực của thị trường nội địa, văn hóa và chuẩn mực xã hội, chính sách chính phủ, cơ sở  
hạ tầng, Quy định chính phủ, độ mở cửa của thị trường nội địa, chuyển giao công  
nghệ, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, giáo dục kinh doanh bậc phổ thông, giáo dục kinh  
doanh sau phổ thông, chương trình hỗ trợ chính phủ, tài chính cho kinh doanh…  
Ngoài ra, báo cáo cũng đánh giá về các yếu tố điều kiện kinh doanh của Việt Nam so  
với các nước khác trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, báo cáo là những thông tin  
đánh giá chung toàn cảnh về các điều kiện kinh doanh của Việt Nam nói chung, chưa  
có những phân tích chi tiết về từng điều kiện này đối với góc độ người khởi sự kinh  
doanh, các doanh nghiệp mới thành lập một cách cụ thể.  
Trong cuốn “Cẩm nang hiểu biết về kinh doanh”, của tác giả Trần Văn Trang  
[7] có đề cập đến các nội dung cơ bản về khởi sự kinh doanh như những hiểu biết cơ  
bản về kinh doanh và khởi sự kinh doanh; quá trình khởi sự kinh doanh; những điều  
cần thiết để điều hành doanh nghiệp mới thành lập thành công… Đồng thời, khi khởi  
sự kinh doanh tác giả có nhấn mạnh đến các yếu tố đảm bảo thành công trong công  
việc kinh doanh; đánh giá các điều kiện và yếu tố trước khi quyết định trở thành chủ  
doanh nghiệp như tính cách và điều kiện cá nhân, năng lực quản trị. Các điều kiện đó  
bao gồm: quyết tâm, động cơ, thành thật, sức khoẻ, chấp nhận rủi ro, quyết đoán, điều  
kiện gia đình, tình hình tài chính, tay nghề kỹ thuật, năng lực quản trị. Tài liệu cũng  
đánh giá về các điều kiện nguồn lực để điều hành doanh nghiệp mới bao gồm: nguồn  
nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực thiết bị, nguồn lực vật liệu, các kỹ năng quản  
lý.  
4
Kế thừa một số nghiên cứu từ nước ngoài, trong nghiên cứu gần đây của tác  
giả Nguyễn Quang Vĩnh, Trần Văn Trang (2018), nhóm nghiên cứu đã sử dụng  
phương pháp AHP (FAHP) nhằm xếp hạng thứ tự các yếu tố chủ yếu dẫn đến thành  
công trong khởi nghiệp sáng tạo. Nhóm 1 là các yếu tố thuộc về doanh nhân - cá nhân  
hoặc nhóm khởi nghiệp/sáng lập doanh nghiệp. Nhóm này đề cập tới các đặc điểm cá  
nhân của người/nhóm khởi nghiệp bao gồm kinh nghiệm làm việc trong ngành; kinh  
nghiệm khởi nghiệp trước đó; trình độ đào tạo; kinh nghiệm quản lý, khả năng lãnh  
đạo; động cơ khởi nghiệp. Nhóm 2 là các yếu tố thuộc về doanh nghiệp, đề cập tới  
các đặc điểm của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như quy mô nhóm khởi nghiệp;  
vị trí khởi nghiệp; liên minh và đối tác của doanh nghiệp khởi nghiệp. Nhóm 3 là các  
yếu tố thuộc về môi trường, đây là các yếu tố bên ngoài như hỗ trợ từ chính phủ, quỹ  
đầu tư mạo hiểm, mức độ cạnh tranh và chính sách về khoa học và công nghệ. Nhóm  
4 là các yếu tố liên quan tới sản phẩm và thị trường bao gồm mức độ đổi mới của sản  
phẩm; công nghệ của sản phẩm; tiềm năng chưa khai thác của thị trường; tốc độ tăng  
trưởng của thị trường. Kết quả đã chỉ ra động lực khởi nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất  
đến sự thành công của khởi nghiệp sáng tạo, xếp thứ 2 và thứ 3 là kinh nghiệm trong  
ngành và trình độ đào tạo. Vị trí thứ tư là kinh nghiệm về quản trị, thứ 5 là khả năng  
lãnh đạo. Xếp thứ 6 thuộc về mức độ đổi mới của sản phẩm... Các nhân tố ít có ảnh  
hưởng thấp nhất thuộc về Quy mô nhóm khởi nghiệp và Liên minh. Tuy nhiên nghiên  
cứu chưa cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các chỉ báo liên quan đến doanh nghiệp  
mặc dù trong các nghiên cứu trước đây một số nhà khoa học đã chứng minh mức độ  
ảnh hưởng của các nhân tố này. Hạn chế chính của nghiên cứu này là dừng lại ở mức  
khám phá với số lượng mẫu nghiên cứu nhỏ. Hơn nữa khái niệm “khởi nghiệp thành  
công” trong khảo sát chưa được giải thích một cách cặn kẽ và thống nhất cách hiểu  
giữa những chuyên gia tham gia khảo sát. Thực tế, người trả lời có thể hiểu thành  
công trong khởi nghiệp theo những cách rất khác nhau.  
Bộ sách của ILO cũng hướng dẫn người đọc lý thuyết cơ bản về khởi sự doanh  
nghiệp như đánh giá ý tưởng kinh doanh, đánh giá thị trường, lên kế hoạch về tổ chức  
nhân sự, ước tính vốn khởi sự [9], kinh nghiệm để có thể tự đánh giá bản thân với tư  
cách là người khởi sự kinh doanh [10]. Trong đó, yếu tố nền tảng khi khởi sự doanh  
nghiệp được tài liệu đề cập đến dựa trên phân tích các điều kiện cần có để khởi sự đó  
là các yếu tố thuộc về bản thân - với tư cách là người chủ doanh nghiệp bao gồm các  
yếu tố như: quyết tâm, động cơ, chữ tín, sức khỏe, chấp nhận rủi ro, ra quyết định,  
điều kiện gia đình, tay nghề kỹ thuật, kỹ năng quản lý kinh doanh, kiến thức về ngành  
kinh doanh.  
5
Trong những nghiên cứu của các tác giả khác như Hồ Sỹ Hùng [4], Bích Hạnh  
[1], Hoàng Văn Hoa [2], Lê Văn Nam [6] chủ yếu nghiên cứu về môi trường và chính  
sách hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam như môi trường đầu tư, pháp luật liên quan đến  
kinh doanh; mối liên kết giữa Trung tâm, viện nghiên cứu, trường đại học, chính  
quyền và các doanh nghiệp khởi sự trong hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam.  
Ngoài ra, theo báo cáo của Mekong Business Initiative trong tài liệu “Thông  
lệ quốc tế tốt về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp”[11], hệ sinh thái khởi nghiệp được  
đề cập đến và phân tích khá chi tiết. Theo tài liệu này, các điều kiện cần thiết để doanh  
nghiệp khởi nghiệp thành công bao gồm: doanh nghiệp khởi nghiệp cần một ý tưởng  
và tầm nhìn rõ ràng; doanh nghiệp khởi nghiệp cần kiểm nghiệm sản phẩm và dịch  
vụ của mình ra thị trường; doanh nghiệp khởi nghiệp cần mở rộng thị trường sau khi  
sản phẩm của mình được tung ra thị trường và có khách hàng; và để phát triển cần  
phải có nhiều nguồn lực khác nhau nhất là nguồn vốn….  
Như vậy, qua các tài liệu đã đề cập trên đây, có thể thấy đã có sự nghiên cứu  
của nhiều tác giả, nhóm tác giả về khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh nói chung, các  
điều kiện khởi sự kinh doanh nói riêng. Mỗi tài liệu có những quan điểm tiếp cận và  
hướng nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, đối với việc nghiên cứu về điều kiện khởi  
sự kinh doanh , các tài liệu nghiên cứu còn chưa mang tính hệ thống và chưa bài bản,  
chủ yếu là những lý thuyết mang tính cẩm nang, chắc chắn sẽ còn nhiều khoảng trống  
cần khai thác và hoàn thiện.  
Danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích  
dẫn khi đánh giá tổng quan bao gồm:  
1. Bích Hạnh (2009), Thành lập doanh nghiệp và kinh doanh tại Việt Nam  
(Setting up enterprise and doing business in Vietnam)  
2. Hoàng Văn Hoa (2010), Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong giai  
đoạn 2011-2020  
3. Lương Minh Huân (2015), Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam  
2015/2016, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), NXB Giao Thông  
Vận Tải  
4. Hồ Sỹ Hùng (2010), chủ đề “Vườn ươm doanh nghiệp” (Business  
incubator)  
5. Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Việt Nga (2016), “Giáo trình khởi sự kinh  
doanh”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân.  
6. Lê Văn Nam (2012), Chuyên đề “Kiến thức và kỹ năng cần thiết để thành  
lập doanh nghiệp”  
6
7. Trần Văn Trang (2016), Cẩm nang hiểu biết về kinh doanh, Phòng Thương  
mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)  
8. Nguyễn Quang Vĩnh, Trần Văn Trang (2018), Ứng dụng phương pháp AHP  
mờ (FAHP) trong xếp hạng thứ tự các yếu tố chủ yếu dẫn đến sự thành công trong  
khởi nghiệp sáng tạo, “Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Khởi nghiệp và đổi mới  
trong kinh doanh”, trường Đại học Thương Mại.  
9. ILO (2000), Nhận thức về kinh doanh và khởi nghiệp, Chương trình khởi  
sự doanh nghiệp và tăng cường khả năng kinh doanh ở Việt Nam.  
10.  
ILO (2000), Lập kế hoạch kinh doanh, Chương trình khởi sự doanh  
nghiệp và tăng cường khả năng kinh doanh ở Việt Nam.  
11.  
Mekong Business Initiative, Thông lệ quốc tế tốt về hỗ trợ hệ sinh thái  
khởi nghiệp.  
2.2. Ngoài nước  
Các yếu tố thành công chính (Key success factors - KSFs) đề cập tới các yếu  
tố chính giúp cho các dự án khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp mới khởi sự thành công.  
Nhiều yếu tố khác nhau được đề cập và chứng minh trong các nghiên cứu thực  
nghiệm. Josꢀ Santisteban và David Mauricio (2017) đã tiến hành hệ thống hoá các  
yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở tổng hợp  
1.013 bài báo và 74 nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra 21 yếu tố thành công quan  
trọng. Các yếu tố này được xếp thành 3 nhóm chính liên quan tới doanh nhân, doanh  
nghiệp khởi nghiệp và môi trường bên ngoài và các yếu tố khác.  
Doanh nghiệp mới thành lập là một chủ thể hoạt động trong hệ sinh thái khởi  
nghiệp, bởi hoạt động của nó đều chịu sự ảnh hưởng từ hoạt động của các bộ phận  
cấu thành nên hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia. Do đó, khi xem xꢀt các điều kiện  
khởi sự kinh doanh, chúng ta cũng cần xem xꢀt đến bối cảnh đặt nó trong HST khởi  
nghiệp. Theo quan điểm của OECD: Định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp như là “tổng  
hợp các mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa các chủ thể khởi nghiệp (tiềm  
năng hoặc hiện tại), tổ chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư  
thiên thần, hệ thống ngân hàng,…) và các cơ quan liên quan (trường đại học, các cơ  
quan nhà nước, các quỹ đầu tư công,…) và tiến trình khởi nghiệp (tỉ lệ thành lập  
doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng tốt, số lượng các nhà khởi  
nghiệp,…) tác động trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp tại địa phương”. Một hệ  
sinh thái khởi nghiệp được hình thành bởi con người, startup trong các giai đoạn và  
các loại hình tổ chức khác nhau tại cùng một địa điểm (địa điểm vật lý hoặc địa điểm  
ảo), tương tác như một hệ thống để xây dựng nên những công ty khởi nghiệp. Các tổ  
chức này có thể được chia thành nhiều loại: các trường đại học, các tổ chức tài trợ,  
7
 
các tổ chức hỗ trợ (như vườn tự ươm, bộ máy gia tốc, không gian làm việc chung),  
các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức cung cấp dịch vụ (như dịch vụ tài chính, pháp lý)  
và tập đoàn lớn. Các tổ chức khác nhau thường tập trung vào các phần khác nhau  
trong các giai đoạn phát triển cụ thể của chức năng của hệ sinh thái và hệ sinh thái  
khởi nghiệp. Dễ nhận thấy hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ bao gồm các yếu tố khác nhau  
tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, giáo dục,…của từng địa phương. Isenberg  
(2014) cũng đã khẳng định rằng sẽ là sai lầm nếu tạo ra một bản copy của “Silicon  
Valley” bởi những khác biệt cốt lõi của Mỹ so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, về  
cơ bản, ta có thể khái quát các yếu tố cấu thành một hệ sinh thái khởi nghiệp theo  
định nghĩa của World Economic Forum (2012), gồm 8 yếu tố như sau: Thị trường;  
Nguồn nhân lực; Nguồn vốn và tài chính; Hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp (mentors,  
advisors,…); Khung pháp lý và cơ sở hạ tầng; Giáo dục và Đào tạo; Các trường đại  
học, học viện; Văn hóa quốc gia.  
Theo J. Robert Baum và công sự (2001) nghiên cứu sự ảnh hưởng của ba nhóm  
chính bao gồm: các yếu tố thuộc về bản thân người doanh nhân (hoặc người chủ doanh  
nghiệp) gồm tố chất cá nhân- kỹ năng- động lực (personal factors); các yếu tố thuộc về  
tổ chức (organizational factors); các yếu tố thuộc về môi trường (environmental factors)  
tác động như thế nào đến sự phát triển cũng như thách thức của hoạt động đầu tư kinh  
doanh mới. Có ba biến trong yếu tố môi trường bao gồm tính năng động; sự phức tạp;  
sự đa dạng; 4 biến quản trị chiến lược trong yếu tố tổ chức gồm chiến lược tập trung hóa;  
chiến lược chi phí thấp; đổi mới; và chiến lược khác biệt về chất lượng; và có 10 đặc  
điểm cá nhân để kiểm chứng yếu tố thuộc về người sáng lập như: thiết lập mục tiêu, tầm  
nhìn, niềm đam mê, kỹ năng quản lý nguồn lực mới, sự kiên trì, tự tin vào năng lực của  
bản thân, độ tuổi, khả năng kiểm soát....  
Bên cạnh đó, ở góc độ phân tích của khởi nghiệp đổi mới - sáng tạo, theo  
Magnus Klofsten (2003), có 8 yếu tố quan trọng không thể thiếu hỗ trợ nền tảng kinh  
doanh (business platform) của một doanh nghiệp khởi nghiệp, cần thiết cho công ty  
đó tiếp tục phát triển, có lợi nhuận và ổn định. Các nền tảng đó được xác định bởi: ý  
tưởng (idea), sản phẩm (product), tiếp thị (market), chuyên môn của chủ doanh  
nghiệp (the Expertise) (người sáng lập hoặc người điều hành), động cơ thúc đẩy  
(motivation); quan hệ khách hàng (the Customer relations), cơ cấu tổ chức (the  
Organizational Development) và quan hệ với các đối tác khác.  
Với mô hình được coi là tiêu chuẩn (Bygrave 1994, 10-11, Ripsas 1997), mô  
hình của Timmons (1994) tóm tắt các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến một doanh  
nghiệp khởi nghiệp trong những năm đầu gồm ba nhóm chính đó là yếu tố con người  
(bao gồm cả những người sáng lập, đội ngũ quản trị); ý tưởng (khai thác và phát triển  
8
các cơ hội thị trường); các tài nguyên (quan trọng cho việc thiết lập và phát triển  
doanh nghiệp).  
Cũng tương tự như vậy, các yếu tố chính tạo nên sự thành công của doanh  
nghiệp khởi nghiệp được tác giả Bertrand Brillois (2000) kiểm định thông qua nghiên  
cứu thực tiễn tại một số doanh nghiệp khởi nghiệp thành công đó là: xây dựng và  
làm rõ ý tưởng; tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường; cơ cấu tổ chức;  
giá trị cốt lõi; sự cam kết; mối quan hệ với khách hàng; mối quan hệ với các đối tác  
khác,.... Ngoài ra, một số nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ cũng là những tài liệu cần  
thiết có liên quan tới nội dung nghiên cứu của bài viết. Điển hình, có thể ứng dụng  
kết quả nghiên cứu của Bolton 1971, được đề cập đến bao gồm các vấn đề mà doanh  
nghiệp nhỏ cần xác định để thành công như: các vấn đề quản trị tài chính; quản trị và  
kiểm soát thông tin; tổ chức và phân quyền; marketing; quản trị hệ thống thông tin;  
quản trị nhân sự; quản trị công nghệ; lập kế hoạch sản xuất và quản trị mua hàng.  
Trong số các yếu tố nội tại doanh nghiệp, vốn được đánh giá có ảnh hưởng  
quyết định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới khởi nghiệp về quy mô  
và năng lực kinh doanh (Lussier và Halabi, 2010). Cụ thể, vốn tác động đến các quyết  
định về đầu tư, mua sắm tài sản, từ đó ảnh hưởng đến quy mô vốn từ các tổ chức tín  
dụng. Doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm lực mạnh về tài chính sẽ có điều kiện thuận  
lợi để đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh  
và cơ hội phát triển trên thị trường.  
Mặt khác, nguồn nhân lực và phương pháp quản trị nhân lực được coi là nhân  
tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho mọi doanh nghiệp (Benzing, 2008). Doanh nghiệp với  
đội ngũ quản lý có kinh nghiệm và năng lực quản lý tốt cùng với đội ngũ nhân viên  
có trình độ và khả năng sáng tạo sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong  
quá trình phát triển.  
Chính sách marketing và bán hàng quyết định sự thành công đảm bảo doanh  
thu cho doanh nghiệp, cũng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại, phát triển bền vững  
của doanh nghiệp khởi nghiệp. Sản phẩm của doanh nghiệp dù có tốt nhưng chính  
sách marketing và bán hàng không được chú trọng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu  
quả kinh doanh, đặc biệt trong thời đại công nghệ số phát triển như hiện nay (Parker,  
2004).  
Muốn đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp trong giai đoạn khởi nghiệp,  
sản phẩm của doanh nghiệp cần được thường xuyên thay đổi theo nhu cầu xã hội,  
đồng thời cũng cần tạo ra những quy chuẩn mang tính ổn định nhằm định vị khách  
hàng cho doanh nghiệp (Baccohetti và Trovato, 2002).  
9
Yếu tố văn hóa doanh nghiệp tác động tới doanh nghiệp khởi nghiệp được thể  
hiện rõ thông qua việc tạo nên một thương hiệu và điểm nhấn riêng cho doanh nghiệp  
(Marika và Hannu, 2013).  
Trong nghiên cứu Chuthamas C., Aminul I., Thiyada, K., & Dayang, H. M. Y.  
(2011) tác giả chỉ xem xét nghiên cứu dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến thành công  
trong kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thái Lan thông qua việc nghiên  
cứu đã kiểm định sự ảnh hưởng của 8 yếu tố là: lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp  
nhỏ và vừa (SMEs) (Kristiansen, Furuholt, & Wahid; 2003), quản trị và bí quyết  
(Swierczek & Ha, 2003), sản phẩm- dịch vụ (Wiklund 1998; và Hitt & Ireland 2000);  
khách hàng- thị trường (William, James & Susan; 2005); cách thức kinh doanh và  
hợp tác (Hitt & Ireland 2000; và Jarillo 1988); tài nguyên/ nguồn lực - tài chính  
(Swierczek & Ha, 2003; và Kristiansen, Furuholt & Wahid, 2003); chiến lược  
(McMahon, 2001) và môi trường bên ngoài (Huggins, 2000; và Nurul Indarti & Marja  
Langenberg, 2005). Kết quả kiểm định thông qua phân tích SPSS đã cho ra kết quả  
các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp vừa  
và nhỏ ở Thái Lan là lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; khách hàng  
và thị trường; cách thức kinh doanh; tài nguyên (nguồn lực) và tài chính, môi trường  
bên ngoài. Để thành công, sản phẩm đòi hỏi sự sáng tạo, đòi hỏi sự đổi mới về sản  
phẩm, chất lượng, chi phí, độ tin cậy và dịch vụ là chìa khóa trong chiến lược cạnh  
tranh thành công của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thái Lan. Sản phẩm đòi hỏi  
phải sáng tạo, có chất lượng, nhưng sự cân bằng giữa chất lượng và chi phí là yếu tố  
cần xác định phù hợp. Các tài nguyên được đề cập đến gồm tài nguyên cơ sở vật chất  
kỹ thuật, tài chính, thông tin, xã hội và kiến thức có thể được sử dụng và ảnh hưởng  
mạnh mẽ trong quá trình thiết lập và vận hành doanh nghiệp mới tại Úc (Davidsson,  
P., & Gordon, S. R (2013)). Hay nói cách khác, tổng nguồn lực sẵn có cho công ty  
được phân loại thành bốn loại: vốn nhân lực, vốn xã hội, vốn tài chính, và lợi thế về  
tài nguyên. Vốn nhân lực đề cập đến kiến thức mà một nhóm sáng lập có thể mang  
lại để tạo ra liên doanh mới. Vốn xã hội đề cập đến các nguồn lực khác nhau được  
liên kết thông qua những người khác, tìm hiểu, khai thác thông tin và kết hợp với  
những người khác.Vấn đề then chốt là vốn xã hội mang lại lợi ích vì nó cho phép  
những người sáng lập có cơ sở vững chắc để tiếp cận nhiều thông tin hơn trong việc  
đưa ra quyết định của họ và cho phép tiếp cận những lợi ích khác mà họ không có.  
Vốn tài chính đề cập đến số tiền và nguồn vốn huy động có thể có cho những người  
sáng lập công ty để đầu tư vào liên doanh của họ. Báo cáo chỉ ra nguồn nhân lực của  
doanh nghiệp được xem xét trên khía cạnh kinh nghiệm, giáo dục đào tạo, và kỹ năng.  
Kinh nghiệm là điều quan trọng cho việc tạo ra và duy trì liên doanh mới (new  
10  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 114 trang yennguyen 22940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Nghiên cứu điều kiện khởi sự kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_nghien_cuu_dieu_kien_khoi_su_kinh_doanh_cua_d.pdf