Báo cáo Đề tài Lao động cưỡng bức theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
------------o0o------------  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG  
Lao động cưỡng bức theo quy định của pháp luật lao động  
Việt Nam – Thực trạng và giải pháp  
Chủ nhiệm đề tài: Đinh Thị Thanh Thủy  
Hà Nội, năm 2017  
MỤC LỤC  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
ADB:  
Ngân hàng Phát triển Châu Á  
Bộ luật Lao động  
BLLĐ:  
BLDS:  
BLHS:  
Bộ luật Dân sự  
Bộ luật Hình sự  
Bộ LĐTB&XH: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội  
CAT:  
Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử,  
trừng phạt dã man, vô nhân đạo hay hạ nhục con người  
Công ước quốc tế  
CƯQT:  
HDI:  
Chỉ số phát triển con người  
NLĐ:  
Người lao động  
NSDLĐ:  
LĐCB:  
LDN:  
Người sử dụng lao động  
Lao động cưỡng bức  
Luật Doanh nghiệp  
LHQ:  
Liên Hợp Quốc  
TPP:  
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương  
Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc  
Tuyên ngôn quốc tế/ thế giới về nhân quyền  
Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị  
Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội, Văn  
hóa  
UNDP  
UDHR:  
ICCPR:  
ICESCR:  
ILO:  
Tổ chức Lao động thế giới  
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Sự phát triển kinh tế và hội nhập thế giới đã phát sinh nhiều vấn đề liên  
quan đến các quan hệ lao động, trong đó có lao động cưỡng bức. Lao động  
cưỡng bức là một trong những hình thức lao động tồi tệ nhất, là mặt trái của quá  
trình toàn cầu hóa hiện nay. Lao động cưỡng bức xâm phạm đến quyền tự do lao  
động, tự do thân thể của con người, một trong những nhóm quyền cơ bản được  
pháp luật bảo vệ. Xoá bỏ lao động cưỡng bức là một trong những tiêu chí quan  
trọng để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và đó cũng là một trong những  
tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản được cộng đồng thế giới thừa nhận. Theo  
báo cáo của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) năm 2014, lao động cưỡng bức  
trong khu vực kinh tế tư nhân tạo ra 150 tỷ USD lợi nhuận bất hợp pháp mỗi  
năm trên toàn thế giới, với nguồn thu cao nhất (hơn 1/3 lợi nhuận trên toàn cầu)  
đến từ khu vực châu Á - Thái Bình Dương; toàn thế giới có khoảng 20,9 triệu  
người đang là nạn nhân của lao động cưỡng bức, trong đó 9,8 triệu người bị tư  
nhân bóc lột với hơn 2,4 triệu lao động cưỡng bức là nạn nhân của buôn người1.  
Quan điểm về lao động cưỡng bức và xóa bỏ lao động cưỡng bức đã được  
Đảng và Nhà nước ta thể hiện nhất quán trong các văn bản pháp lý, đặc biệt là  
sau khi nước ta chính thức phê chuẩn Công ước 29 của Tổ chức lao động quốc  
tế (ILO) năm 2007 sau khi trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới  
WTO, đồng thời đang trong lộ trình gia nhập Công ước 105 về xóa bỏ lao động  
cưỡng bức. Chính điều này cũng đặt ra yêu cầu “nội luật hóa” đầy đủ các nội  
dung của Công ước như là nghĩa vụ bắt buộc của một quốc gia thành viên mà  
Việt Nam cũng không ngoại lệ. Hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đến  
lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc của Việt Nam về cơ bản phù hợp và tương  
thích với nội dung của Công ước 29 là nghiêm cấm cưỡng bức lao động dưới  
mọi hình thức. Nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013  
1
1
   
là “công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm  
việc”, “nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động”. Việt Nam đã tiến  
hành những sửa đổi tổng thể pháp luật gốc về lao động, với hai văn bản luật là  
Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012. Cho đến nay, tuy  
chưa có luật riêng về lao động cưỡng bức nhưng các quy định về lao động  
cưỡng bức và xóa bỏ lao động cưỡng bức ở nước ta được nhận diện ở nhiều góc  
độ khác nhau và ghi nhận trong các văn bản pháp luật như Luật nghĩa vụ quân  
sự, Luật phòng chống ma túy, Bộ luật lao động, Bộ luật hình sự…, trong  
các lĩnh vực: lao động trong doanh nghiệp; người mại dâm, người nghiện  
ma túy; người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật bị đưa vào  
trường giáo dưỡng; người thi hành hình phạt tù phải lao động cải tạo và các  
trường hợp khác...  
Bên cạnh những nỗ lực của Việt Nam nhằm thực hiện các cam kết về xóa  
bỏ lao động cưỡng bức, sau gần 10 năm gia nhập Công ước số 29, hệ thống các  
quy định pháp luật lao động điều chỉnh đối với lao động cưỡng bức của nước ta  
hiện nay chưa thực sự đầy đủ, minh bạch. Pháp luật lao động với tư cách là luật  
chuyên ngành đóng vai trò chủ yếu trong điều chỉnh đối với lao động cưỡng bức  
còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Bên cạnh đó, quá trình thiết lập và vận hành  
quan hệ lao động trong cơ chế thị trường đã và đang xuất hiện những biểu hiện  
tinh vi hơn của lao động cưỡng bức, các hành vi cưỡng bức lao động xảy ra khá  
phổ biến, thời gian vừa qua xảy ra nhiều vụ người lao động bị dụ dỗ, ép làm  
thêm giờ, đe dọa đánh đập, mức lương được trả thấp… Bên cạnh đó, hiện nay  
pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về các hình thức của lao động  
cưỡng bức hoặc bắt buộc bị cấm; Còn thiếu các quy định cụ thể về các trường  
hợp không được coi là lao động cưỡng bức. Nhưng quy định này dễ bị phía  
doanh nghiệp lợi dụng để thực hiện hành vi cưỡng bức hoặc bắt buộc người lao  
động làm những công việc họ không mong muốn với mức lương thấp hơn mức  
lương công việc hiện tại. Mặt khác, dù mục tiêu của Công ước 29 và Công ước  
105 của ILO là hướng đến việc xóa bỏ lao động cưỡng bức, nhưng yêu cầu của  
2
mỗi Công ước rất khác nhau. Công ước 29 mà Việt Nam đã tham gia cho phép  
các nước thành viên có một lộ trình phù hợp để tiến tới thực hiện đầy đủ các  
cam kết. Vì vậy, các quốc gia trong thời gian nhất định sẽ được phép tồn tại một  
số dạng lao động như phục vụ lợi ích công cộng. Nhưng đối với Công ước 105  
thì yêu cầu rất lớn là “các quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước 105 phải tìm  
mọi biện pháp để loại bỏ ngay việc sử dụng lao động cưỡng bức… hoặc bắt  
buộc dưới mọi hình thức và cam kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của lao  
động cưỡng bức”.  
Bên cạnh đó, tình hình nghiên cứu về lao động cưỡng bức ở Việt Nam  
hiện nay vẫn còn khá ít ỏi, đặc biệt các nghiên cứu về mặt lý luận đối với  
các hình thức cưỡng bức lao động hoặc bắt buộc lao động, nhận diện được  
hành vi này trên thực tế, thực trạng lao động cưỡng bức hiện nay ở thế giới  
nói chung và Việt Nam nói riêng; thực tiễn áp dụng pháp luật về lao động  
cưỡng bức hiện nay, từ đó có các điều chỉnh pháp lý phù hợp trong bối cảnh  
quan hệ lao động của nền kinh tế thị trường và mang tính đặc thù ở Việt  
Nam. Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài: “Lao động cưỡng bức theo quy  
định của pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” có ý  
nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.  
1.2. Tình hình nghiên cứu:  
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:  
Trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu đa dạng về cưỡng bức lao động,  
lao động bắt buộc, trong đó phải kể đến một số nghiên cứu về LĐCB trong thời  
gian gần đây như:  
- A.C.L. Davies, Cambridge, “Perspectives on Labour law” (2003). Tác  
giả phân tích một số nội dung trong Hiến chương Châu Âu về các quyền cơ bản  
của Liên minh Châu Âu, trong đó có các quy định liên quan đến vấn đề cưỡng  
bức lao động và xóa bỏ cưỡng bức lao động hiện nay tại các quốc gia thuộc Liên  
minh Châu Âu.  
3
   
- John D.R. Craig and S.Michael Lynk,“Globalization and the future of  
labour law” (2006). Tài liệu đề cập đến các vấn đề liên quan đến việc đảm bảo  
quyền cho lao động nữ, đó là: (i) Không bị phân biệt đối xử buộc thôi việc khi  
lao động nữ trong giai đoạn mang thai, bảo đảm quyền cho họ được trở lại làm  
việc và được hưởng mức lương tương đương với vị trí làm việc khi nghỉ sinh;  
(ii) Không được buộc thôi việc khi NLĐ lập gia đình trong quá trình làm việc.  
- Sách “Cân đối hài hòa giữa an ninh và linh hoạt ở các nước mới  
nổi” do ILO và Chính phủ Đan Mạch thực hiện 12/2009. Một trong những nội  
dung của tài liệu khẳng định: (i) Thể chế thị trường lao động phải được xây  
dựng nhằm đảm bảo mức độ linh hoạt tối ưu cho NSDLĐ và sự an ninh cần  
thiết cho NLĐ. Vấn đề cưỡng bức lao động có thể xảy ra trong tất cả quá trình  
lao động và hậu quả cuối cùng có thể là NLĐ bị sa thải, vì vậy hầu hết các nước  
có sự bảo hộ việc làm chặt chẽ làm cho NSDLĐ rất khó có thể sa thải NLĐ  
hoặc phải chi phí tốn kém mới có thể sa thải NLĐ. Tuy nhiên, hiện nay nhiều  
doanh nghiệp sử dụng lao động cũng có nhiều cách để phá vỡ sự bảo hộ việc  
làm này như sử dụng các chính sách điều chỉnh. Chẳng hạn gần đây trong Liên  
minh châu Âu có hiện tượng chung là sa thải NLĐ lớn tuổi (là đối tượng được  
pháp luật lao động bảo vệ rất tốt), thông qua chính sách bảo trợ xã hội; (ii) Bên  
cạnh đó, cũng có nhiều hình thức điều chỉnh khác nữa, chẳng hạn như các đề án  
đào tạo, dự kiến đào tạo cho NLĐ để có công việc khác (ở Pháp mô hình này  
được gọi là chương trình đào tạo chuyển đổi). Một số nước còn trả trợ cấp lương  
cho phần chênh lệch giữa công việc bị mất và công việc mới; Bộ luật Lao động  
ở tất cả các nước phát triển đều có quy định về việc phải thông báo trước cho  
NLĐ khi sa thải, thông báo cho công đoàn và đôi khi là cả chính quyền…  
Như vậy, vai trò quản lý của Nhà nước trong quan hệ lao động vô cùng quan  
trọng, nhằm kiểm soát và xóa bỏ cưỡng bức lao động nhưng cũng phải bảo đảm  
sự linh hoạt trong quản lý và sử dụng lao động của người sử dụng lao động.  
- Report of the Director – general, “A global alliance against forced  
labour: Global report under the follow - up to the ILO declaration on  
4
fundamental principles and rights at work 2005” International Labour office  
Geneva, 2005. Báo cáo đề cập đến các nội dung: khái niệm lao động cưỡng bức,  
phân loại và đo lường lao động cưỡng bức, các hình thức chủ yếu của lao động  
cưỡng bức cũng như đối tượng người lao động bị cưỡng bức theo giới tính và độ  
tuổi. Báo báo cũng nêu lên bức tranh toàn cảnh về vấn đề cưỡng bức lao động  
tại một số quốc gia đang phát triển, trong đó có Myama, khu vực Nam Á, Mỹ  
Latinh, Châu Phi đang phải đối mặt như lao động di cư, bóc lột tình dục…  
Những để xuất được đưa ra nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội và vận  
động các tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể… cùng tham gia nhận diện và xóa  
bỏ lao động cưỡng bức trong quan hệ lao động hiện nay.  
- Kevin Bales, Laurel Fletcher, Eric Stover, “ Forced Labor in the United  
States”, Human Rights Center 2005. Nhóm tác giả đưa ra bức tranh toàn cảnh về  
tính chất cũng như phạm vi cưỡng bức lao động ở Hoa Kỳ trong thời gian từ  
tháng 1 năm 1998 đến năm 2003. Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá toàn diện  
thực trạng vấn đề cưỡng bức lao động trên toàn bộ lãnh thổ của Mỹ (nguyên  
nhân, các số liệu điều tra về nạn nhân đến từ nhiều quốc gia và chủng tộc bị  
cưỡng bức lao động, phản ứng của Chính phủ đối với thực trạng này…). Nhóm  
tác giả cũng đề xuất những cơ chế nhằm bảo vệ quyền lợi và tránh bị cưỡng bức  
lao động với nhóm người lao động nhập cư, lao động da màu, tăng cường các  
công cụ hỗ trợ cả về vật chất và pháp lý của các cơ quan dịch vụ xã hội để bảo  
vệ nhóm người lao động yếu thế.  
- N. Roger Baldwin, “Forced labor: the Communist Betrayal of Human  
Rights”, Adolf A. Berle. - S.l : Oceana Publ, 1953; Richard K Carlton,“Forced  
labor in the "people's democracies" Groundwood Books, 2008…  
1.2.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt nam:  
Cưỡng bức lao động là vấn đề được đề cập trong khá nhiều khóa luận,  
luận văn, luận án, tài liệu, bài viết nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Tuy  
nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu  
khoa học pháp lý chuyên sâu về nội dung này.  
5
 
1.2.2.1. Các tài liệu là giáo trình, bài giảng Luật Lao động của các trường đại  
học có đề cập đến vấn đề lý luận về lao động cưỡng bức, cung cấp các khái  
niệm về lao động cưỡng bức, những hình thức lao động cưỡng bức bị cấm:  
- Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật TP.HCM, Nxb. Đại  
học Quốc gia TP.HCM xuất bản năm 2011 do PGS.TS Trần Hoàng Hải chủ biên  
- Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công  
an nhân dân phát hành 2014 do tác giả Lưu Bình Nhưỡng chủ biên  
- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình chủ nghĩa duy vật  
lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003  
1.2.2.2. Một số luận văn, luận án và công trình nghiên cứu khoa học liên quan:  
- Nguyễn Thị Ngọc Yến, Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về xóa  
bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, Luận văn thạc sĩ luật học, ĐH Quốc gia  
2012. Tác giả đã làm rõ những vấn đề cơ bản về thực trạng lao động cưỡng  
bức cũng như xu hướng, diễn biến của lao động cưỡng bức trên thế giới và ở  
Việt Nam; đi sâu nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia  
trên thế giới và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.  
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm xóa bỏ lao động cưỡng  
bức hoặc bắt buộc.  
- Phạm Trọng Nghĩa, “Thực hiện các Công ước cơ bản của Tổ chức lao  
động quốc tế tại Việt Nam: cơ hội và thách thức”, Nxb chính trị quốc gia, 2014.  
- Nguyễn Việt Cường, 72 vụ án tranh chấp lao động điển hình – tóm tắt  
và bình luận, Nxb Lao động – xã hội, 2004  
- Bộ lao động thương bình và xã hội, Tài liệt tham khảo pháp luật lao  
động nước ngoài, Nxb Lao động xã hội, Hà nội, 2010.  
- Bộ lao động thương bình và xã hội, Một số vấn đề liên quan đến lao  
động cưỡng bức và xóa bỏ lao động cưỡng bức của Bộ Lao động – Thương binh  
và Xã hội, 2007  
1.2.2.3.. Một số tạp chí, Hội thảo khoa học và bài viết liên quan:  
- Phạm Trọng Nghĩa, “Tác động của việc thực hiên các tiêu chuẩn lao động  
quốc tế cơ bản đến khả năng cạnh tranh của quốc gia” tạp chí Nghiên cứu lập  
pháp điện tử, năm 2010  
6
- Hội thảo “Dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện Công ước số 29 về lao  
động cưỡng bức hoặc bắt buộc” trong 2 ngày 1 và 2/02/2007, tại Thành phố Hồ  
Chí Minh, do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao  
động Quốc tế (ILO) tổ chức.  
- Hội thảo "Nâng cao nhận thức về lao động cưỡng bức" được Tổng Liên  
đoàn Lao động Việt Nam và Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại  
phối hợp tổ chức, trong hai ngày 3 và 4/12/2007 tại Hà Nội và ngày 6/12/2007  
tại TP Hồ Chí Minh.  
- Lê Thị Hoài Thu, “Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam”, Tạp chí  
Đại học Quốc gia Hà Nội, kinh tế - luật số 24 (2008).  
- Phan Thanh Huyền, Các kiến nghị sửa đổi Bộ luật lao động năm 1994  
từ việc thực hiện Công ước số 29 của ILO, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Văn  
phòng Quốc Hội số 14/2011  
- Lê Thị Hoài Thu, Những quy định cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế  
về xóa bỏ lao động cưỡng bức (lao động bắt buộc) và các cam kết quốc tế của  
Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12/2012  
- Đào Mộng Điệp, Mai Đăng Lưu, Nội luật hóa quy định của Công ước 29  
về lao động cưỡng bức và bắt buộc năm 1930, Tạp chí Nghề luật số 2/2015  
- Phan Thanh Huyền, Nhận diện về lao động cưỡng bức trong pháp luật  
lao động Việt Nam hiện hành, Tạp chí Dân chủ pháp luật số 5/2016.  
- Các quy định liên quan đến chống LĐCB trong các Công ước và Nghị  
định thư của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó Công ước 29 và Công  
ước 105 là hai văn bản quan trọng của ILO điều chỉnh trực tiếp vấn đề chống  
LĐCB. Theo đó, nội dung các Công ước và các khuyến nghị đều quy định mọi  
thành viên của ILO phải cam kết hủy bỏ việc “sử dụng LĐCB hoặc bắt buộc  
dưới mọi hình thức, trong thời gian ngắn nhất có thể đạt được” (CƯ 29) và “cam  
kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của lao động đó” (CƯ 105). Các quốc  
gia thành viên có nghĩa vụ ngăn chặn việc sử dụng LĐCB hoặc bắt buộc,  
nghiêm khắc và không khoan dung với yêu sách của người sử dụng lao động và  
7
các dạng LĐCB; bãi bỏ các quy định pháp luật của quốc gia hay bất kỳ biện  
pháp hành chính nào có dấu hiệu của LĐCB hoặc Lao động bắt buộc, đó là:  
(i) Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc năm  
1998 của ILO;  
(iii) Công ước số 105 về xóa bỏ LĐCB năm 1957 của ILO  
(ii)Công ước số 29 về LĐCB và bắt buộc năm 1930 của ILO  
(iv) Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp  
năm 1958 của ILO  
(v) Công ước số 182 về việc cấm những hành động tức thời để loại bỏ  
những lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 của ILO  
(vi) Công ước về bảo vệ các quyền của mọi lao động di cư và các thành  
viên gia đình họ năm 1990 của Liên Hiệp Quốc  
(vii) Khuyến nghị số 35 về lao động cưỡng bức gián tiếp năm 1930 của  
ILO và khuyến nghị số 190 về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ  
những lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 của ILOP uật Vấn động cưng bứ  
1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu gồm các vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡng  
bức, về thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật lao động cưỡng bức tại Việt  
Nam hiện nay. Các văn bản pháp luật với tư cách là nguồn điều chỉnh các quan  
hệ này sẽ được nghiên cứu với tư cách là đối tượng chính. Bên cạnh đó, văn bản  
quy phạm pháp luật quốc tế và một số quốc gia cũng được nghiên cứu. Đối  
tượng bị cưỡng bức được nghiên cứu là những NLĐ bị cưỡng bức, bóc lột, đe  
dọa về quyền và lợi ích. Những chủ thể bị áp dụng hình phạt do thực hiện hành  
vi vi phạm pháp luật không được xác định là nạn nhân của lao động cưỡng bức  
đề cập trong nghiên cứu này.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu:  
- Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu vấn đề LĐCB trên phương diện pháp  
lý về mặt lý luận và thực tiễn chủ yếu thuộc lĩnh vực pháp luật lao động, trong  
8
     
đó chủ yếu là BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thực hiện; các quy  
định của pháp luật về LĐCB đối với người lao động trong quan hệ lao động; đối  
với lao động là người nghiện ma túy, người mại dâm, người vi phạm pháp luật  
phải vào trường giáo dưỡng, người bị kết án hình phạt tù phải lao động cải tạo;  
pháp luật về LĐCB đối với lao động trong một số trường hợp khác.  
- Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu các quy định về LĐCB trong các  
văn bản pháp lý về lao động hiện hành của Việt Nam, trọng tâm là BLLĐ năm  
2012 và các văn bản hướng dẫn thực hiện cũng như các cam kết về xóa bỏ  
LĐCB được ghi nhận trong Hiệp định TPP mà Việt Nam chính thức ký kết tham  
gia thành viên tháng 2/2016, đồng thời tác giả có liên hệ với các quy định tương  
đồng trong các Công ước, khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế về xóa bỏ  
LĐCB để làm tài liệu tham khảo cho đề tài của mình.  
1.4. Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu  
1.4.1. Mục tiêu nghiên cứu  
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡng bức.  
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật lao động Việt nam hiện  
hành về lao động cưỡng bức, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá cần thiết sự cần  
thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động về lao động cưỡng bức để tương thích  
với Công ước 29, tiến tới phê chuẩn Công ước 105 của ILO.  
- Đưa ra quan điểm, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các  
quy định của pháp luật về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện nay  
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở của lý luận chủ nghĩa Mác –  
Lên nin về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong sự  
nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng  
XHCN với đặc trưng của quan hệ lao động và thị trường lao động.  
- Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật duy vật lịch sự kết hợp với  
các phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lý, kết hợp  
nghiên cứu lý luận với thực tiễn, bao gồm:  
9
     
Phương pháp tổng hợp được sử dụng trên cơ sở tổng hợp các quy định  
khác nhau về LĐCB, phân loại LĐCB để làm rõ các vấn đề lý luận về  
LĐCB; các quy định về LĐCB của một số quốc gia trên thế giới nhằm  
làm rõ khái niệm pháp luật cũng như nội dung pháp luật về LĐCB trong  
Chương 2.  
Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm so sánh pháp luật về LĐCB của  
một số nước và Việt nam, nghiên cứu đối chiếu các Công ước, tiêu chuẩn  
lao động quốc tế để tham khảo bài học kinh nghiệm về điều chỉnh pháp  
luật theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế và các nước, là cơ sở  
để tác giả đánh giá hạn chế pháp luật hiện hành về LĐCB ở Việt nam tại  
Chương 3.  
Phương pháp phân tích, mô tả được tác giả sử dụng nhằm đánh giá, làm rõ  
thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về LĐCB, từ đó làm cơ sở  
để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về LĐCB ở Việt Nam trong  
giai đoạn hiện nay tại Chương 3,4.  
Trong các phương pháp nói trên, phương pháp phân tích, so sánh sẽ được  
sử dụng chủ yếu và xuyên suốt các chương của nghiên cứu, qua đó làm rõ các  
nội dung cần nghiên cứu có cơ sở lý luận và thực tiễn.  
1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu  
Nghiên cứu nhằm hướng tới sự đánh giá một cách toàn diện những vấn đề  
pháp lý xoay quanh vấn đề LĐCB trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay.  
Bên cạnh đó, nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc ban hành các  
văn bản pháp quy trong lĩnh vực LĐCB cũng như tiến tới hoàn thiện pháp luật  
về chống LĐCB, tạo cơ sở pháp lý cho việc tham gia Công ước 105 của ILO  
trong thời gian tới.  
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng vào công tác giảng dạy trong  
chương trình đào tạo học phần Luật Lao động, Luật lao động và an sinh xã hội  
cũng như cho những người làm công tác xây dựng pháp luật và áp dụng, tư vấn  
pháp luật trong lĩnh vực liên quan.  
10  
 
1.6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên  
cứu gồm 3 chương:  
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI  
CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG  
CƯỠNG BỨC  
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ LAO ĐỘNG  
CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
CHƯƠNG 4. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI  
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG  
BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
KẾT LUẬN  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
11  
 
CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ  
LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC  
2.1. Khái quát chung về lao động cưỡng bức  
2.1.1. Khái niệm lao động cưỡng bức  
Khái niệm lao động cưỡng bức (LĐCB) được định nghĩa lần đầu tiên  
trong Công ước về LĐCB 1930 (Công ước 29). Điều 2.1.1, Công ước 29 định  
nghĩa về LĐCB và bắt buộc như sau: “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một  
người bị ép buộc phải làm dưới sự đe doạ của một hình phạt nào đó và bản thân  
người đó không tự nguyện làm”. Như vậy, theo Công ước 29 thì một hoạt động  
được coi là LĐCB khi thỏa mãn đồng thời cả ba yếu tố sau: (i) Thứ nhất, một  
người thực hiện một công việc hoặc một dịch vụ cho người khác; (ii) Thứ hai,  
người đó không tự nguyện mà bắt buộc phải làm công việc hoặc dịch vụ đó. Sự  
thiếu tự nguyện của người bị cưỡng bức lao động có thể biểu hiện dưới các dạng  
như bị bắt cóc, bị buôn bán, bị cầm tù tại nơi làm việc, bị lừa gạt về điều kiện  
làm việc; (iii) Thứ ba, người thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó bị đe dọa sẽ  
phải chịu một hình phạt nếu không thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó.  
Như vậy yếu tố “ép buộc” và “không tự nguyện” là dấu hiệu cấu thành bắt  
buộc để xác định nạn nhân, đối tượng của LĐCB. Ép buộc là dùng áp lực, gây  
sức ép về thể xác hoặc tinh thần để buộc một người phải làm điều người đó  
không mong muốn. Không tự nguyện là việc một người bản thân không muốn  
làm một việc, nhưng vì lý do nào đó họ miễn cưỡng phải làm. Tác giả cho rằng,  
chỉ cần một trong hai dấu hiệu trên thì đã có thể xem là LĐCB, vì “bị ép buộc”  
và “không tự nguyện” là các khái niệm khác nhau nhưng có chung nội hàm và  
nó được diễn ra trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giao kết hợp đồng.  
Công ước 29 cũng đưa ra một số ngoại lệ về “LĐCB và bắt buộc” tại Điều 2.1.2,  
cụ thể thuật ngữ “LĐCB hoặc bắt buộc” không bao gồm: a) Mọi công việc hoặc  
dịch vụ buộc phải làm theo các đạo luật về nghĩa vụ quân sự bắt buộc và trong  
những công việc có tính chất quân sự thuần túy; việc sử dụng LĐCB trong  
trường hợp này vì mục đích an ninh quốc phòng, ví dụ: đi nghĩa vụ quân sự.  
12  
       
Như vậy, nếu sử dụng vì mục đích kinh tế thì không được chấp nhận; b) Mọi  
công việc hoặc dịch vụ thuộc những nghĩa vụ công dân bình thường của các  
công dân trong một nước tự quản hoàn toàn; c) Mọi công việc hoặc dịch vụ mà  
một người buộc phải làm do một quyết định của tòa án, với điều kiện là công  
việc hoặc dịch vụ đó phải được tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra của  
những cơ quan công quyền, và người đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặt  
dưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân; d) Mọi  
công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm trong những trường hợp khẩn cấp, nghĩa  
là trong những trường hợp có chiến tranh, xảy ra tai họa hoặc có nguy cơ xảy ra  
tai họa như cháy, lụt, đói, động đất, dịch bệnh dữ dội của người và gia súc, sự  
xâm hại của thú vật, côn trùng hoặc ký sinh trùng, và nói chung là mọi tình thế  
gây nguy hiểm cho đời sống hoặc cho sự bình yên của toàn thể hoặc một phần  
dân cư; đ) Những công việc của thôn xã vì lợi ích trực tiếp của tập thể và do  
những thành viên của tập thể đó thực hiện, và vì vậy có thể coi như là những  
nghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điều kiện là  
những thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của họ có  
quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy. Năm  
1957, Công ước 105 về xóa bỏ LĐCB đã thêm vào định nghĩa trước đó ngoại lệ  
hoàn toàn mới là “LĐCB và bắt buộc” không bao gồm “biện pháp cưỡng chế  
hay giáo dục chính trị, hoặc một sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặc  
đang phát biểu chính kiến; biện pháp huy động và sử dụng nhân công vào mục  
đích phát triển kinh tế; biện pháp về xử lý vi phạm kỷ luật lao động; sự trừng  
phạt đối với việc đã tham gia đình công; biện pháp phân biệt đối xử về chủng  
tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo”. Theo quy định của Công ước 105 thì định  
nghĩa trên cũng được sử dụng thống nhất.  
Khái niệm LĐCB áp dụng cho mọi độ tuổi (gồm người lớn và trẻ em),  
đồng nghĩa mọi trường hợp Công ước 29 của ILO đều được áp dụng. Tuy nhiên,  
Công ước 29 của ILO không định nghĩa cụ thể “trẻ em” khi xem xét vấn đề  
“LĐCB”. Để xác định trẻ em là đối tượng nào theo quy định ILO, chúng ta cần  
dẫn chiếu đến Công ước 182 về những điều kiện lao động tồi tệ nhất đối với trẻ  
13  
em năm 1999. Căn cứ Điều 2 Công ước 182, “trẻ em” là những người dưới 18  
tuổi. Trong Công ước 182 còn đưa ra khái niệm về điều kiện lao động tồi tệ nhất  
gồm việc “tuyển lựa một cách cưỡng bức hoặc bắt buộc trẻ em để tham gia vào  
các cuộc xung đột vũ trang”, nhưng không đưa ra thêm bất kỳ một giải thích nào  
khác về những yếu tố cấu thành “LĐCB đối với trẻ em”. Chính vì vậy, trong  
trường hợp cần tìm hiểu về “LĐCB đối với trẻ em” là như thế nào thì Công ước  
29 của ILO sẽ được dẫn chiếu và áp dụng.  
Cũng cần phân biệt thuật ngữ “lao động cưỡng bức” với “cưỡng bức lao  
động” mặc dù về nội hàm có nhiều điểm giống nhau, đó là đều bao hàm các  
hành vi cưỡng bức lao động. Tuy nhiên, LĐCB hướng đến các đối tượng là nạn  
nhân bị “”ép buộc, cưỡng ép” trong việc thực hiện một công việc, dịch vụ nào  
đó, dưới sự đe dọa bằng các hình phạt. Các công việc hoặc dịch vụ được hiểu là  
mọi loại hình công việc, dịch vụ, việc làm, không phân biệt ngành nghề, lĩnh  
vực, việc làm hợp pháp chính thức, hay việc làm bất hợp pháp, không chính  
thức. Hình phạt cũng không nhất thiết phải dưới các hình thức như chế tài hình  
sự, mà có thể dưới dạng tước quyền tự do và đặc quyền, hoặc có thể là hình thức  
đe dọa áp dụng các hình phạt khác nhau (hoặc liên quan đến thân thể, tính mạng,  
hoặc đánh vào yếu tố tâm lý nhằm đe dọa nạn nhân…). Còn cưỡng bức lao động  
hướng tới nhiều hơn việc xác định hành vi vi phạm hoặc hành vi phạm tội cưỡng  
bức lao động.  
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, định nghĩa về LĐCB chỉ được đề cập  
như một sự giải thích về vấn đề “ngược đãi” và “cưỡng bức động”. BLLĐ 1994  
mặc dù quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao  
động trong trường hợp bị cưỡng bức lao động, và việc bị “ngược đãi, cưỡng bức  
lao động được giải thích tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của  
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao  
động2“… Bị ngược đãi, cưỡng bức lao động là trường hợp NLĐ bị đánh đập,  
nhục mạ hoặc ép buộc làm những công việc không phù hợp với giới tính, ảnh  
2 khoản 1 Điều 11 Nghị Định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn  
thi hành một số điều của Bộ luật Lao động  
14  
hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người lao động”, trong đó hai  
cụm từ “ngược đãi” và “cưỡng bức lao động” được giải thích theo hướng đồng  
nghĩa và đặt trong phạm vi giao kết và thực hiện hợp đồng lao động hơn là một  
định nghĩa. BLLĐ sửa đổi năm 2012 đã xác định khái niệm CBLĐ là “việc dùng  
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao  
động trái ý muốn của họ” (Khoản 10 Điều 3). Khái niệm này mặc dù được xây  
dựng dựa trên khái niệm về LĐCB trong Công ước 29, tuy nhiên nội hàm của  
khái niệm này khi giải thích yếu tố không tự nguyện là do việc dùng vũ lực hoặc  
đe dọa dùng vũ lực, trong khi thực tế có rất nhiều các dạng ép buộc (thủ đoạn  
khác). Thế nào là “thủ đoạn khác” cũng không được giải thích cụ thể. Bên cạnh  
đó, thuật ngữ “lao động” trong BLLĐ 2012 cũng giới hạn hoạt động lao động  
của con người trong việc tạo ra các giá trị vật chất hoặc tinh thần cho xã hội,  
được pháp luật cho phép. Với cách dùng từ này, có thể dẫn đến việc hiểu LĐCB  
chỉ xảy ra khi một người phải thực hiện những công việc hợp pháp trái ý muốn  
của họ, còn những việc bất hợp pháp mà họ phải thực hiện ngoài ý muốn của họ  
không phải là LĐCB.  
Với những dấu hiệu của LĐCB như đã phân tích, tác giả cho rằng, lao  
động cưỡng bức là “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc, bắt  
buộc phải thực hiện bởi sự đe doạ của một hình phạt hoặc thủ đoạn của một tổ  
chức hoặc cá nhân trong các quan hệ lao động”.  
2.1.2. Đặc điểm của lao động cưỡng bức  
Đặc điểm của LĐCB được nhận biết dựa trên hai căn cứ chủ yếu, đó là:  
2.1.2.1. Căn cứ vào đối tượng bị LĐCB:  
Đối tượng bị LĐCB là bất kì ai, bao gồm người trưởng thành cũng như  
trẻ em, không phân biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào. Xét về đặc  
điểm giới tính: (i) đối với nam giới: LĐCB thường gắn với các công việc nặng  
nhọc, nguy hiểm và độc hại ở công trường xây dựng, các hầm mỏ, nông nghiệp  
làm vườn…v.v; (ii) đối với nữ giới: LĐCB chủ yếu là những người làm công  
15  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 69 trang yennguyen 15640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Lao động cưỡng bức theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_lao_dong_cuong_buc_theo_quy_dinh_cua_phap_lua.pdf