Báo cáo Đề tài Các yếu tố cấu thành của thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
----------000----------  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ  
Đề tài:  
CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CỦA THƯƠNG HIỆU DOANH  
NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thu Hương  
Thành viên:  
ThS. Đào Cao Sơn  
Hà Nội, 04/2017  
 
TÓM LƯỢC  
Thời gian qua Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại với  
các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thể hiện xu hướng kết nối trong bối cảnh  
khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng thu hẹp lại bởi sự dịch chuyển của dòng  
hàng hoá, tiền tệ, con người và thông tin.  
Cùng với tiến trình đó, các loại hình phân phối bán lẻ hiện đại theo mô hình như  
siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại đã xuất hiện và ngày càng phổ biến tại  
một số đô thị ở Việt Nam nhằm mục đích đáp ứng tốt hơn nhu cầu mua sắm ngày càng  
cao của người dân. Đây vừa là cơ hội đồng thời cũng là thách thức cho doanh nghiệp trong  
kinh doanh bán lẻ, đặc biệt là các doanh nghiệp của Việt Nam. Để có thể tồn tại và phát  
triển thì doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần có chiến lược phản ứng lại trước sự xuất hiện  
đông đảo của các doanh nghiệp, các thương hiệu bán lẻ nước ngoài bằng sự đầu tư hợp lý,  
tái cơ cấu, hình thành các chuỗi liên kết… trong đó sự cần thiết cần phải tạo dựng hình ảnh  
thương hiệu và duy trì, phát triển hình ảnh đó theo thời gian.  
Tính đến thời điểm nghiên cứu, công trình nghiên cứu về thương hiệu của doanh  
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ còn tương đối hạn chế. Xuất phát từ đó, việc  
nghiên cứu “Các yếu tố cấu thành của thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam –  
Thực trạng và giải pháp” là thực sự cần thiết. Đề tài đã tập trung giải quyết một số vấn  
đề về (1) Hệ thống hoá lý luận về thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ; (2) Phân tích  
và đánh giá thực trạng yếu tố cấu thành thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ, tìm ra  
những kết quả mà các doanh nghiệp đã đạt được cũng như những tồn tại, chỉ ra nguyên  
nhân của những tồn tại; (3) Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục  
những hạn chế của các doanh nghiệp bán lẻ trong vấn đề xây dựng thương hiệu của  
mình dựa trên các yếu tố cấu thành thương hiệu được nghiên cứu.  
Bên cạnh những kết quả về nghiên cứu, đề tài cũng là cơ sở, bản tham chiếu  
cho các công trình của các nhà nghiên cứu cùng lĩnh vực trong và ngoài trường Đại  
học Thương mại, góp phần phát triển sâu rộng hơn các hoạt động quản trị thương  
hiệu.  
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình thực hiện đề tài “Các yếu tố cấu thành của thương hiệu  
doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, nhóm nghiên cứu đã  
nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo Ban Giám Hiệu Trường Đại  
học Thương Mại, Phòng Quản lý Khoa học, Khoa Marketing, Bộ môn Quản trị  
Thương hiệu. Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành!  
Xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ nhóm  
nghiên cứu thu thập dữ liệu khảo sát cho đề tài.  
Cuối cùng, nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn với những người thân  
trong gia đình, những người đã dành những điều kiện tốt nhất và là nguồn động viên  
để nhóm hoàn thành đề tài.  
Chân thành cảm ơn!  
Nhóm nghiên cứu  
 
MỤC LỤC  
 
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
ASEAN  
DN  
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
Doanh nghiệp  
FTA  
Hiệp định thương mại tự do  
Nghiên cứu khoa học  
NCKH  
TGDĐ  
TNHH  
WTO  
Thế giới di động  
Trách nhiệm hữu hạn  
Tổ chức thương mại thế giới  
 
PHẦN MỞ ĐẦU  
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Thị trường bán lẻ Việt Nam đã trở thành một trong những tâm điểm nhận được  
sự chú ý đáng kể của khối doanh nghiệp trong và ngoài nước trong thời gian qua.  
Điều này xuất phát từ việc liên tiếp các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và các  
quốc gia, vùng lãnh thổ được ký kết, tạo cơ hội đáng kể để xâm nhập vào thị trường  
Việt trong tương lai gần. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê [36] kết thúc năm 2015,  
tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 2.469,9 nghìn tỉ đồng (tương đương hơn 109,77 tỉ  
USD), tăng 10,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, theo dự báo của các nhà  
nghiên cứu thị trường bán lẻ nổi tiếng như Deloitte và Statista (Đức) thị trường bán  
lẻ Việt Nam sẽ có thể đạt doanh thu hơn 100 tỉ USD vào năm 2016. Hơn nữa, với dân  
số trẻ tăng nhanh về quy mô và thu nhập của tầng lớp trung lưu cũng được cải thiện,  
tình hình chính trị và môi trường xã hội ổn định cùng môi trường kinh doanh ngày  
càng ngày càng được cải thiện cũng sẽ là điểm hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt  
Nam so với một số thị trường khác trong khu vực trong nhận định của nhà đầu tư  
nước ngoài.  
Sự xuất hiện của doanh nghiệp ngoại trong lĩnh vực bán lẻ đã không còn xa lạ với  
người tiêu dùng Việt Nam. Trong vài năm trở lại đây, nhiều thương vụ mua bán và sáp  
nhập của doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam đã khiến cho  
bức tranh thị trường bán lẻ trở nên sôi động và đa dạng hơn bao giờ hết, song mặt khác  
trở thành áp lực lớn đối với doanh nghiệp nội địa. Các doanh nghiệp bán lẻ Việt khó có  
thể khoanh tay đứng nhìn, họ cần có chiến lược phản ứng lại trước sự xuất hiện đông đảo  
của các thương hiệu bán lẻ lớn nước ngoài bằng sự đầu tư hợp lý, bằng tái cơ cấu, hình  
thành các chuỗi liên kết mới hay áp dụng công nghệ kinh doanh hiện đại…. trong đó  
không thể không tạo dựng và phát triển thương hiệu với tầm nhìn dài hạn. Để làm được  
điều đó, bản thân mỗi doanh nghiệp bán lẻ cần ý thức được sự cần thiết của thương hiệu  
trong quá trình phát triển của mình, tăng cường đầu tư tài chính, nhân sự cho đến các  
hoạt động quản trị. Quan trọng hơn là nâng cao nhận thức về thương hiệu bán lẻ bởi thực  
i
   
tế, rất nhiều nhà bán lẻ, đặc biệt là ở quy mô nhỏ, vẫn chưa thể định hướng được từng  
bước đi cho hoạt động xây dựng thương hiệu riêng cho mình.  
Xét về góc độ thực tiễn, việc nghiên cứu về thương hiệu của doanh nghiệp bán  
lẻ sẽ góp phần thúc đẩy tính cạnh tranh cao hơn trên thị trường thể hiện ở hai nhóm  
đối tượng chính là doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp, tìm kiếm  
phương thức tạo dựng thương hiệu cho doanh nghiệp mình sẽ là điều kiện tiên quyết  
cho sự sống còn của doanh nghiệp trong bối cảnh không còn sự giúp sức đến từ phía  
nhà nước. Điều này cũng sẽ dẫn đến sự chết dần của những doanh nghiệp yếu kém,  
không đủ năng lực cung ứng dịch vụ ra thị trường, từ đó, môi trường kinh doanh sẽ  
ngày càng khốc liệt hơn. Đối với người tiêu dùng, sự xuất hiện của nhiều nhà bán lẻ  
trong và ngoài nước cũng sẽ làm tăng thêm mức độ kỳ vọng và yêu cầu. Sự lựa chọn  
của người tiêu dùng sẽ đa dạng hơn, sẽ khó khăn hơn và đòi hỏi doanh nghiệp nhanh  
nhạy nắm bắt cũng như kiên trì để giữ vững niềm tin của khách hàng.  
Xét về góc độ lý thuyết, đã có không ít những công trình, tài liệu của các tổ  
chức, cá nhân nghiên cứu về thương hiệu, hay nghiên cứu về các doanh nghiệp bán  
lẻ. Tuy nhiên, các công trình đó đều chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích về thực tế của  
hoạt động tạo dựng và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ trong bối cảnh  
thị trường Việt Nam. Hơn thế nữa, việc tìm kiếm và phân tích các yếu tố cấu thành  
thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ vẫn còn là một chủ đề còn mới, hầu như chưa  
có công trình nghiên cứu khoa học nào. Điều này sẽ dẫn đến đòi hỏi về khung lý  
thuyết của thương hiệu bán lẻ, từ đó, là cơ sở cho việc áp dụng vào thực tế của doanh  
nghiệp bán lẻ tại Việt Nam.  
Với nhu cầu cấp thiết như vậy, tác giả chọn đề tài: “Các yếu tố cấu thành của  
thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” với mong  
muốn hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố cấu thành thương hiệu bán  
lẻ, trở thành tài liệu sử dụng trong trường đại học, cao đẳng nghiên cứu về Quản trị  
thương hiệu. Bên cạnh đó, đề tài có thể được sử dụng như tài liệu chuyên khảo cho  
các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam để áp dụng và hoạt động thực tế về thương hiệu  
của mình.  
2.Tổng quan công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu  
a. Tổng quan công trình liên quan của nước ngoài  
2
 
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thương hiệu trên nhiều góc  
độ nội dung từ Quản trị thương hiệu nói chung đến các phân nhánh chuyên sâu như  
Đo lường thương hiệu, Định giá thương hiệu, Truyền thông thương hiệu, Thiết kế  
thương hiệu, …Trong đó, nội dung chuyên sâu dành cho thương hiệu của doanh  
nghiệp bán lẻ có thể nói rằng khá đa dạng và thu hút được sự tham gia của nhiều nhà  
nghiên cứu cũng như tổ chức tư vấn nổi tiếng như PwC, McKinsey, …  
Thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ (Retailer’s brand) là chủ đề nhận được  
nhiều sự quan tâm của một số học giả nghiên cứu chuyên sâu về marketing và thương  
hiệu như Keller (2003), J.N Kapferer (2008), Kotler (2012), Ailawadi (2004),  
Allaway (2011), Kumar (2007), Jesko & Dennis (2013), Sullivan & Adcock (2011),  
… Một điểm chung là các công trình nghiên cứu đều thừa nhận thương hiệu có vai  
trò quan trọng trong việc duy trì lòng trung thành của khách hàng đối với cơ sở bán  
lẻ thông qua việc tạo dựng hình ảnh và định vị hình ảnh đó trong tâm trí khách hàng  
bằng các liên tưởng thương hiệu độc đáo gắn liền với các yếu tố của hoạt động  
marketing bán lẻ.  
“Tạo dựng và duy trì một thương hiệu mạnh trong bán lẻ” cần 3 yếu tố: “Art”,  
“Science” và “Craft”. Trong đó, “Art” được hiểu là nghệ thuật cân bằng giữa sự sáng  
tạo và sự thống nhất để gắn thương hiệu với những thể hiện cảm xúc có được từ uy  
tín của doanh nghiệp. “Science” là việc đo lường điểm mạnh và điểm yếu của thương  
hiệu thông qua kênh mua hàng của khách hàng: nơi mà thể hiện sức mạnh của thương  
hiệu nhiều hơn là sức mạnh của nhận thức. “Craft” là việc trình diễn những tinh hoa  
của thương hiệu tại các điểm tiếp xúc thương hiệu [23]. Cơ sở của lập luận này xuất  
phát từ mô hình BrandMatics của McKinsey – nơi mà hai tác giả Jesko và Dennis  
đều đã dành nhiều năm làm việc và tích lũy kinh nghiệm từ công việc tư vấn. Truy  
đến cùng, lý luận mô hình BrandMatics của McKinsey tiếp nhận là từ nghiên cứu của  
Keller (1993) khi coi “Thương hiệu là những hình ảnh trong tâm trí người tiêu dùng.  
Hình ảnh thương hiệu là thứ được phác thảo từ các liên tưởng thương hiệu” [25]. Bốn  
khía cạnh từ mô hình này chia ra để làm tiêu chí xếp các liên kết thành từng nhóm  
gồm: Khía cạnh hữu hình1, Khía cạnh vô hình2, Lợi ích hợp lý3, Lợi ích cảm xúc4.  
Cùng dưới góc nhìn và phân tích như Jesko & Dennis thì Ko Floor (2006) cũng cho  
rằng việc tạo dựng thương hiệu cho cửa hàng bán lẻ cần thông qua việc tạo những kết  
3
nối mang tính cảm xúc với người tiêu dùng. Những kết nối này có thể được hiểu chính  
là những liên tưởng thương hiệu mang lại cho khách hàng thông qua những trải  
nghiệm thực tế, thông qua các chương trình marketing. Tác giả cho rằng tạo dựng  
thương hiệu cho cửa hàng bán lẻ sẽ cần có hoạt động định vị, tạo dựng bản sắc riêng,  
truyền thông thương hiệu, tổ chức hiệu quả cửa hàng, xác định tầm nhìn – giá trị - sứ  
mệnh. Tác giả coi mỗi cửa hàng bán lẻ là một doanh nghiệp nhỏ và theo đó, khách  
hàng sẽ không chỉ thỏa mãn với thương hiệu hiện tại mà còn cần phải cảm thấy hưởng  
thụ thương hiệu đó và sự kỳ vọng này sẽ đòi hỏi ngày càng nhiều theo thời gian [27].  
Đưa ra những chỉ dẫn cụ thể hơn gắn các yếu tố của hoạt động marketing bán  
lẻ, Ailawadi K.L & Keller, K.L (2004) tiếp tục phát triển nghiên cứu của Keller khi  
xem xét thương hiệu bán lẻ như là hình ảnh của các nhà bán lẻ trong tâm trí khách  
hàng. Năm khía cạnh của hình ảnh thương hiệu của nhà bán lẻ5 được nghiên cứu gồm:  
Tiếp cận6 ; Bầu không khí bên trong7; Giá và các chương trình xúc tiến8; Danh mục  
hàng hoá, dịch vụ9; Danh mục thương hiệu10 là những khía cạnh được kế thừa từ một  
số nghiên cứu trong quá khứ và được chọn lựa bởi những ảnh hưởng của nó tới hình  
ảnh thương hiệu tổng thể của doanh nghiệp bán lẻ trong tâm trí người tiêu dùng cuối  
cùng [17]. Tương tự, Sullivan & Adcock (2011) cũng cho rằng việc tạo dựng thương  
hiệu không chỉ đơn thuần là sự tổng hợp của các phần trong hoạt động marketing bán  
lẻ mà đó là việc khách hàng nhận được một gói tổng thể11 từ sự phấn đấu không  
ngừng của doanh nghiệp để đạt được tính nhất quán trong việc truyền tải thông điệp.  
Theo đó, 8 yếu tố của marketing bán lẻ sẽ tạo nên một gói tổng thể cho khách hàng  
hay chính là Hàng hoá chào mua tổng thể 12 gồm: Địa điểm và Hình ảnh cảm nhận13  
(Địa điểm vật lý/ ảo; Hình ảnh nhà bán lẻ; Định vị và Danh tiếng)14; Môi trường bên  
trong và sản phẩm cốt lõi15(Bầu không khí/ Môi trường bên trong; danh mục hàng  
hoá được chào mua)16); Các kích thích bên trong17 (Giá bán/ Giá trị cảm nhận, Tác  
động của xúc tiến, Cấp độ dịch vụ trước, trong và sau bán)18 ; Mối quan hệ và xây  
dựng lòng trung thành19 (Sức mạnh của bất kỳ mối quan hệ nào có tác động)20 . Chi  
tiết hơn, nhóm tác giả đánh giá rằng hình ảnh nhà bán lẻ chịu tác động từ hỗn hợp21  
môi trường vật chất, không khí hiện tại, sự thuận tiện, đối tượng khách hàng, hàng  
hoá hiện hữu, dịch vụ và những đối tượng khác (có thể hữu hình hoặc có thể chỉ là  
cảm nhận). Và thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ được hình thành từ tất cả những  
4
gì hữu hình, tất cả những cố gắng của doanh nghiệp để khiến khách hàng nhận được  
một thông điệp nhất quán và đồng bộ trong suốt quá trình trước, trong và sau mua  
[30].  
Nếu như Ailawadi (2004) mang tới phần tổng hợp nền tảng từ nhiều nghiên  
cứu liên quan đến hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ, Sullivan (2011)  
phân tích về thương hiệu dưới góc độ của các yếu tố marketing bán lẻ thì Jesko &  
Dennis (2011) đi cụ thể hơn các công cụ mà McKinsey đã phát triển để gợi ý cho  
doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động quản trị thương hiệu bán lẻ. Đáng chú ý có  
“Retail Pentagon” được phát triển như một dạng khung để làm nổi bật năm yếu tố  
của một thành viên chuẩn22 gồm: Giá, Dịch vụ, Sự thuận tiện, Trải nghiệm mua hàng  
và Danh mục.  
Từ đây, nhóm tác giả nhận thấy rằng nền tảng nghiên cứu về thương hiệu của  
doanh nghiệp bán lẻ, xây dựng thương hiệu trong lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ  
đã được tìm hiểu nghiên cứu. Nhóm tác giả kế thừa quan điểm về thương hiệu từ  
Keller (2003), những phân tích về 5 khía cạnh của hình ảnh nhà bán lẻ của Ailawadi  
K.L & Keller, K.L (2004) để từ đó, ứng dụng phân tích vào thực tế của doanh nghiệp  
Việt Nam. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng tiếp thu những phân tích từ Kafperer  
(2008) về thương hiệu trong lĩnh vực dịch vụ, thương hiệu của nhà phân phối và  
thương hiệu của nhà bán lẻ để bổ sung yếu tố cấu thành hình ảnh thương hiệu nhà  
bán lẻ là “Nhân viên”.  
Tóm lại, với quá trình tham khảo của nhóm tác giả, nền tảng nghiên cứu của  
các học giả nước ngoài về thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ đã được hình thành  
và là cơ sở lý luận để chủ nhiệm đề tài cùng các thành viên nghiên cứu vào bối cảnh  
của Việt Nam.  
b. Trong nước  
Tại Việt Nam, nghiên cứu lý thuyết và thực tế về thương hiệu nhận được sự  
quan tâm của giới học thuật cũng như doanh nghiệp trong vài năm trở lại đây. Điều  
này thể hiện thông qua số lượng sách, luận văn đại học, luận văn thạc sỹ và luận án  
tiến sỹ nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề thương hiệu. Nội dung tài liệu về thương  
hiệu hiện nay ở Việt Nam khá đa dạng, từ những cuốn sách giới thiệu nhiều phần nội  
dung từ chiến lược thương hiệu tới các hoạt động tác nghiệp cụ thể trong quản trị  
5
thương hiệu như Nguyễn Quốc Thịnh và Nguyễn Thành Trung (2009), Dương Hữu  
Hạnh (2005), Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2008), … đến những cuốn sách có nội dung  
chuyên sâu như Richard Moore (2009), …  
Bên cạnh nghiên cứu về thương hiệu, công trình nghiên cứu về lĩnh vực bán  
lẻ có thể nói là vô cùng đa dạng và phong phú với hướng tiếp cận về kỹ năng trong  
kinh doanh bán lẻ như bộ sách của Alphabooks (2015) và gần đây là công trình của  
Đào Xuân Khương (2016) đánh gía về mô hình phân phối và bán lẻ tại Việt Nam.  
Ngoài ra, chủ đề “bán lẻ” được nghiên cứu về mặt lý thuyết nhiều hơn thông qua các  
đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học, như Nguyễn Thị Mai Trang (2006),  
Nguyễn Huy Phong và Phạm Ngọc Thuý (2007), Phạm Thị Thảo (2007), Hà Văn  
Hùng (2012). Điểm chung của những công trình này là đều hướng tới đối tượng cụ  
thể của dịch vụ bán lẻ là siêu thị với hướng nghiên cứu chủ yếu về chất lượng dịch  
vụ cung ứng cho khách hàng.  
Đối với chủ đề về “thương hiệu bán lẻ” có thể kể tới một số công trình nghiên  
cứu như An Thị Thanh Nhàn (2010, 2017), Nguyễn Tất Đạt (2007). Trong đó, bài  
viết của An Thị Thanh Nhàn (2010, 2017) đã giới thiệu các yếu tố cơ bản cấu thành  
hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ, gồm 4 yếu tố chính là: Các nhóm hàng  
hoá (chiều rộng phổ sản phẩm), Sự đa dạng về chủng loại hàng hoá (chiều dài và  
chiều sâu của phổ sản phẩm), Các dịch vụ khách hàng được cung cấp và Mức giá bán  
lẻ; và 6 yếu tố thêm là: Trưng bày hàng hoá, Trang thiết bị cửa hàng, Thời gian mở  
cửa, Địa điểm bán hàng, Hoạt động xúc tiến và Giao tiếp trong bán hàng.  
Nếu như nghiên cứu của An Thị Thanh Nhàn (2010, 2017) mang tính gợi mở về  
việc xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp bán lẻ và có tính chất định hướng các  
yếu tố cấu thành hình ảnh thương hiệu thì nghiên cứu của Nguyễn Tất Đạt (2007) lại  
đánh giá về nhận thức thương hiệu của người tiêu dùng trên thị trường Việt Nam bằng  
ví dụ điển hình là Fivimart để từ đó phân tích bản chất của thương hiệu từ quan điểm  
marketing và quá trình xây dựng và quảng bá thương hiệu.  
Như vậy, có thể thấy, nghiên cứu về thương hiệu bán lẻ tại Việt Nam đã có  
điểm khởi phát, tuy nhiên, nội dung học thuật chuyên sâu thì chưa có nhiều. Nhóm  
nghiên cứu kế thừa các công bố của An Thị Thanh Nhàn (2010, 2017) về các yếu tố  
6
cấu thành hình ảnh thương hiệu để tiếp tục phân tích đối với doanh nghiệp bán lẻ Việt  
Nam, đặc biệt là đối với các nhà bán lẻ mặt hàng điện tử - điện máy.  
3. Đối tượng nghiên cứu  
Đề tài tập trung nghiên cứu những đối tượng sau:  
- Yếu tố cấu thành của thương hiệu bán lẻ, cụ thể là thương hiệu doanh nghiệp  
bán lẻ. Trong đó, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu chi tiết về yếu tố cấu thành  
hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ.  
- Đánh giá của người tiêu dùng là khách hàng cuối cùng đối với yếu tố cấu thành  
thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ, cụ thể là yếu tố cấu thành hình ảnh thương  
hiệu doanh nghiệp bán lẻ  
- Một số gợi ý cho doanh nghiệp dựa trên kết quả phân tích đánh giá của khách  
hàng về các yếu tố cấu thành hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp bán để phục  
vụ cho hoạt động quản trị thương hiệu.  
4. Mục tiêu nghiên cứu  
Đề tài hướng đến mục tiêu là: Đưa ra một số gợi dựa trên đề xuất với từng yếu  
tố cấu thành thương hiệu bán lẻ, cụ thể là các yếu tố đặc trưng cấu thành hình ảnh  
thương hiệu bán lẻ. Từ đó, một số mục tiêu cụ thể được đề ra gồm:  
(1) Hệ thống hoá lý luận về thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ, trong đó tập  
trung đi sâu vào phần lý thuyết liên quan đến yếu tố cấu thành hình ảnh thương hiệu  
doanh nghiệp bán lẻ theo đánh giá của khách hàng.  
(2) Phân tích và đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành thương hiệu doanh  
nghiệp bán lẻ dựa trên đánh giá của khách hàng, từ đó, tìm ra những kết quả mà các  
doanh nghiệp đã đạt được cũng như những tồn tại, chỉ ra nguyên nhân của những tồn  
tại.  
(3) Đưa ra một số gợi ý dựa trên kết quả đánh giá của khách hàng về các yếu  
tố cấu thành thương hiệu bán lẻ, mà cụ thể là yếu tố cấu thành hình ảnh thương hiệu  
doanh nghiệp bán lẻ nhằm khắc phục những hạn chế của doanh nghiệp trong vấn đề  
xây dựng thương hiệu.  
5. Phạm vi nghiên cứu  
a. Về nội dung  
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài sẽ tiếp cận như sau:  
7
     
- Thuật ngữ “Thương hiệu”. Đề tài tiếp cận “Thương hiệu là một hoặc một  
tập hợp dấu hiệu nhận biết, phân biệt sản phẩm, doanh nghiệp và là hình tượng trong  
tâm trí công chúng” [1]. Theo đó, các yếu tố cấu thành thương hiệu được chia thành  
2 nhóm: (1) Nhóm yếu tố hữu hình và (2) Hình ảnh thương hiệu. Nhóm yếu tố hữu  
hình là những dấu hiệu mà khách hàng, công chúng có thể sử dụng 5 giác quan để  
nhận biết sản phẩm, doanh nghiệp và phân biệt sản phẩm, doanh nghiệp này với doanh  
nghiệp khác. Nhóm này gồm: Tên thương hiệu, Khẩu hiệu, Logo, Kiểu dáng cá biệt  
của hàng hoá, Kiểu dáng cá biệt của bao bì và Các yếu tố khác như Màu sắc, Mùi,  
Vị, …Trong khi đó, hình ảnh thương hiệu là “yếu tố vô hình”. Hình ảnh thương hiệu  
là góc nhìn của khách hàng về thương hiệu trong tâm trí của họ; được thể hiện thông  
qua các liên kết thương hiệu mà thương hiệu đó tạo dựng được và được khách hàng  
tiêu dùng ghi nhận. Hình ảnh thương hiệu phản ánh mức độ hài lòng và sự kỳ vọng  
của khách hàng về thương hiệu. Đó là yếu tố khách hàng sử dụng trong quá trình  
quyết định lựa chọn tiêu dùng hàng hóa. Hình ảnh thương hiệu ảnh hưởng lớn đến sự  
hiểu biết cũng như nhận thức về thương hiệu của khách hàng mục tiêu [4]. Hình ảnh  
thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ là tập hợp các liên tưởng của khách hàng về 7 yếu  
tố của nhà bán lẻ, đó là: (1) Tiếp cận, (2) Danh mục hàng hoá, thương hiệu, (3) Giá,  
(4) Các chương trình xúc tiến, (5) Bầu không khí, (6) Nhân viên và (7) Các yếu tố  
khác như Dịch vụ hỗ trợ, Thời gian chờ.  
- Bán lẻ được hiểu là một hoạt động thuộc dịch vụ phân phối, là hoạt động  
bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Cơ sở bán lẻ là đơn vị thuộc sở  
hữu của doanh nghiệp để thực hiện việc bán lẻ. Doanh nghiệp được nghiên cứu trong  
đề tài sở hữu nhiều hơn 1 cơ sở bán lẻ.  
- Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, phần nhận diện thương hiệu của cơ sở bán  
lẻ chính là một phần hoặc là toàn bộ phần nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp.  
Tuy nhiên, đề tài tập trung nghiên cứu về đánh giá của khách hàng đối với nhóm yếu  
tố cấu thành thứ 2 của thương hiệu là “Hình ảnh thương hiệu” của doanh nghiệp bán  
lẻ. Hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp bán lẻ là sự thể hiện của doanh nghiệp đó  
trong tâm trí khách hàng, và hình ảnh thương hiệu được tạo thành từ những liên tưởng  
mà khách hàng có đối với hoạt động marketing nói riêng và hoạt động kinh doanh  
nói chung của doanh nghiệp đó.  
8
b.Về không gian:  
- Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam được nghiên cứu trong đề tài là doanh nghiệp  
kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ tại thị trường Việt Nam với hàng  
hoá chào bán là hàng hoá hữu hình có kèm dịch vụ. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài,  
nhóm tác giả lựa chọn hàng hoá thuộc ngành hàng điện tử - điện máy làm trọng tâm  
nghiên cứu, từ đó, những đánh giá và gợi ý đề xuất cũng dành cho doanh nghiệp bán  
lẻ các mặt hàng này.  
- Theo Danh mục ngành sản phẩm, căn cứ Quyết định 39/2010/QĐ-TTg ngày 11  
tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, các mặt hàng điện tử - điện máy thuộc mã  
ngành C 26 gồm sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học.  
- Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội, với lựa chọn doanh nghiệp  
điển hình nghiên cứu dựa trên 2 tiêu chí: (1) Thời gian xuất hiện và phát triển đến  
hiện tại, (2) Loại hình cơ sở bán lẻ dựa trên diện tích mặt bằng kinh doanh. Trên cơ  
sở đó, nhóm nghiên lựa chọn 2 thương hiệu là Pico và Thế giới di động (Xem thêm  
phần Phụ lục 5).  
c. Về thời gian:  
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố cấu thành hình ảnh thương hiệu của  
doanh nghiệp bán lẻ và những đánh giá của khách hàng trong thời gian 2017, từ đó,  
đưa ra định hướng đề xuất hướng tới 2020.  
6. Phương pháp nghiên cứu  
a. Loại dữ liệu  
Dữ liệu định tính: Các kết quả nghiên cứu phân tích từ các bài báo khoa học  
đã được công bố trên các tạp chí, hội thảo khoa học chuyên ngành trong và ngoài  
nước, sách đã xuất bản thuộc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.  
Dữ liệu định lượng: được thu thập từ khảo sát đối với khách hàng là người tiêu  
dùng cuối cùng. Kết quả thu thập dữ liệu tại Phụ lục 1.  
b. Phương pháp thu thập dữ liệu  
Dữ liệu thứ cấp: Được thu thập thông qua sách, báo, tạp chí và các ấn phẩm  
chuyên biệt, là những dữ liệu đã được công bố trong các công trình nghiên cứu trong  
khả năng tìm hiểu của nhóm tác giả. Kênh thu thập dữ liệu thứ cấp được sử dụng chủ  
yếu là từ Internet.  
9
 
Dữ liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua khảo sát điều tra với thông tin như sau:  
- Phương pháp lấy mẫu khảo sát: Xác suất ngẫu nhiên.  
- Số lượng mẫu khảo sát: 170/190 phiếu hợp lệ, chiếm 89.47%  
- Địa điểm khảo sát: Hà Nội  
- Thời gian khảo sát: Tháng 2/2017 – tháng 03/2017  
- Mục tiêu: Thu thập đánh giá về các yếu tố cấu thành thương hiệu doanh  
nghiệp bán lẻ của người tiêu dùng. Yếu tố cấu thành của thương hiệu doanh nghiệp  
bán lẻ gồm (1) Tiếp cận; (2) Danh mục hàng hoá, thương hiệu; (3) Giá; (4) Các  
chương trình xúc tiến; (5) Bầu không khí; (6) Nhân viên; (7) Các yếu tố khác.  
- Quy trình khảo sát:  
o Thiết kế bảng câu hỏi dựa trên kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp đối với  
nội dung đánh giá các yếu tố cấu thành và đánh giá chủ quan của nhóm  
nghiên cứu. Phiếu khảo sát trước điều chỉnh xem chi tiết tại Phụ lục 3.1.  
o Khảo sát thử nghiệm. Khảo sát thử nghiệm với 20 phiếu. Cách thức  
chọn đối tượng khảo sát là xác suất ngẫu nhiên, khu vực lựa chọn là tại  
quận Cầu Giấy (khu vực đường Dương Khuê, Xuân Thuỷ). Kết quả thử  
nghiệm xem chi tiết tại Phụ lục 2.  
o Điều chỉnh phiếu khảo sát. Những nội dung điều chỉnh xem chi tiết tại  
Phụ lục 3.2. Phiếu khảo sát sau điều chỉnh xem chi tiết tại Phụ lục 3.3.  
o Phát phiếu khảo sát tại khu vực: Quận Cầu Giấy (cụ thể, khu vực đường  
Hồ Tùng Mậu, đường Trần Bình, đường Dương Khuê, đường Xuân  
Thuỷ), Quận Tây Hồ (cụ thể, khu vực đường Lạc Long Quân, đường  
Xuân Đỉnh). Bản đồ phát phiếu xem chi tiết tại Phụ lục 4.  
o Mô tả quá trình phát phiếu: Nhóm nghiên cứu chia thành 2 nhóm. Nhóm  
1 phát phiếu trực tiếp với cư dân xung quanh khu vực điểm bán hàng,  
Nhóm 2 gửi phiếu tới người tiêu dùng – là những người đã mua hàng  
hoá từ nhà bán lẻ được khảo sát – tại khu vực sinh sống lân cận.  
c. Phương pháp xử lý dữ liệu  
Đề tài sử dụng các các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp  
hệ thống hóa, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích thực chứng, phương  
pháp so sánh đối chiếu để phân tích diễn giải các kết quả nghiên cứu và chương trình  
10  
phần mềm như Microsoft Excel được sử dụng để xử lý tổng hợp thông tin, dữ liệu và  
thống kê trong nghiên cứu của đề tài. (Xem thêm tại Phụ lục 6)  
11  
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG HIỆU  
DOANH NGHIỆP BÁN LẺ  
1.1 Tiếp cận thương hiệu dịch vụ  
1.1.1 Quan điểm về dịch vụ  
a. Khái niệm về dịch vụ  
Ngày nay, khái niệm về dịch vụ về cơ bản đã được thừa nhận chung. Điểm  
khác biệt ở chỗ, mỗi lĩnh vực nghiên cứu dịch vụ ở góc nhìn chuyên sâu khác nhau.  
Cụ thể, Marketing nghiên cứu dịch vụ là quy trình hoạt động với mối quan hệ nhân –  
quả mà đối tượng chính là đơn vị cung ứng dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ [4];  
Kinh tế học nghiên cứu dịch vụ là "một ngành kinh tế thực hiện quá trình lưư thông  
trao đổi hàng hóa và thực hiện các công việc phục vụ tiêu dùng của sản xuất và dân  
cư trên thị trường". (Cao Minh Nghĩa – Viện Nghiên cứu phát triển Tp Hồ Chí Minh)  
[31].  
Trong nghiên cứu này, dịch vụ được tiếp cận dưới góc nhìn về Marketing với  
2 quan điểm cơ bản:  
- Kotler (2008) cho rằng "Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có  
thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở  
hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản  
phẩm vật chất" [4]  
- Lưu Văn Nghiêm (2008) cho rằng "Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các  
nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa nhà cung cấp với  
khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở  
hữu. Sản phẩm dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản  
xuất vật chất." [9]  
Có thể nhận thấy rằng những cách hiểu trên đều nêu bật những đặc điểm cơ bản  
của dịch vụ, đó là: (1) Tính vô hình; (2) Tính không lưu trữ được và (3) Quá trình  
cung ứng và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời.  
c. Phân loại dịch vụ  
1
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 107 trang yennguyen 20180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Các yếu tố cấu thành của thương hiệu doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_cac_yeu_to_cau_thanh_cua_thuong_hieu_doanh_ng.pdf