Báo cáo tóm tắt Đề tài Xây dựng quy trình sản xuất cây giống in vitro hai loài phong lan có giá trị cao: Cẩm báo (Hyglohilus parishii Pfitz.) và Huyết nhung trơn (Renanthera imschootiana Rolfe)

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN  
VỊ PHỐI HỢP CHÍNH  
TT  
1
Họ và tên  
Đơn vị công tác  
Thành viên  
ThS.TRẦN QUANG Khoa Sinh-Môi trường, trường ĐHSP-  
DẦN ĐHĐN  
2
3
4
TS. VÕ CHÂU TUẤN Khoa Sinh-Môi trường, trường ĐHSP-  
ĐHĐN  
TS. NGUYỄN MINH Khoa Sinh-Môi trường, trường ĐHSP-  
LÝ  
ĐHĐN  
LÊ THỊ TRINH  
Khoa Sinh-Môi trường, trường ĐHSP-  
ĐHĐN  
Đơn vị phối hợp chính  
Trung tâm Công nghệ sinh học - Sở khoa học Công nghệ Đà Nẵng  
5
MỤC LỤC  
4.1. Kết luận ........................................................................................... 27  
4.2. Đề nghị............................................................................................ 27  
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
2,4-D  
BE  
PE  
: Diclorophenoxyacetic acid  
: Dịch chiết chuối (Banana extract)  
: Dịch chiết khoai tây (Potato  
extract)  
AC  
BA  
: Than hoạt tính (Active carbon)  
: 6 - benzyl adenine  
BAP  
B5  
: 6 - benzyl amino purine  
: Gamborg (1968)  
CW  
IBA  
KC  
: Nước dừa (coconut water)  
: Indole 3 - butyric acid  
: Knudson C (1965)  
KIN  
IAA  
ĐHST  
M
: Kinetin  
: Indole-3-acetic acid  
: Điều hòa sinh trưởng  
: Mitra et al.  
MKC  
MS  
NAA  
PM  
: Modified Knudson ‘C’  
: Murashige và Skoog (1962)  
: α-naphthalen acetic acid  
: Phytamax  
RE  
SH  
VW  
AC  
PLB  
: Robert Ernst (1979)  
: Schenk và Hildebrandt (1972)  
: Vacin và Went (1949)  
: Than hoạt tính (active charcoal)  
: Protocorm  
ctv  
: Cộng tác viên  
ii  
 
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
Đơn vị: ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Thông tin chung  
- Tên đề tài: Xây dựng quy trình sản xuất cây giống in vitro hai  
loài phong lan có giá trị cao: Cẩm báo (Hyglohilus parishii Pfitz.) và  
Huyết nhung trơn (Renanthera imschootiana Rolfe).  
- Mã số: B2016-DNA-35-TT  
- Chủ nhiệm: ThS. Trần Quang Dần  
- Cơ quan chủ trì: Đại học Đà Nẵng  
- Thời gian thực hiện: 12/2016 – 11/2018  
2. Mục tiêu đề tài  
Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các điều kiện tốt nhất cho  
mỗi giai đoạn nuôi cấy, từ đó xây dựng quy trình nhân giống in vitro của hai  
loài lan: Cẩm báo và Huyết nhung trơn.  
3. Tính mới và tính sáng tạo  
Nghiên cứu này đã khảo sát bổ sung ảnh hưởng của những điều kiện  
nuôi cấy khác nhau (chưa được đề cập trong các nghiên cứu trước đó) đến  
quá trình nhân giống in vitro của hai loài lan nghiên cứu. Thông qua đó,  
những quy trình nhân giống in vitro hoàn chỉnh có hiệu quả đã được thiết  
lập.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Căn cứ vào kết quả thu được, quy trình nhân giống đối với mỗi loài  
lan thu được như sau:  
Đối với Huyết nhung trơn:  
Quả lan 4 - 5 tháng sau khi ra hoa đã được khử trùng hiệu quả bằng sự  
kết hợp cồn 70% trong 30 giây, HgCl2 0,1% trong 5 phút, và NaOCl 5%  
trong 15 phút. Hạt nảy mầm với tỉ lệ cao nhất trên môi trường cơ bản MS.  
Các PLB có khả năng nhân nhanh tốt nhất khi nuôi cấy trên môi trường cơ  
bản có bổ sung 15% CW, 1,0 mg/L KIN, và 0,5 mg/L NAA. Các chồi hình  
thành từ PLB và nhân nhanh tốt nhất, với hệ số nhân đạt 15,33 chồi/mẫu PLB  
sau 12 tuần, trên môi trường cơ bản có bổ sung 15% CW và 1,5 mg/L KIN.  
Khả năng tăng trưởng chiều cao của chồi tốt nhất, đạt 1,07 cm sau 8 tuần,  
khi nuôi cấy trên môi trường cơ bản có bổ sung 15% CW, 2,0 mg/L BA, và  
0,25 mg/L NAA. Sự cảm ứng rễ tốt nhất, với 2,4 rễ/chồi và chiều dài rễ đạt  
1,74 cm sau 8 tuần, khi nuôi cấy chồi trên môi trường cơ bản có bổ sung 15%  
ii  
 
CW và 1,0 mg/L NAA. Cây con đã thể hiện sự thích nghi tốt ở điều kiện  
vườn ươm có nhiệt độ trung bình 28 ± 5oC, độ ẩm 80 - 90%, và ánh sáng tự  
nhiên, khi trồng trên giá thể dớn + than (tỉ lệ 1:1), với tỉ lệ sống sót 91,6%.  
Đối với lan Cẩm báo:  
Hiệu quả khử trùng và nảy mầm của hạt tốt nhất với các điều kiện  
tương tự như lan Huyết nhung trơn. Các PLB nhân nhanh tốt nhất khi nuôi  
cấy trên môi trường cơ bản có bổ sung 0,5 mg/L BA và 0,25 mg/L IBA. Chồi  
hình thành từ PLB và có khả năng nhân nhanh tốt nhất khi nuôi cấy trên môi  
trường cơ bản có bổ sung 1,5 mg/L BA, với hệ số nhân đạt 2,17 chồi/mẫu  
PLB sau 8 tuần. Sự tăng trưởng chiều cao chồi tốt nhất khi nuôi cấy trên môi  
trường cơ bản có bổ sung 0,5 g/L AC và 3,0 mg/L BA, với chiều cao 1,1 cm  
sau 8 tuần nuôi cấy. Rễ được hình thành với tỉ lệ cao nhất, 2,6 rễ/chồi sau 8  
tuần, khi nuôi cấy chồi trên môi trường cơ bản có bổ sung 0,5 g/L AC và 1,5  
mg/L NAA. Cây con được trồng trên giá thể dớn có khả năng thích nghi và  
sinh trưởng tốt ở điều kiện vườn ươm với cường độ chiếu sáng 50% so với  
ánh sáng tự nhiên, chế độ tưới nước 2 lần/ngày và 0,5 L/m2, và chu kì bón  
dinh dưỡng khoáng (phân bón Đầu trâu NPK 30-15-10) 10 ngày/lần.  
5. Sản phẩm  
- Sản phẩm khoa học:  
+ 01 bài báo đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng:  
Trần Quang Dần, Nguyễn Minh Lꢀ, Vꢁ Châu Tuấn (2018). Nhân giống in  
vitro loài hoa lan quꢀ hiếm Huyết nhung trơn (Renanthera imschootiana  
Rolfe). Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 3(124): 89-93.  
- Sản phẩm đào tạo:  
+ 01 Học viên bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ theo đề tài: Nghiên cứu  
ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng của hai  
loài cây lan Cẩm báo (Hygrochilus parishii) và Thạch học tía (Dendrobium  
officinale Kimura et Migo) trong giai đoạn vườn ươm.  
- Sản phẩm ứng dụng:  
+ 02 quy trình nhân giống in vitro của hai loài lan Cẩm báo và Huyết nhung  
trơn.  
+ 200 cây giống in vitro của hai loài lan Cẩm báo và Huyết nhung trơn được  
duy trì trong phòng thí nghiệm.  
6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng  
ứng dụng  
6.1. Hiệu quả giáo dục và đào tạo  
Đề tài nghiên cứu đã đóng góp một phần vào việc đào tạo kiến thức  
chuyên ngành và kĩ năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên, học viên tham  
iii  
INFORMATION OF RESEARCH RESULTS  
1. General information  
- Project title: The establishment of in vitro propagation procedures  
of two high value orchids, Hyglohilus parishii Pfitz. and Renanthera  
imschootiana Rolfe  
- Code number: B2016-DNA-35-TT  
- Implementing Institution: The University of Da Nang  
2. Objective  
- The objective of research is to establish the best suitable conditions  
for each the step of in vitro propagation of two orchids, Hyglohilus parishii  
Pfitz. and Renanthera imschootiana Rolfe  
3. Creativeness and innovativeness  
- This research investigated the effects of different culture  
conditions, which have not been mentioned in previous reports, on each the  
step of in vitro propagation of H. parishii Pfitz. and R. imschootiana Rolfe.  
From the findings, the procedures of in vitro propagation of two orchids  
examined were established.  
4. Research results  
The in vitro propagation procedures of two orchids examined were  
established as follows:  
For R. imschootiana Rolfe in vitro propagation:  
Four to five-month-old fruits were effectively disinfected by  
detergents: EtOH 70% for 30 s, HgCl2 0.1% for 5 min, and NaOCl 5% for  
15 min. Seeds were germinated in culture medium containing the full  
strength MS salts (included vitamins). The PLBs were proliferated rapidly in  
the MS medium contained 15% CW, 1.0 mg/L KIN, and 0.5 mg/L NAA.  
The highest shoot generation and proliferation were obtained in the MS  
medium contained 15% CW and 1.5 mg/L KIN, which formed 15.33  
shoots/PLB sample after 12 weeks of the culture. The shoot elongation,  
which the shoot height reached to 1.07 cm after 8 weeks of the culture, was  
obtained in the MS medium contained 15% CW, 2.0 mg/L BA, and 0.25  
mg/L NAA. The rooting was induced with addition of 1.0 mg/L NAA and  
15% CW to the MS medium, which formed 2.4 roots/shoot and 1.74 cm root  
iv  
length at 8 weeks after the culture. The transplanted plantlets were  
acclimated in nursery condition with 28 ± 5oC temperature, 80 - 90%  
humidity and natural light. The survival plantlet rate was 91.6% in potting  
mixture containing sphagnum moss and charcoal with 1:1 ratio.  
For H. parishii Pfitz. in vitro propagation:  
Effectiveness of the seed disinfection and germination were obtained  
in the conditions similar with that of R. imschootiana Rolfe. The PLBs were  
proliferated rapidly in the MS medium contained 0.5 mg/L BA and 0.25  
mg/L IBA. The highest shoot generation and proliferation were obtained in  
the MS medium contained 1.5 mg/L BA, which formed 2.17 shoots/PLB  
sample at 8 weeks after the culture. The shoot elongation, which the shoot  
height reached to 1.1 cm at 8 weeks after the culture, was occured in the MS  
medium contained 0.5 g/L AC and 3.0 mg/L BA. The rooting was induced  
with addition of 1.5 mg/L NAA and 0.5 g/L AC to the MS medium, which  
formed 2.6 roots/shoot and 2.3 cm root length at 8 weeks after the culture.  
The transplanted plantlets were acclimated in the nursery condition with  
83.3% of survival plantlet rate in potting mixture containing sphagnum moss.  
The plantlets also grown well under conditions with the 50% natural light,  
0.5 L/m2 of watering and 2 times/day, and 10 days/times of fertilization (Đầu  
trâu NPK 30-15-10).  
5. Products  
- Scientific publication:  
+ A research paper was published in Journal of Science and Technology, The  
University of Da Nang: Tran Quan Dan, Nguyen Minh Ly, Vo Chau Tuan  
(2018) In vitro propagation ò a precious orchid species renanthera  
imschootiana Rolfe. Journal of Science and Technology, The University of  
Da Nang, 3(124): 89-93.  
- Student Training:  
+ A graduated student of the Master degree with thesis topic: Influence of  
some ecological factors on the growth ability of two orchid species  
Hygrochilus parishii and Dendrobium officinale Kimura et Migo) in the  
nursery stage.  
- Others:  
+ 02 the procedures of in vitro propagation with the detailed information of  
two orchids Hygrochilus parishii and Dendrobium officinale Kimura et Migo  
+ 200 in vitro regenerated plantlets of two orchids Hygrochilus parishii and  
Dendrobium officinale Kimura et Migo are maintaining in laboratory.  
6. Effectiveness of research results, and their transfer and applicability  
v
6.1. Education and training effectiveness  
This research supported for tranining advanced acknowledges and  
research skills to participants who are undergraduated/graduated students  
following the disciplines of Ecology and Biotechnology at The College of  
Education, The University of Da Nang. Moreover, information from research  
results are vauable reference materials for training and educating related  
courses.  
6.2. Socio-economic effectiveness  
The research results supply a potential solution for conservation of  
H. parishii Pfitz. and R. imschootiana Rolfe from threaten extinct in Viet  
Nam. Moreover, the procedures of in vitro propagation (if applied) would  
supply the in vitro plantlets that can deal with demands of domestic orchid  
production as well as of exports, which contribute to socio-economic  
development.  
6.3. Transfer and applicability  
The research results (02 the procedures of in vitro propagation) with  
different forms are able to transfer to the Centers, Institutes, and others  
where/who relate to plant production field for producing plantlets and  
studying in advance of the production.  
vi  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Việt Nam được biết đến như một quốc gia có sự đa dạng và nhiều loài  
hoa lan quꢀ hiếm. Theo đánh giá sơ bộ của Averʹjanov và ctv (2003), Việt  
Nam có khoảng 152 chi với 2.500 loài hoa lan, phân bố rộng rãi trong các  
điều kiện môi trường tự nhiên khác nhau. Hiện nay, nhiều loài hoa lan đã  
được khai thác, trồng và sử dụng tương đối phổ biến ở Việt Nam và nhiều  
quốc gia trên thế giới, với mục đích trang trí ở dạng hoa chậu, hoa cắt cành,  
hay dùng làm hương liệu và dược liệu (Chen, 2011; Mudalige và ctv, 2004).  
Một số loài hoa lan đã trở thành cây trồng quan trọng, có đóng góp đáng kể  
vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp tại nhiều địa phương; tuy nhiên, thị  
trường và sự sản xuất hoa lan ở quy mô thương mại vẫn còn hạn chế và chưa  
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng từ người tiêu dùng. Nguồn cung cấp hoa lan  
chủ yếu vẫn là cây khai thác từ tự nhiên, và đa số các loài có giá trị kinh tế  
cao chưa được ứng dụng vào sản xuất do thiếu nguồn giống (Huỳnh Văn  
Thới, 2006). Ngoài ra, nhiều loài hoa lan quꢀ và đặc hữu của Việt Nam ở  
trong tự nhiên đang có xu hướng tuyệt chủng do nạn khai thác bừa bãi, nạn  
phá rừng và những thay đổi bất lợi của môi trường sống, trong khi đó tốc độ  
tái sinh tự nhiên của phần lớn các loài hoa lan là tương đối chậm (Averʹjanov  
và ctv, 2003; Chen, 2011; Hossain và ctv, 2010; Phạm Hoàng Hộ, 2000). Do  
đó, việc bảo tồn và khai thác bền vững các loài hoa lan có giá trị là rất cần  
thiết (Arditti, 2009).  
Cẩm báo (Hygrochilus parishii) và Huyết nhung trơn (Renanthera  
imschootiana Rolfe) là hai loài hoa lan quꢀ và có giá trị kinh tế, phân bố tự  
nhiên tại một số khu rừng nguyên sinh (ở độ cao 1.000 - 1.500 m) ở một số  
quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ và Myanmar. Ở Việt  
Nam, hai loài lan này có phạm vi phân bố hẹp, chủ yếu tại một số khu vực  
miền núi thuộc các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc (Phạm Hoàng  
Hộ, 2000). Đây là những loài phong lan đơn thân, sống phụ sinh trên thân  
các cây gỗ mục, và sinh sản tự nhiên chủ yếu bằng hạt. Với cấu trúc hoa độc  
đáo, đẹp, lâu tàn, và thích nghi tốt với nhiệt độ 20 - 32oC, nên ở nhiều nơi  
chúng được trồng cho mục đích trang trí và rất được ưa chuộng (Phạm Hoàng  
Hộ, 2000). Tuy nhiên, hiện nay nguồn cung cấp của hai loài hoa này chủ yếu  
từ rừng tự nhiên, và việc trồng ở quy mô sản xuất vẫn chưa được đề cập vì  
thiếu nguồn cây giống (Wu và ctv, 2014). Hiệp hội Thương mại Động - Thực  
7
   
vật hoang dã CITES (2013) đã liệt kê Cẩm báo và Huyết nhung trơn vào  
danh mục thực vật bị đe dọa, và cần được bảo vệ vì những lo ngại trước sự  
khai thác quá mức từ tự nhiên.  
Nuôi cấy mô tế bào thực vật được xem là phương pháp hữu hiệu trong  
việc nhân giống và góp phần bảo tồn in vitro nhiều loài hoa lan khác nhau.  
Cây con đã được tái sinh thông qua các con đường cảm ứng bởi các điều kiện  
nuôi cấy khác nhau, như: nuôi cấy từ hạt, chồi đỉnh, đỉnh sinh trưởng, phát  
sinh phôi trực tiếp và giản tiếp (Arditti, 2009). Đối với lan Huyết nhung trơn,  
Seeni và ctv (1992) lần đầu tiên đề cập về sự cảm ứng chồi trực tiếp từ cuống  
lá non sau 20 tuần cấy trên môi trường Mitra có bổ sung kết hợp BA và NAA.  
Sau đó, Wu và ctv (2014) đã khảo sát điều kiện nảy mầm hạt và nhân nhanh  
PLB với hệ số nhân 2,88 PLBs/mẫu trên các môi trường khác nhau. Cây con  
tái sinh đã cho thấy sự thích nghi ở cả điều kiện vườn ươm và môi trường  
sống tự nhiên của nó. Các nghiên cứu này đã bước đầu thiết lập được các  
điều kiện cơ bản cho việc nuôi cấy in vitro lan Huyết nhung trơn, tuy nhiên,  
các thông tin cụ thể cho một quy trình nhân giống in vitro hoàn chỉnh vẫn  
chưa được đề cập đến. Điều kiện nhân nhanh chồi từ PLB, một bước rất quan  
trọng để nâng cao hiệu quả nhân giống, vẫn chưa được khảo sát. Ngoài ra,  
môi trường nuôi cấy còn phức tạp với nhiều thành phần khác nhau (Wu và  
ctv, 2014), điều này có khả năng làm hạn chế tính hiệu quả của việc ứng  
dụng các kết quả thu được vào sản xuất thực tế. Đối với lan Cẩm báo,  
Shadang và ctv (2007) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các môi trường nuôi  
cấy cơ bản đến sự nảy mầm hạt và hình thành PLB. Ngoài ra, Choopeng và  
ctv (2011) cũng đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của CW và các chất ĐHST  
(BA, NAA và paclobutrazol) đến sự sinh trưởng và phát triển của chồi.  
Tương tự như lan Huyết nhung trơn, một quy trình nhân giống in vitro của  
lan Cẩm báo vẫn cần được thiết lập (Choopeng và ctv, 2011). Ở Việt Nam  
chưa có một công trình nghiên cứu nào được công bố đề cập đến việc nhân  
giống in vitro hai loài lan này.  
Xuất phát từ các cơ sở trên chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Xây dựng  
quy trình sản xuất cây giống in vitro hai loài phong lan có giá trị cao: Cẩm  
báo (Hygrochilus parishii Pfitz.) và Huyết nhung trơn (Renanthera  
imschootiana Rolfe)”.  
2. Mục tiêu đề tài  
8
 
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xây dựng quy trình sản xuất cây  
giống in vitro của hai loài lan: Cẩm báo và Huyết nhung trơn, bằng kỹ thuật  
nuôi cấy mô tế bào.  
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
a. Ý nghĩa khoa học:  
Đề tài nghiên cứu cung cấp thông tin mới, bổ sung về sự ảnh hưởng  
của các điều kiện nuôi cấy đến sự hình thành, nhân nhanh và tái sinh cây con  
in vitro của hai loài lan Huyết nhung trơn và Cẩm báo.  
b. Ý nghĩa thực tiễn:  
Kết qủa thu được từ đề tài đã được xây dựng thành những quy trình  
nhân giống in vitro của Huyết nhung trơn và Cẩm báo. Các quy trình này có  
thể được ứng dụng vào sản xuất cây giống in vitro góp phần tạo ra nguồn  
giống sản xuất và bảo tồn hai loài lan này.  
4. Các nội dung nghiên cứu của đề tài  
Để xây dựng quy trình nhân giống in vitro của hai loài lan Cẩm báo  
và Huyết nhung trơn, chúng tôi đã tiến hành các nội dung nghiên cứu sau đối  
với mỗi loài lan: (1) Nghiên cứu hiệu quả và khả năng khử trùng hạt (quả)  
bằng các tác nhân khử trùng khác nhau; (2) Nghiên cứu ảnh hưởng của một  
số yếu tố (môi trường nuôi cấy) đến khả năng nảy mầm của hạt và tái sinh  
PLB; (3) Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố (môi trường nuôi cấy)  
đến khả năng nhân nhanh PLB; (4) Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố  
(môi trường nuôi cấy) đến khả năng nhân nhanh chồi từ PLB; (5) Nghiên  
cứu ảnh hưởng của một số yếu tố (môi trường nuôi cấy) đến khả năng tang  
trưởng chiều cao (kéo dài) chồi; (6) Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu  
tố (môi trường nuôi cấy) đến khả năng tạo rễ; (7)- Nghiên cứu ảnh hưởng  
của một số yếu tố đến khả năng thích nghi và sinh trưởng của cây con ở điều  
kiện vườn ươm.  
9
   
CHƯƠNG 1. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu và phương pháp khử trùng mẫu  
Quả lan Huyết nhung trơn và Cẩm báo sau khi ra hoa 4 - 5 tháng được  
ngâm trong nước xà phòng loãng 10 - 15 phút, sau đó rửa sạch dưới vòi nước  
chảy, và tiếp tục ngâm quả vào dung dịch thuốc diệt nấm trong 5 - 10 phút  
rồi rửa sạch lại bằng nước cất khử trùng. Mẫu sau khi khử trùng sơ bộ bên  
ngoài, quả được chuyển vào tủ cấy, và khử trùng bằng cồn 70% trong 30  
giây, và sau đó khử trùng bề mặt quả bằng các dung dịch HgCl2 0,1% và  
NaOCl 0,5%, với thời gian khác nhau: HgCl2 0,1% trong 3 phút và NaOCl  
5% trong 10 phút; HgCl2 0,1% trong 5 phút và NaOCl 0,5% trong 15 phút;  
và HgCl2 0,1% trong 10 phút và NaOCl 0,5% trong 15 phút. Quả sau khi rửa  
sạch bằng nước cất vô trùng đã được cắt đôi dọc bằng dao nhọn. Hạt được  
tách ra và gieo trên môi trường MS (Murashige và Skoog, 1962) bổ sung 30  
g/L sucrose và 8,0 g/L agar.  
2.2. Phương pháp nhân giống in vitro lan Huyết Nhung trơn  
2.2.1. Nảy mầm hạt in vitro  
Hạt từ quả lan Huyết nhung trơn sau khi khử trùng với quy trình tối ưu  
đã khảo sát ở mục 2.1 (cồn 70% trong 30 giây + HgCl2 0,1% trong 5 phút +  
NaOCl 0,5% trong 15 phút) được gieo trên môi trường MS có bổ sung 30  
g/L sucrose, 8,0 g/L agar, và 0,5 - 2,0 mg/L BA. Thời gian bắt đầu nảy mầm  
(ngày) được xác định dựa vào sự hình thành cấu trúc PLB; tỷ lệ hạt nảy mầm  
và đặc điểm sinh trưởng PLB được đánh giá sau 4 tuần nuôi cấy.  
Các PLB hình thành trên môi trường nảy mầm (sau 8 tuần) được cấy  
chuyển qua môi trường MS có bổ sung 1,0 mg/L KIN kết hợp với 0,25 - 1,0  
mg/L NAA. Ngoài ra, 15% CW (sau khi lọc bằng giấy lọc) cũng được bổ  
sung vào các môi trường nuôi cấy để khảo sát ảnh hưởng của CW đến khả  
năng nhân nhanh PLB. Khả năng nhân nhanh PLB sau 8 tuần nuôi cấy được  
đánh giá thông qua tỉ lệ mẫu cấy phát sinh PLB mới (%), khả năng nhân  
nhanh, và đặc điểm sinh trưởng của PLB.  
2.2.3. Tái sinh và nhân nhanh chồi  
Các PLB sau giai đoạn nhân nhanh được tách thành từng khối có đường  
kính khoảng 5 mm và cấy chuyển trên môi trường MS có bổ sung 0,5 - 2,0  
mg/L KIN riêng lẻ hoặc kết hợp với 0,3 mg/L NAA. Khả năng nhân nhanh  
từ PLB được đánh giá thông qua số chồi/mẫu PLB, tỉ lệ PLB tái sinh chồi  
(%), và đặc điểm sinh trưởng của chồi sau 12 tuần nuôi cấy. Mỗi nghiệm  
thức cấy 15 mẫu PLB, lặp lại 3 lần.  
2.2.4. Tăng trưởng chiều cao chồi (kéo dài chồi)  
10  
     
Các chồi phát sinh từ PLB có chiều cao khoảng 0,3 cm được nuôi cấy  
trên các môi trường MS có bổ sung 15% CW, và 1,0-2,0 mg/L BA kết hợp  
với 0,25 - 1,0 mg/L NAA. Khả năng sinh trưởng của chồi được đánh giá sau  
8 tuần nuôi cấy thông qua số lá/chồi, chiều cao chồi (cm), đặc điểm sinh  
trưởng của chồi. Mỗi nghiệp thức cấy 15 mẫu chồi, lặp lại 3 lần.  
2.2.5. Cảm ứng rễ  
Các chồi có chiều cao khoảng 1,0 cm với 2 - 3 lá đã được tách bỏ các rễ  
phát sinh trong giai đoạn nhân nhanh (nếu có), sau đó cấy lên môi trường  
MS có bổ sung 0,25 - 1,0 mg/L NAA. Thời gian xuất hiện rễ, tỉ lệ chồi phát  
sinh rễ (%), số rễ/chồi, chiều dài rễ (cm) được quan sát sau 8 tuần nuôi cấy.  
Mỗi nghiệm thức cấy 15 mẫu chồi, lặp lại 3 lần.  
2.2.6. Huấn luyện cây con ở điều kiện vườn ươm  
Cây con tái sinh hoàn chỉnh có chiều cao khoảng 1,0 cm với 2 - 3 rễ  
được duy trì trong các bình nuôi cấy ở điều kiện ánh sáng và nhiệt độ phòng  
trong khoảng 7 - 10 ngày. Sau đó, cây được chuyển ra khỏi bình nuôi cấy,  
rửa sạch môi trường bám trên rễ dưới vòi nước chảy và trồng trên 3 loại giá  
thể thương mại dành cho trồng lan với các tỉ lệ phối trộng khác nhau, bao  
gồm: dớn, than + dớn (tỉ lệ 1:1), và than + dớn + xơ dừa (tỉ lệ 1:1:1). Cây  
được trồng trong các khay nhựa đen, lỗ có đường kính 5 - 7 cm trong điều  
kiện vườn ươm (tại Trại thực nghiệm khoa Sinh-Môi trường) có nhiệt độ  
trung bình 28 ± 5oC, độ ẩm không khí 80 - 90%, và ánh sáng tự nhiên.  
2.3. Phương pháp nhân giống in vitro lan Cẩm báo  
2.3.1. Nảy mầm hạt in vitro  
Phương pháp thực hiện tương tự như với lan Huyết nhung trơn.  
2.3.2. Nhân nhanh PLB  
Các PLB hình thành trên môi trường nảy mầm (sau 8 tuần) được cắt  
thành khối nhỏ có đường kính 2 - 3 mm và cấy chuyển qua môi trường MS  
có bổ sung 0,5 mg/L BA kết hợp với 0,1 - 0,5 mg/L IBA. Khả năng nhân  
nhanh PLB sau 4 tuần nuôi cấy được đánh giá thông qua tỉ lệ mẫu cấy phát  
sinh PLB mới (%), khả năng nhân nhanh, và đặc điểm sinh trưởng của PLB.  
2.3.3. Nhân nhanh chồi  
Các PLB sau giai đoạn nhân nhanh được tách thành từng khối có đường  
kính khoảng 3 - 5 mm và cấy chuyển trên môi trường MS có bổ sung riêng  
lẻ 0,5 - 2,0 mg/L KIN và 0,5 - 2 mg/L BA. Khả năng nhân nhanh từ PLB  
được đánh giá thông qua: thời gian xuất hiện chồi (ngày), số chồi/mẫu PLB,  
chiều cao chồi, và đặc điểm sinh trưởng của chồi sau 8 tuần nuôi cấy. Mỗi  
nghiệm thức cấy 15 chồi, lặp lại 3 lần.  
2.3.4. Tăng trưởng chiều cao chồi  
11  
 
Các chồi có chiều cao khoảng 0,3 cm được tách ra và cấy trên môi  
trường MS có bổ sung 0,5 g/L AC, 2,0 - 3,5 mg/L BA, và 2,5 mg/L BA kết  
hợp với 0,5 - 2,0 mg/L NAA. Khả năng sinh trưởng của chồi được đánh giá  
sau 8 tuần nuôi cấy thông qua số lá/chồi, chiều cao chồi (cm), đặc điểm sinh  
trưởng của chồi. Mỗi nghiệm thức cấy 15 chồi, lặp lại 3 lần.  
2.3.5. Cảm ứng rễ  
Chồi đạt chiều cao khoảng 1,0 cm được tách ra và cấy vào môi trường  
MS + 0,5 g/L AC, và có bổ sung 0,5-2,0 mg/L NAA. Đánh giá khả năng hình  
thành rễ sau 8 tuần nuôi cấy với các chỉ tiêu sau: tỉ lệ chồi ra rễ (%), số rễ  
(rễ/chồi) và chiều dài rễ (cm). Mỗi nghiệm thức cấy 15 chồi, lặp lại 3 lần.  
2.3.6. Huấn luyện cây con ở điều kiện vườn ươm  
Cây con tái sinh có chiều cao khoảng 1,0 cm và 2 - 3 rễ được duy trì  
trong các bình nuôi cấy ở điều kiện ánh sáng và nhiệt độ phòng (hoặc vườn  
ươm) trong khoảng 7 - 10 ngày. Sau đó, cây được chuyển ra khỏi bình nuôi  
cấy, rửa sạch môi trường bám trên rễ dưới vòi nước chảy và trồng trên 5 tổ  
hợp giá thể với các tỉ lệ khác nhau, bao gồm: dớn, xơ dừa, dớn + than (tỉ lệ  
1:1), dớn + xơ dừa (tỉ lệ 1:1), xơ dừa + than (tỉ lệ 1:1). Khả năng thích nghi  
của cây con được đánh giá thông qua tỉ lệ sống sót và tình trạng của cây sau  
2 tuần. Các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức được lặp lại  
3 lần, mỗi lần 15 cây và mỗi lỗ trồng 1 cây.  
2.3.7. Ảnh hưởng của một số yếu tố ở điều kiện vườn ươm đến sự sinh trưởng  
của cây con  
Cây con in vitro lan Cẩm báo (tương tự mục 2.3.6) đã được trồng trên  
giá thể dớn. Ảnh hưởng của các điều kiện chăm sóc ở vườn ươm đến sự sinh  
trưởng của cây đã được khảo sát, bao gồm: Cường độ chiếu sáng, chế độ tưới  
nước, chế độ dinh dưỡng khoáng.  
2.4. Các điều kiện khác và xử lí thống kê  
Toàn bộ các công thức môi trường nuôi cấy được chuẩn bị với đầy đủ  
các thành phần hòa tan trong dung dịch, sau đó điều chỉnh pH=5,8 ± 0.1 trước  
khi cho agar và/hoặc AC với lượng thích hợp và hấp khử trùng ở điều kiện  
121oC, áp suất 1,0 atm, 15 phút. Môi trường sau khi hấp khử trùng xong đã  
để nguội đến khoảng 50 - 60oC và phân phối khoảng 50 - 100 mL vào trong  
các bình nuôi cấy có thể tích 250 - 500 mL. Mẫu nuôi được duy trong điều  
kiện phòng nuôi với nhiệt độ 25oC, cường độ chiếu sáng 2.000 lux, thời gian  
chiếu sáng 12 h/ngày đêm. Dữ liệu thu được được phân tích bằng phần mềm  
thống kê SAS ver.11 với các thuật toán ANOVA và Ducan’s test để phân  
biệt sự sai khác giữa các nghiệm thức với mức ꢀ nghĩa thống kê p<0,05.  
12  
 
CHƯƠNG 2. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Hiệu quả khử trùng hạt  
Điều kiện vô trùng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành  
công của quá trình nuôi cấy in vitro. Hạt lan thường được bao bọc bởi một  
lớp vỏ quả dày và nếu vỏ quả không bị tổn thương thì hầu như phần hạt bên  
trong là vô trùng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn những quả lan  
sau khi ra hoa 4 - 5 tháng với vỏ quả còn nguyên vẹn, có màu vàng xanh để  
tiến hành khử trùng (Wu và ctv, 2014). Kết quả cho thấy, hiệu quả khử trùng  
là tương tự với cả hai loài lan với điều kiện khử trùng thích hợp nhất là cồn  
70% trong 30 giây + HgCl2 0,1% trong 5 phút + NaOCl 5% trong 15 phút,  
với tỉ lệ mẫu hạt sống (chết) đạt 85,71% (14,29%) và 86,71% (13,29%) tương  
ứng đối với Cẩm báo và Huyết nhung trơn. Với quy trình khử trùng này,  
chúng tôi hầu như không quan sát thấy hiện tượng nhiễm của mẫu sau 2 tuần  
nuôi cấy (Bảng 3.1).  
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của các tác nhân khử trùng lên hiệu quả khử trùng  
hạt lan Huyết nhung trơn và Cẩm báo  
Tác nhân và thời gian khử trùng  
Hiệu quả khử trùng  
Loài  
lan  
TLM  
sống  
(%)  
TLM  
chết  
(%)  
Khả  
năng  
nhiễm*  
Cồn  
HgCl2  
NaOCl  
70%(giây) 0,1%(phút) 5%(phút)  
30  
30  
30  
30  
30  
30  
3
5
7
3
5
7
10  
15  
20  
10  
15  
20  
77,25 22,75  
Có  
Cẩm  
báo  
85,71 14,29 Không  
62,50 37,50 Không  
78,25 21,75  
Có  
Huyết  
nhung  
trơn  
86,71 13,29 Không  
60,50 39,50 Không  
* Khả năng nhiễm được đánh giá dựa vào quan sát mẫu bị nhiễm sau 2  
tuần và chia làm 2 mức “Có và Không”.  
3.2. Nhân giống in vitro lan Huyết nhung trơn  
3.2.1. Sự nảy mầm in vitro của hạt  
Hạt được xem là nguồn mẫu vật nuôi cấy thích hợp trong điều kiện  
nguồn cây mẫu hạn chế (De Pauw và ctv, 1995). Khả năng nảy mầm được  
cải thiện đáng kể khi nuôi cấy in vitro vì sự có mặt đầy đủ các thành phần  
13  
     
dinh dưỡng khoáng và vitamin. Ngoài ra, khả năng nảy mầm của hạt còn  
được tăng cường bằng cách bổ sung các chất ĐHST thích hợp (Griesbach,  
1986). Wu và ctv (2014) đã công bố tỉ lệ nảy mầm và phát triển sau nảy mầm  
tốt nhất của hạt lan Huyết nhung trơn đạt 93,1% trên môi trường cơ bản MS  
có chứa 0,5 mg/L NAA + 1,0 g/L pepton + 20% CW + 1,0 g/L AC. Trong  
nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát ảnh hưởng của môi trường cơ bản MS  
có bổ sung 0,5 - 2,0 mg/L BA đến khả năng nảy mầm của hạt. Kết quả thu  
được ở Bảng 3.2 cho thấy, khả năng nảy mầm hạt tốt hơn trên môi trường  
không bổ sung BA, thời gian nảy mầm sau 45 ngày với các PLB có màu xanh  
đậm, to khỏe (Bảng 3.2). Sự nảy mầm càng bị hạn chế khi tăng dần nồng độ  
BA, với các PLB hình thành có màu xanh nhạt, sức sống yếu sau 8 tuần nuôi  
cấy (Bảng 3.2).  
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của BA đến khả năng nảy mầm của hạt lan Huyết  
nhung trơn sau 8 tuần gieo hạt  
Thời gian nảy  
mꢀm (ngày)  
Tỷ lệ hạt  
nảy mꢀm*  
BA (mg/L)  
Đặc điểm hình thái của PLB  
-
45  
+++  
PLB to, màu xanh đậm  
0,5  
50  
++  
PLB nhỏ, màu xanh nhạt  
1,0  
2,0  
57  
65  
+
+
PLB nhỏ, sinh trưởng yếu  
PLB nhỏ, sinh trưởng yếu  
* Tỷ lệ nảy mầm của hạt được ước lượng và thể hiện qua các kí hiệu: +++: cao;  
++: khá; +: trung bình.  
3.2.2. Khả năng nhân nhanh PLB  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát ảnh hưởng kết hợp của 1,0  
mg/L KIN và 0,25 - 1,0 mg/L NAA đến khả năng nhân nhanh PLB của cây  
lan Huyết nhung trơn (Bảng 3.3). Kết quả cho thấy, môi trường MS bổ sung  
KIN và NAA đã tăng cường khả năng nhân nhanh PLB so với môi trường  
không bổ sung ĐHST, khả năng nhân nhanh tốt nhất trên môi trường chứa  
1,0 mg/L KIN + 0,5 mg/L NAA với tỉ lệ mẫu PLB nuôi cấy cảm ứng PLB  
mới đạt 64,55% và khả năng nhân nhanh đáng kể sau 8 tuần (Bảng 3.3). Việc  
tăng hoặc giảm nồng độ NAA đều làm giảm khả năng nhân nhanh PLB. CW  
thường được bổ sung vào môi trường nuôi cấy để kích thích sự hình thành  
PLB; trong nghiên cứu này, việc bổ sung 15% CW vào môi trường nuôi cấy  
đã ảnh hưởng tích cực đến khả năng nhân nhanh PLB so với môi trường  
không bổ sung CW. Các PLB nhân nhanh tốt nhất trên môi trường chứa 1,0  
mg/L KIN + 0,5 mg/L NAA + 15% CW với tỉ lệ mẫu cảm ứng PLB đạt  
91,1%. Mặc dù chúng tôi không thể xác định chính xác hệ số nhân nhanh do  
14  
các PLB tạo thành chồng chéo lẫn nhau, khó tách rời; tuy nhiên, căn cứ vào  
việc tăng thể tích mẫu thu được chúng tôi ước lượng hệ số nhân nhanh  
khoảng 2 - 3 lần trên môi trường tối ưu.  
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của chất KIN, NAA, và CW đến khả năng  
nhân nhanh PLB lan Huyết nhung trơn sau 8 tuần nuôi cấy.  
CW  
(%)  
Tỉ lệ mẫu phát  
sinh PLB (%)  
Khả năng  
nhân nhanh*  
KIN (mg/L) NAA (mg/L)  
-
-
-
26,67  
35,55  
64,45  
44,44  
46,41  
91,10  
84,45  
+
+
+++  
++  
1,0  
1,0  
1,0  
1,0  
1,0  
1,0  
0,25  
0,50  
0,75  
0,25  
0,50  
0,75  
-
++  
15  
++++  
+++  
* Khả năng nhân nhanh PLB được ước lượng và thể hiện qua các kí hiệu,  
++++: cao; +++: khá; ++: trung bình; +: yếu.  
3.2.3. Tái sinh và nhân nhanh chồi  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thay thế BE bởi 0,5 – 2,0 mg/L  
KIN riêng lẻ, hoặc KIN kết hợp với 0,3 mg/L NAA để đánh giá ảnh hưởng  
của chúng đến khả năng nhân nhanh chồi nhằm thay thế chất hữu cơ bổ sung  
hữu cơ. Kết quả cho thấy, môi trường có bổ sung chất ĐHST đã ảnh hưởng  
tích cực đến sự hình thành chồi so với môi trường không bổ sung chất ĐHST,  
và khả năng hình thành chồi cao hơn đáng kể ở môi trường chỉ bổ sung KIN  
so với các môi trường bổ sung KIN + NAA (Bảng 3.4). Sự nhân chồi tốt nhất  
với tỉ lệ mẫu tạo chồi đạt 84,44% và số chồi/mẫu PLB đạt 15,33 khi nuôi cấy  
trên môi trường bổ sung 1,5 mg/L KIN, chồi cao trung bình khoảng 0,3 - 0,4  
cm, với khoảng 2 lá/chồi, chồi khỏe mạnh.  
3.2.4. Khả năng tăng trưởng chiều cao chồi  
Wu và ctv (2014) đã cấy chuyển chồi lan Huyết nhung trơn trên môi  
trường Hyponex N016 có bổ sung 0,5 mg/L NAA + 1,0 g/L pepton + 150  
g/L BE + 20% CW cho sự sinh trưởng của cây con, với chiều cao đạt 3,63  
cm sau 8 tuần. Mặc dù khả năng nhân nhanh chồi từ PLB thu được trong  
nghiên cứu hiện tại là khá cao, nhưng chồi có chiều cao tương đối thấp; vì  
vậy, chúng tôi đã khảo sát ảnh hưởng của BA kết hợp với NAA ở các mức  
nồng độ khác nhau đến khả năng tăng trưởng của chồi (Bảng 3.5).  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 32 trang yennguyen 20660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Xây dựng quy trình sản xuất cây giống in vitro hai loài phong lan có giá trị cao: Cẩm báo (Hyglohilus parishii Pfitz.) và Huyết nhung trơn (Renanthera imschootiana Rolfe)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_xay_dung_quy_trinh_san_xuat_cay_giong.pdf