Báo cáo Đề tài Xác định nội hàm hệ thống thuật ngữ về các loại và thể loại văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trung ương Việt Nam giai đoạn từ năm 2000-2010

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
BỘ NỘI VỤ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI  
––––––––––––––––  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG  
XÁC ĐỊNH NỘI HÀM HỆ THỐNG THUẬT NGỮ VỀ CÁC LOẠI  
VÀ THỂ LOẠI VĂN BẢN HÌNH THÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG  
CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG  
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000-2010  
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Cảnh Đương  
Hà Nội, năm 2012  
1
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
BỘ NỘI VỤ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI  
––––––––––––––––  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG  
XÁC ĐỊNH NỘI HÀM HỆ THỐNG THUẬT NGỮ VỀ CÁC LOẠI  
VÀ THỂ LOẠI VĂN BẢN HÌNH THÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG  
CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG  
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000-2010  
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Cảnh Đương  
Thành viên tham gia: Nguyễn Mạnh Cường  
Trần Thị Hạnh  
Nguyễn Thị Thuý Hằng  
Trần Văn Quang  
Hà Nội, năm 2012  
2
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT  
Cơ quan  
CQ  
Định nghĩa  
Đn  
Khoa học - Công nghệ  
Quy phạm pháp luật  
Tài liệu  
KHCN  
QPPL  
TL  
Tổ chức  
TC  
Văn bản quản lý nhà nước  
Việt Nam  
VBQLNN  
VN  
3
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Hiện nay, trong việc dạy - học ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng  
cũng như ở các cơ sở đào tạo khác về các chuyên ngành mà trong chương trình  
đào tạo bắt buộc có học phần, nội dung liên quan đến công tác như: soạn thảo,  
ban hành, quản lý và sử dụng văn bản quản lý nhà nước chưa có một công trình  
nghiên cứu nào có tính toàn diện và chuyên sâu để xác định nội hàm các thuật  
ngữ về các loại và thể loại văn bản quản lý nhà nước được hình thành trong hoạt  
động của các cơ quan nhà nước Việt Nam.  
Nguyên nhân cơ bản của tình hình nêu trên là do thiếu tính cập nhật các  
văn bản qui phạm pháp luật hiện hành và chưa có sự tổng kết cần thiết về thành  
tựu đã có về hướng nghiên cứu này ở trong cũng như ngoài nước. Ví dụ, ngay  
một số công trình nghiên cứu gần đây nhất, khi giải thích thuật ngữ cơ bản có  
liên quan đến nội dung của hướng nghiên cứu của đề tài như thuật ngữ “Tài  
liệu” vẫn chưa phân tích sự khác biệt của nó với thuật ngữ “Văn bản”, đặc biệt  
là còn nhấn mạnh tới phương diện vật mang tin với tư cách là một phương diện  
chủ yếu trong các nội hàm của hai thuật ngữ này. Trong khi đó, ở thế giới,  
phương diện này đang dần dần được coi là thứ yếu do xu hướng điện tử hóa,  
hiện đại hóa quá trình soạn thảo, bản hành, giải quyết và quản lý văn bản trong  
các cơ quan quản lý nhà nước. Thậm chí có một số tác giả, đó đây, còn chưa  
chuẩn xác khi giải thích nội hàm một số thuật ngữ về một số thể loại văn bản.  
Trong khi đó, công cuộc cải cách toàn diện và sâu rộng nền hành chính  
nước ta theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế đòi hỏi phải chuẩn xác hóa, nhất  
thể hóa, thống nhất hóa, đặc biệt là phải qui chuẩn hóa và công khai hóa các thủ  
tục hành chính, trong đó có thủ tục văn thư với nội dung cơ bản là soạn thảo,  
ban hành, giải quyết và quản lý văn bản hình thành trong quá trình hoạt động  
quản lý nhà nước nói chung và ở các cơ quan quản lý văn bản hành chính nhà  
nước ở Trung ương nói riêng. Đến lượt mình, việc ban hành và tổ chức thực  
4
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
hiện thủ tục văn thư một cách có hiệu quả không thể không nghiên cứu để chuẩn  
hóa và thống nhất cách giải thích nội hàm hệ thống thuật ngữ về loại và thể loại  
văn bản hình thành trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước nói chung và ở  
các cơ quan quản lý văn bản hành chính nhà nước ở Trung ương nói riêng. Như  
vậy, xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc nghiên cứu để xác định nội hàm  
hệ thống thuật ngữ về các loại và thể loại văn bản hình thành trong hoạt động  
của các cơ quan quản lý nhà nước ta hiện nay là tối cần thiết và rất cấp bách.  
Xuất phát từ những lý do nêu trên tác giả đã đề xuất và được Hiệu trưởng  
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội cho phép triển khai nghiên cứu đề tài cấp  
Trường với tên gọi: “Xác định nội hàm hệ thống thuật ngữ về các loại và thể  
loại văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước  
trung ương Việt Nam giai đoạn từ năm 2000-2010”.  
2. Lịch sử nghiên cứu  
Trước hết là tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. Theo kết quả nghiên cứu  
của chúng tôi, cơ quan nghiên khoa học chuyên ngành về văn thư - lưu trữ là  
Trung tâm Khoa học và Công nghệ Văn thư - Lưu trữ của Cục Văn thư và Lưu  
trữ nhà nước, các cơ nghiên cứu khoa học khác ở nước ta và các cơ sở đào tạo  
về chuyên ngành văn thư - lưu trữ như: Khoa lưu trữ học và Quản trị văn phòng  
(Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội),  
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội cũng như Học viện Hành chính thuộc Học viên  
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - nơi có đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật xây  
dưng văn bản quản lý nhà nước, đều chưa thực hiện công trình nghiên cứu nào  
về đề tài này, có chăng chỉ trong một số công trình nghiên cứu có đề cập một  
cách sơ lược, chưa toàn diện về nội dung của đề tài này. Cụ thể là, các công  
trình tiêu biểu như: “Từ điển thuật ngữ Lưu trữ Việt Nam” (1992), Đề tài nghiên  
cứu khoa học cấp Bộ với tên gọi “Xây dựng hệ thống thuật ngữ Văn thư Việt  
Nam” (năm 2008) do tác giả Trần Quốc Thắng - Phó Cục trưởng Cục Văn Thư  
và Lưu trữ Việt Nam thực hiện hoặc Đề tài cấp Bộ với tên gọi “Xây dựng hệ  
5
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
thống thuật ngữ Lưu trữ Việt Nam” (2008) do tác giả Vũ Thị Minh Hương - Cục  
trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước thực hiện, tuy có nêu và định nghĩa  
một số thuật ngữ về loại và thể loại văn bản thường gặp trong công tác văn thư -  
lưu trữ nhưng chưa có sự xem xét chúng từ góc độ phân tích nội hàm của chúng  
và đặc biệt là chưa có sự liên kết giữa chúng với nhau trong một tổng thể. Tình  
hình tương tự cũng xảy ra với một loạt các công trình nghiên cứu khác - những  
công trình được sử dụng làm tài liệu giảng dạy hiện nay ở các cơ sở đào tạo ở  
nước ta - của các tác giả như: Vương Đình Quyền (Ch.biên và tác giả) với các  
công trình: Văn bản và lưu trữ học đại cương, H: Giáo dục. 1996, Lý luận và  
phương pháp công tác văn thư, H. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, Văn bản  
quản lý nhà nước và công tác công văn, giấy tờ thời phong kiến Việt Nam, H.  
CTQG. 2002; Lưu Kiếm Thanh (Ch.b), Nguyễn Văn Thâm, Giáo trình kỹ thuật  
xây dựng và ban hành văn bản, H. Giáo dục. 2006 và. Nguyễn Văn Thâm, Soạn  
thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước, – H. CTQG. 2010; Nghiêm Kỳ Hồng và  
các tác giả khác, Nghiệp vụ thư ký văn phòng hiện đại, Nxb. “Lao Động”. H-  
2009; Lê Văn In, Soạn thảo văn bản và các mẫu tham khảo trong hoạt động  
quản lý và kinh doanh, Nxb .“Chính trị quốc gia”. H-2010; Dương Văn Khảm,  
Từ điển giải thích nghiệp vụ văn thư lưu trữ. Nxb, “Văn hóa thông tin”. H-2011  
và một số bài báo của các tác giả khác đăng tải trên Tạp chí Văn thư - Lưu trữ  
Việt Nam. Ví dụ, tác giả công trình “Soạn thảo văn bản và các mẫu tham khảo  
trong hoạt động quản lý và kinh doanh”. Nxb.“Chính trị quốc gia”. H-2010 đã  
định nghĩa “Công văn” như sau: “Là thư công dùng để liên hệ giao dịch giải  
quyết công việc mang tính hành chính với các cơ quan khác” (tr.57). Sự thiếu  
chuẩn xác của định nghĩa này là sử dụng khái niệm “thư công” - là một thể loại  
văn bản có tên gọi để định nghĩa cho một văn bản không có tên loại cụ thể. Có  
thể đưa ra định nghĩa về “Công văn” mà tác giả khác đã nêu ra để khẳng định  
tính thiếu nhất quán hiện nay trong hướng nghiên cứu này. Đó là định nghĩa về  
“Công văn” do các tác giả của cuốn “Hướng dẫn kỹ thuật nghiệp vụ hành chính”  
do nhà xuất bản Thống kê ấn hành năm 1999: “Là một loại văn bản hành chính  
6
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
không có tên loại, được dùng để thông tin trong hoạt động giao dịch, trao đổi  
công tác vv… giữa các chủ thể có thẩm quyền để giải quyết các nhiệm vụ có  
liên quan” (Tr.170). Trên đây là khái quát tình hình nghiên cứu về vấn đề cần  
nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài ở trong nước.  
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Ở một số nước và các tổ chức thế gới  
cũng đã có những công trình công bố đề cập đến một số nội dung nghiên cứu  
tương tự của đề tài này. Ví dụ, ở Nga có “Từ điển các thuật ngữ chuyên sâu về  
các loại và thể loại tài liệu”, Từ điển “Thuật ngữ lưu trữ hiện đại của các nước  
xã hội chủ nghĩa” (1982), Tổ chức ICA (Hội đồng Lưu trữ quốc tế) xuất bản  
“Từ điển thuật ngữ Lưu trữ” hoặc ở Liên bang Đức có công trình nghiên cứu của  
Barbara Craig “Xác định giá trị lưu trữ” (2004) đều đưa ra định nghĩa về một số  
loại và thể loại văn bản.Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu khác có  
liên quan đến đề tài này. Nhưng ở các công trình nghiên cứu này cũng chỉ đưa ra  
định nghĩa mà không nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu để xác định nội hàm  
của các thuật ngữ văn bản quản lý nhà nước.  
3. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở thống kê, hệ thống hóa và xác định rõ nội hàm các thuật ngữ  
về các loại và thể loại văn bản quản lý nhà nước hình thành trong hoạt động của  
các cơ quan Nhà nước ở cấp Trung ương Việt Nam đưa ra định nghĩa giải thích  
cho từng thuật ngữ đó.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;  
- Phương pháp so sách, thống kê, tổng hợp;  
- Phương pháp phân tích hệ thống;  
- Phương pháp phân tích thông tin;  
- Phương pháp chuyên gia.  
7
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
5. Phạm vi nghiên cứu  
Về nội dung, đề tài chỉ đề cập tới các loại và thể loại văn bản quản lý nhà  
nước, trong đó chủ yếu là văn bản quản lý hành chính nhà nước ở cấp Trung  
ương, bởi vì các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trung ương có tầm quan  
trọng đặc biệt và ảnh hưởng rộng lớn, đồng thời có liên q uan trực tiếp tới công  
cuộc cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay ở nước ta. Trong các cơ quan  
quản lý hành chính nhà nước trung ương , về phạm vi cơ quan, đề tài cũng chỉ  
lựa chọn một số bộ, ngành tiêu biểu cho một số lĩnh vực cơ bản: lĩnh vực nội  
chính, lựa chọn Bộ Nội vụ; lĩnh vực kinh tế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; lĩnh vực  
văn hóa - xã hội lựa chọn Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch; lĩnh vực Khoa học  
- Công nghệ lựa chọn Viện Khoa học - Công nghệ Quốc gia.  
Về thời gian, tuy đề tài có số liệu khảo sát từ năm 2000-2010, nhưng đề  
tài đề cập sâu đến các vấn đề nảy sinh chủ yếu trong 5 năm gần đây để đảm bảo  
vừa có tính kế thừa vừa có tính cập nhật thông tin mới.  
Về các loại văn bản, đề tài chỉ đề cập đến những văn bản qui phạm pháp  
luật, tài liệu hành chính mà không bàn tới tài liệu chuyên ngành cũng như không  
đề cập tới khái niệm “ tài liệu lưu trữ” nói chung và các loại tài liệu lưu trữ cụ  
thể nói riêng.  
6. Nội dung nghiên cứu  
- Khảo sát, thống kê và hệ thống hóa các loại và thể loại văn bản quản lý  
nhà nước hình thành trong hoạt động của một số cơ quan quản lý hành chính nhà  
nước Việt Nam trong 10 năm (từ 2000-2010), đặc biệt là trong các văn bản quy  
phạm pháp luật, các công trình nghiên cứu và các tài liệu nghiệp vụ có liên quan  
đến nội dung nghiên cứu của đề tài;  
- Nghiên cứu, so sánh, phân tích và tổng hợp các định nghĩa về các loại và  
các thể loại văn bản nêu trên;  
8
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
- Nghiên cứu làm sáng rõ các khái niệm cơ bản như: văn bản, văn kiện, tài  
liệu, tư liệu, những đặc điểm cơ bản của văn bản nói chung và văn bản quản lý  
nhà nước nói riêng để làm căn cứ khoa học cho việc giải thích về nội hàm các  
thuật ngữ mà đề tài sẽ đề cập tới;  
- Trên cơ sở kết quả thực hiện các nội dung nêu trên, đưa ra định nghĩa  
thống nhất, chuẩn hóa cho những thuật ngữ về loại và thể loại văn bản quản lý  
nhà nước thuộc phạm vi của đề tài.  
7. Nguồn tài liệu tham khảo  
Đề tài được thực hiện dựa trên kết quả phân tích và tổng hợp các nguồn  
tài liệu có độ tin cậy và rất phong phú đa dạng. Các nguồn tài liệu đó có thể chia  
làm ba nhóm chính: Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu có liên quan  
của các tác giả trong và ngoài nước mà chúng tôi có thể tiếp cận được; Nhóm  
thứ hai là các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, qui chuẩn nghiệp vụ  
trong lĩnh vực văn thư - lưu trữ, trong đó có công tác ban hành văn bản quy  
phạm pháp luật, văn bản hành chính; Nhóm thứ ba là những kết quả khảo sát, ý  
kiến đóng góp của một số chuyên gia, nhà quản lý ở một số cơ quan được khảo  
sát.  
8. Kết cấu của đề tài  
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của đề tài được chia làm ba  
chương:  
Chương 1. Cơ sở lý luận để xác định các loại và thể loại văn bản quản lý  
nhà nước  
Chương 2. Thực trạng của công tác văn bản hóa trong hoạt động của các  
cơ quan nhà nước trung ương Việt Nam giai đoạn 2000-2010  
Chương 3. Nội hàm hệ thống thuật ngữ về các loại và thể loại văn bản  
hình thành trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trung ương.  
9
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
PHẦN NỘI DUNG  
Chương 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN XÁC ĐỊNH CÁC LOẠI VÀ THỂ LOẠI VĂN BẢN  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  
1.1. Một số khái niệm  
1.1.1. Khái niệm “Tài liệu”  
Trước hết, để bàn về loại và thể loại văn bản quản lý nhà nước cần phải  
hiểu thống nhất về thuật ngữ “văn bản” và một số thuật ngữ liên quan khác như:  
tài liệu, văn kiện, tư liệu và văn bản quản lý nhà nước.  
Khái niệm “tài liệu” (TL), tiếng La tinh là “dokumentum”, tiếng Nga là  
“документ”, tiếng Anh là “document” là một trong những thuật ngữ cơ bản, có  
tính phổ biến bậc nhất trong công tác văn thư và lưu trữ cũng như trong hoạt  
động quản lý của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp hiện nay ở trên toàn thế  
giới. Chính vì vậy, việc giải thích có cơ sở khoa học khái niệm “tài liệu” là một  
trong những vấn đề lý luận cơ bản của văn bản học và lưu trữ học. Cho nên làm  
rõ nội dung (nội hàm) của khái niệm này đóng góp phần quan trọng trong việc  
giải quyết thành công, ở một phạm vi rộng lớn, các vấn đề liên quan đến nghiệp  
vụ văn thư - lưu trữ cũng như quản lý hành chính nhà nước. Do đó, trong công  
trình nghiên cứu này chúng tôi cố gắng đưa ra một cách giải thích có cơ sở khoa  
học làm căn cứ phân biệt với các khái niệm khác như “Văn bản”, “Văn kiện” và  
“Tư liệu” với mục đích làm sáng tỏ nội hàm các thuật ngữ về các loại và thể loại  
tài liệu thuộc hệ thống văn bản quản lý nhà nước hình thành trong các cơ quan  
quản lý nhà nước Trung ương Việt Nam.  
Ở nước ta, hai từ “tài liệu” được sử dụng rất rộng rãi trong công tác Văn  
thư - Lưu trữ, song hai từ này chỉ được quan tâm xem xét mới đây với tư cách  
như là một thuật ngữ. Thật vậy, ngay trong từ điển “Thuật ngữ Lưu trữ Việt  
Nam” do Cục Lưu trữ nhà nước xuất bản năm 1992, thuật ngữ này vẫn chưa  
được định nghĩa. Trong khi đó nó được dùng làm từ gốc để định nghĩa cho các  
10  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
loại tài liệu. Cụ thể, theo thống kê của chúng tôi, hai từ này được sử dụng ở đây  
để làm từ gốc cho 29 thuật ngữ phái sinh về các loại tài liệu và 16 năm sau (năm  
2008) trong công trình nghiên cứu khoa học “Xây dựng hệ thống thuật ngữ văn  
thư Việt Nam” do tác giả Trần Quốc Thắng chủ nhiệm, hai từ “tài liệu” mới  
được định nghĩa với tư cách là một thuật ngữ trong công tác Văn thư - Lưu trữ  
Việt Nam. Trong công trình nghiên cứu này, thuật ngữ “tài liệu” được định  
nghĩa như sau:  
Định nghĩa 01 (Đn 01): “Tài liệu là vật mang tin chứa đựng các thông tin  
về các đối tượng của thực tế khách quan hoặc hoạt động tư duy của con người”.  
Phân tích định nghĩa này, ta thấy có ba nội hàm cơ bản. Tài liệu trước hết phải là  
vật mang. Thứ hai, vật mang đó chứa đựng thông tin. Điều cần nhấn mạnh ở  
đây, đã là tài liệu, trước hết phải là vật mang có thông tin phản ánh không chỉ  
hoạt động lao động sản xuất, hoạt động quản lý, hoạt động xã hội mà còn cả  
hoạt động tư duy của con người.  
Định nghĩa tiếp theo được nêu trong “Từ điển giải thích nghiệp vụ văn thư  
lưu trữ Việt Nam” (Nxb. “Văn hóa thông tin”, Hà Nội - năm 2011) thuật ngữ  
“Tài liệu” được giải thích là:  
Đn 02: “Tài liệu”: “Vật mang thông tin làm phương tiện cho các hoạt  
động xã hội”. Phân tích định nghĩa này ta thấy, có ba nội hàm được đưa ra. Thứ  
nhất, tài liệu trước hết là vật mang tin. Thứ hai, vật mang tin đó có thông tin.  
Thứ ba, vật mang thông tin đó phải là phương tiện cho các hoạt động xã hội.  
Điều cần chú ý ở đây là, định nghĩa quan tâm tới khả năng tài liệu có thể làm  
phương tiện cho các hoạt động xã hội. (Nội hàm đó trong định nghĩa này, cần  
được lưu ý khi tiến hành tổng hợp về các nội hàm thuật ngữ “tài liệu”). Hơn nữa,  
để hiểu thống nhất về định nghĩa này cần hiểu thống nhất về cụm từ “các hoạt  
động xã hội”. Lý do là các hoạt động xã hội có thể hiểu theo nghĩa là các hoạt  
động của xã hội loài người mà cũng có thể được hiểu là các hoạt động có tính  
chất thuần túy xã hội để phân biệt với các hoạt động khác như hoạt động sản  
xuất, hoạt động quản lý… Chính vì vậy khi giải thích định nghĩa này, Từ điển đã  
11  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
làm rõ rằng “các hoạt động xã hội” ở đây là được hiểu là “các lĩnh vực hoạt  
động của xã hội”. Cụ thể tác giả cho rằng: “Tài liệu bao gồm các loại văn bản  
quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, hoặc các nguồn tư liệu khác, được ghi  
trên các vật mang tin khác nhau, như trên giấy, băng từ, đĩa từ, thẻ nhớ… dùng  
làm căn cứ để xử lý, giải quyết các công việc thuộc các lĩnh vực hoạt động  
khác nhau của xã hội và lưu trữ các thông tin của những hoạt động đó”. Như  
vậy, theo cách giải thích này, khái niệm “tài liệu” bao gồm cả các nguồn tư liệu  
khác. Nhưng nguồn tư liệu khác là nguồn nào thì chưa được giải thích. Điều  
này rất cần thiết, bởi vì, thuật ngữ “tư liệu”, “nguồn tư liệu” là hai thuật ngữ  
hiện nay tuy đang được sử dụng trong công tác thông tin - thư viện và công tác  
văn thư - lưu trữ nhưng chưa có một giải thích thống nhất.  
Một định nghĩa mới đây nhất về thuật ngữ “tài liệu” là định nghĩa được  
nêu trong Điều 2 Chương I của Luật Lưu trữ được Quốc hội nước Cộng hoà xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11 tháng 11  
năm 2011. Trong Luật này thuật ngữ “tài liệu” được định nghĩa:  
Đn 03: “Là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ  
quan, tổ chức, cá nhân”. Ở định nghĩa này, ngoài hai yếu tố nêu trên, yếu tố “vật  
mang” và “thông tin” có thêm một yếu tố thứ ba là nguồn gốc xuất xứ “hình  
thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Trong phần giải thích,  
Luật đã qui định rằng “Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ,  
công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi  
phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học,  
nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc  
in; ấn phẩm và vật mang tin khác”. Phân tích định nghĩa và cách giải thích trong  
Luật này, chúng ta thấy, thuật ngữ “tài liệu” được hiểu rất rộng: là vật mang tin  
với điều kiện duy nhất là vật mang tin đó hình thành nên trong quá trình hoạt  
động của cơ quan, tổ chức và của cá nhân. Nó bao gồm tất cả các vật mang tin,  
kể cả những vật mang tin được bao hàm bởi thuật ngữ “văn bản”. Rõ ràng đây  
là một sự giải thích chưa logic về nội hàm của thuật ngữ. Thật vậy, thuật ngữ  
12  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
“văn bản” có nội hàm rộng không thể liệt kê cùng cấp với các loại tài liệu như  
được liệt kê trong Luật này. Về thuật ngữ này chúng sẽ bàn tới dưới đây.  
Trên đây là những định nghĩa giải thích khái niệm “tài liệu” với tư cách là  
thuật ngữ khoa học và dùng trong quản lý công tác lưu trữ. Ngoài ra còn có các  
cách giải thích về thuật ngữ này rải rác ở các công trình khoa học, giáo trình  
khác nhưng không phải với mục đích giải thích nó như một thuật ngữ khoa học  
mà thông qua nó để giải quyết các vấn đề chính khác. Ví dụ, trong cuốn “Tổ  
chức và bảo quản tài liệu”, thuật ngữ “tài liệu” được giải thích như sau:  
Đn 04: “Nói đến thư viện và trung tâm thông tin là nói đến sách, tạp chí  
và các vật mang tin khác, ta gọi chung là tài liệu”. Phân tích cách giải thích này,  
ta thấy, khái niệm tài liệu được giải thích theo phương pháp liệt kê các vật mang  
thông tin khác nhau. Đây là một điểm cần chú ý khi tổng hợp cách giải thích về  
khái niệm tài liệu.  
Trên đây là những định nghĩa được nêu trong các công trình khoa học của  
một số tác giả người Việt Nam do các nhà xuất bản Việt Nam công bố ở trong  
nước.  
Dưới đây là sự phân tích một số định nghĩa về thuật ngữ này ở nước  
ngoài.  
Trước hết là các định nghĩa do một số nhà văn bản học và lưu trữ học nước  
Nga đưa ra.  
Cần phải nói rằng, có nhiều nhà văn kiện học cũng như nhà lưu trữ học Nga  
quan tâm đặc biệt tới việc định nghĩa thuật ngữ tài liệu (документ). Thật vậy,  
cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm tài liệu, được tổng hợp  
và phân tích sâu trong các công trình nghiên cứu của nhiều nhà văn bản học và  
lưu trữ học Nga. Song trong khuôn khổ công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiến  
hành, cần kể đến công trình nghiên cứu như: “Các khó khăn trong việc giải thích  
khái niệm “tài liệu” và những cách vượt qua chúng” (K.B Geliman-Vinogradop.  
Sứ mệnh đặc biệt của các tài liệu. Các công trình của các nhà khoa học của Viện  
BNIIDAD. M.2009). Bởi lẽ, tính tới thời điểm này đây là công trình nghiên cứu  
13  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
có sự phân tích và tổng kết nhiều định nghĩa về khái niệm “tài liệu ” được công  
bố ở nước Nga. Trong công trình này, sau khi phân tích các định nghĩa được nêu  
trong các nguồn tài liệu khác nhau ở trong và ngoài nước, cũng như quá trình  
chuẩn hóa định nghĩa khái niệm “tài liệu” đối với các loại tài liệu khác nhau (tài  
liệu trên nền giấy (tài liệu truyền thống), tài liệu phim - ảnh - điện ảnh, tài liệu  
ma trận (матд), tài liệu đọc bằng máy, tài liệu điện tử), tác giả đã lưu ý rằng, “để  
vượt qua những khó khăn trong việc giải thích khái niệm “tài liệu” cần phải theo  
dõi các thành tựu mang tầm quốc tế trong lĩnh vực văn bản học và lưu trữ học,  
những thành tựu được khẳng định bởi các kết quả của khoa học lịch sử, sử liệu  
học, các bộ môn khoa học chuyên ngành và của hàng loạt các khoa học đang  
phát triển khác thuộc phạm vi khoa học nhân văn”. Tác giả, theo hướng nghiên  
cứu này, đã đi đến một nhận xét rằng, định nghĩa được nêu ra trong bản tiêu  
chuẩn quốc tế hiện hành ISO 15489-1 “Thông tin và hệ thống tài liệu” là “một  
sự giải thích đáng tin cậy và cô đọng nhất”. Tiêu chuẩn này đã định nghĩa như  
sau về thuật ngữ “tài liệu” (document).  
Đn 05: “Là thông tin được ghi lại hoặc một đối tượng có thể được xử lý  
như một đơn vị - một thể thống nhất”. Tuy nhiên, tác giả lưu ý rằng, định nghĩa  
này đã bỏ qua sự hiện diện của một bộ phận cấu thành, mà theo suy nghĩ của tác  
giả, là có tính bắt buộc. Đó là bộ phận cấu thành có tính vật chất tạo nên tài liệu.  
Do đó, theo hướng để chuẩn hóa định nghĩa này, tác giả nhắc đến một định  
nghĩa được tác giả đưa ra trước đây mà không trái với định nghĩa nêu trong tiêu  
chuẩn này.  
Đn 06: “Tài liệu (là đối tượng vật chất, có chứa bản ghi (запись-gần  
tương đương với thuật ngữ Record-ND) thông tin ngữ nghĩa”. Theo quan điểm  
của tác giả, việc định nghĩa tài liệu với tư cách một đối tượng vật chất là vô cùng  
cần thiết, bởi lẽ, nó không những không làm giảm ý nghĩa của thông tin - bộ  
phận cấu thành nên đối tượng mà còn cho phép sử dụng được những đặc trưng  
của nó như: kích thước, hình khối, trọng lượng và những đặc tính về lượng khác,  
tọa độ trong thành phần của các bộ tài liệu, các tính chất lý - hóa của vật liệu tạo  
14  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
nên đối tượng đó, các đặc điểm công nghệ và kinh tế của chúng vv… Trên cơ sở  
kết quả phân tích đó, tác giả đã đi đến một khẳng định rất đáng lưu ý. Tác giả  
khẳng định, “đặc trưng tạo nền tảng chung cho tất cả các loại tài liệu (trên nền  
giấy - tài liệu truyền thống, tài liệu phim - ảnh - điện ảnh, tài liệu ma trận  
(матд), tài liệu đọc bằng máy, tài liệu điện tử) là sự hiện diện thông tin được ghi  
lại trong đó. Điều này rất quan trọng để tránh lệch hướng khi định nghĩa khái  
niệm “tài liệu”. Tuy nhiên, khi tuân theo điều đó, cần chú ý tới một sự tổng kết  
bổ sung là: tùy theo các mục đích lập và các định hướng sử dụng của tài liệu mà  
có thể thiên về một trong các ý nghĩa như: điều hành, pháp lý, truyền thông  
(thông báo), chuyển phát, ký ức, tưởng niệm và ý nghĩa có tính đơn nhất giống  
như thế hoặc kết hợp nhiều ý nghĩa - ý nghĩa kết hợp”. Một lưu ý khác của tác  
giả mà đối với chúng ta cũng rất quí báu. Đó là hiện nay, khi ứng dụng các công  
nghệ mới có liên quan đến sử dụng tài liệu điện tử, đang xuất hiện các định  
nghĩa mang hình thái khác nhau về khái niệm “tài liệu” theo hướng đạt được  
tính tổng hợp trong giải thích. Ví dụ, trong bản tiêu chuẩn nhà nước Nga -  
ГОСТ P 52292-2004: “Giao dịch thông tin điện tử” về thuật ngữ “tài liệu” được  
nêu như sau:  
Đn. 07: “Là đối tượng của sự tương hỗ thông tin trong môi trường xã hội,  
nhằm biểu hiện về mặt hình thức các mối quan hệ xã hội giữa các đối tượng  
khác nhau của môi trường xã hội đó”. Với định nghĩa có tầm bao quát lớn như  
vậy, tác giả lưu ý rằng cần phải xem xét một cách toàn diện để tránh liệt kê vào  
khái niệm “tài liệu” - “tất cả các đối tượng vật chất, những cái có thể được sử  
dụng để truyền thông tin trong xã hội (bao gồm cả các vật trưng bày của các bảo  
tàng, đài tưởng niệm, các mẫu vật đất đá vv… Điều đã gặp phải trong cuốn sách  
của N.N.Kushnarenko (“Văn bản học” sách giáo khoa. Kiep.2001)”.  
Một công trình nghiên cứu khác có sự phân tích sâu về các định nghĩa về  
khái niệm “tài liệu” “Tài liệu điện tử trong quản lý” của hai tác giả: M.V.Larin,  
O.I. Rưskốp xuất bản 2005. Ở đây, sau khi phân tích các định nghĩa về khái  
niệm “tài liệu”, trong đó có sự xem xét tới mối liên kết giữa mang vật chất và  
15  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
thông tin được cố định trên vật mang đó, các tác giả đã đi đến kết luận: “Những  
định nghĩa trước đây có xu hướng chú trọng tới đối tượng vật chất, tới vật mang  
thông tin nhiều hơn, còn những định nghĩa gần đây lại chú ý nhiều tới thông tin  
tạo nên tài liệu. Các tác giả đã nêu lên các ví dụ, cụ thể là: trong tiêu chuẩn thuật  
ngữ đầu tiên của nước Nga trong lĩnh vực công tác văn thư TCNN 1647- 70  
“Công tác văn thư và công tác lưu trữ. Những thuật ngữ và định nghĩa”, thuật  
ngữ “Tài liệu” được định nghĩa là:  
Đn 08: “phương tiện cố định các tin tức về các sự vật, sự kiện, hiện tượng  
của hiện thực khách quan và hoạt động tư duy của con người”; ví dụ khác, trong  
tiêu chuẩn thuật ngữ ГОСТ P 16487 – 83 “Công tác văn thư và công tác lưu trữ.  
Những thuật ngữ và định nghĩa”, thuật ngữ tài liệu được định nghĩa là: “đối  
tượng vật chất với thông tin được cố định bởi con người bằng một phương thức  
để truyền thông tin đó theo thời gian và trong không gian”.  
Hiện nay, khái niệm tài liệu trong Luật Liên bang “Về thông tin hoá và  
bảo vệ thông tin” và trong tiêu chuẩn nhà nước ГОСТ P 51141 - 98 được định  
nghĩa như sau:  
Đn 09: “Tài liệu - đó là thông tin được cố định trên vật mang vật chất kèm  
theo các yếu tố thể thức mà những yếu tố đó cho phép nhận dạng được thông  
tin”. Đối với quản lý, công tác văn thư và công tác lưu trữ rất cần thiết để thông  
tin trong tài liệu có thể nhận dạng được, để tài liệu được trình bày theo thủ tục  
đã quy định cùng với những yếu tố thể thức nhất định.  
Cần phải bổ sung thêm là tài liệu còn có thêm hai đặc trưng nổi bật khác.  
Đặc trưng thứ nhất là thông tin được cố định trong tài liệu có sự tham gia có ý  
thức của con người. Cho nên tài liệu phản ánh quá trình quản lý hoặc hoạt động  
của cá nhân; tài liệu không chỉ là một tập hợp đơn giản các dữ liệu mà là kết quả  
hoặc sản phẩm của một sự kiện nào đó. Đặc trưng thứ hai có vai trò không kém  
tầm quan trọng trong hoạt động quản lý và hoạt động của cá nhân là một phần  
nội dung tạo nên tài liệu có tính chất pháp lý. Đó là khả năng làm bằng chứng  
16  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
của tài liệu. Ở đây tác giả đã đồng tình với cách định nghĩa được nêu trong tiêu  
chuẩn quốc tế ISO 15489-1 về khái niệm “tài liệu-record”. Theo đó, TL được  
hiểu là:  
Đn 10: “Là thông tin, được lập, nhận và duy trì bởi một tổ chức hoặc  
một cá nhân với tư cách là chứng cứ và thông tin làm căn cứ thực hiện  
nghĩa vụ pháp lý hoặc trong các giao dịch kinh”. Có nghĩa là trước hết tài liệu  
là thông tin song thông tin đó phải được một pháp nhân cụ thể lập ra, nhận và  
được bảo quản-duy trì để làm bằng chứng hoạt động của một tổ chức hoặc một  
cá nhân trong xã hội. Cần nói rõ ở đây một điều là, trong tiếng Nga, thuật ngữ  
“tài liệu - document” được hiểu và định nghĩa không phân biệt với thuật ngữ  
“văn bản - record”. Bởi vì tiếng Nga không có từ nào tương đương với từ  
Record của tiếng Anh. Thực tế có một từ tiếng Nga gần với từ Record là từ  
запись - bản ghi. Nhưng không phải bản ghi nào cũng là văn bản theo nghĩa  
tiếng Anh. Cho nên, Đn.10 nêu trên là định nghĩa được nêu trong tiêu chuẩn  
quốc tế ISO 15489-1. Song, nguyên bản tiếng Anh, định nghĩa này là định nghĩa  
dành cho thuật ngữ “RECORDS”, tiếng Nga dịch là документ-tài liệu, còn tiếng  
Việt RECORD là văn bản.  
Một công trình nghiên cứu tiếp theo có sự phân tích sâu về các định  
nghĩa về khái niệm “tài liệu”. Đó là công trình do M.P. Rukôva chủ biên “Xác  
định giá trị tài liệu quản lý và thu thập chúng vào các viện lưu trữ nhà nước” (Lý  
luận và phương pháp M,. 2007). Ở đây, tác giả cho rằng:  
Đn 11: Tài liệu - là kết quả của việc cố định thông tin về các sự vật của  
hiện thực khách quan và về hoạt động tư duy của con người bằng cách viết, đồ  
họa, chụp ảnh, ghi âm hoặc bằng một phương thức khác trên một vật mang tin  
bất kỳ… Là một khái niệm khoa học chung, tài liệu có một số điểm khác nhau  
nhất định trong định nghĩa bởi khác bộ môn khoa học khác nhau phản ánh đối  
tượng và nhiệm vụ của các môn học đó. Cách hiểu rộng nhất về tài liệu được  
đưa ra trong môn tài liệu học. Theo đó tài liệu được hiểu là vật mang vật chất  
17  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
bất kỳ với thông tin được cố định bằng ngôn ngữ bất kỳ và bởi phương  
thức bất kỳ. Trong văn bản học, tài liệu là phương tiện cố định thông tin bằng  
các phương thức khác nhau trên vật liệu đặc biệt về các sự kiện, biến cố của hiện  
thực khách quan và hoạt động tư duy của con người. Trong sử liệu học, tài liệu  
là khách thể (đối tượng) dành riêng cho việc truyền thông tin.  
Nói tóm lại, sự phân tích một số định nghĩa do một số nhà văn bản học và  
lưu trữ học nước Nga đưa ra cho thấy, cần phải rất thận trọng khi bàn tới nội  
hàm của thuật ngữ “tài liệu”. Bởi lẽ, hiện nay có nhiều định nghĩa mang sắc thái  
khác nhau. Cho nên, khi bàn về nội hàm của thuật ngữ này phải dựa vào các căn  
cứ như: Thứ nhất là mục đích lập và định hướng sử dụng (chỉ là để thông báo-  
truyền thông tin trong không gian và thời gian hay với mục đích làm bằng chứng  
- làm phương tiện hoạt động hay là kết hợp nhiều mục đích và hướng sử dụng  
khác nhau); Thứ hai là thông tin; Thứ ba vật mang tin. Tùy thuộc vào mức độ  
sâu và rộng trong sử dụng các căn cứ này, sẽ có những cách giải thích khác nhau  
về khái niệm “tài liệu”.  
Để khẳng định nhận định trên, chúng ta tiếp tục xem xét một số định  
nghĩa về thuật ngữ “tài liệu” do các học giả khác ở một số nước nói tiếng Anh,  
Cơ quan tiêu chuẩn quốc tế ISO và Hội đồng lưu trữ quốc tế (ICA) nêu ra trong  
những năm gần đây.  
Trước hết phải kể đến công trình “Xác định giá trị lưu trữ” (Lý luận và  
Phương pháp) của Barbara Craig, xuất bản năm 2004, Muchen- CHLB Đức. Bởi  
lẽ đây là một công trình chuyên khảo có tính tổng kết “dành cho việc xác định  
giá trị các đối tượng lưu trữ đã được thực hiện ở các nước nói tiếng Anh”.  
Trong công trình khoa học này, thuật ngữ “tài liệu” (document) được định nghĩa  
như sau:  
Đn 12: “Là một đơn vị thông tin được ghi lại không phụ thuộc vào hình  
thức và vật mang” (A unit of recorded information regardless of form and  
media). Phân tích định nghĩa này cho thấy rằng, khái niệm “tài liệu” bao gồm  
trong nó ba yếu tố cơ bản sau đây: Thứ nhất phải là một đơn vị chỉnh thể. Thứ  
18  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
hai là đơn vị thông tin - mang thông tin. Thứ ba là đơn vị thông tin đó phải được  
ghi ký lại. Một điều cần chú ý là, định nghĩa này không chú trọng tới yếu tố: vật  
mang và hình thức thể hiện của thông tin mà chỉ chú trọng tới bộ phận cấu thành  
cơ bản nhất của tài liệu là bộ phận thông tin. Tuy vậy, nếu phân tích sâu, chúng  
ta cũng thấy rằng: mặc dù định nghĩa này phát biểu “không phụ thuộc vào vật  
mang và hình thức thông tin” nhưng điều đó không chứng minh là hai yếu tố đó  
không bao hàm trong khái niệm “tài liệu”. Có nghĩa là thông tin được ghi lại vẫn  
ở trên hoặc trong vật mang và có hình thức nhất định. Nhưng chúng ta cần hiểu  
vật mang và hình thức đó là vật mang và hình thức bất kỳ. Sở dĩ định nghĩa này  
không nhấn mạnh tới hai yếu tố vật chất và hình thức là vì nó thiên về mục tiêu  
quản lý thông tin mà không chú trọng về quản lý vật mang và hình thức biểu thị  
của thông tin. Và nhờ vậy nó đạt được tính khái quát hơn, rộng hơn. Khác với  
xu hướng này là cách định nghĩa về khái niệm “tài liệu” theo hướng hẹp và kém  
tổng quát hơn. Ví dụ, trong cuốn “Từ điển các thuật ngữ lưu trữ” (Hội đồng lưu  
trữ quốc tế. Munchen. NewYork. London. Paris -1988), thuật ngữ “tài liệu”  
(document) được giải thích theo hai nghĩa sau đây:  
Đn 13 (nghĩa 1): Một sự kết hợp giữa vật mang và thông tin được ghi lại  
trên hoặc trong vật mang đó, cái có thể dùng làm chứng cứ hoặc để tham khảo.  
Đn 14 (nghĩa 2): “Là một tài liệu lưu trữ độc lập, văn bản hoặc bản thảo -  
viết tay hoặc tài liệu đánh máy”. Thông thường không thể chia được về thực thể  
vật lý ”.  
Phân tích Đn 13 nêu trong từ điển này về thuật ngữ “tài liệu”, ta thấy định  
nghĩa đó bao quát ba yếu tố (đặc trưng) như: Thứ nhất, phải là vật mang. Thứ  
hai, phải có thông tin ở trên hoặc trong vật mang. Thứ ba, phải có giá trị - làm  
bằng chứng (chứng cứ) hoặc có giá trị tham khảo. Phân tích Đn 14 nêu trong từ  
điển này về thuật ngữ “tài liệu”, ta thấy định nghĩa đó không có sự giải thích mà  
chỉ coi nó có nghĩa tương đương với ba thuật ngữ là “tài liệu lưu trữ”, “văn bản”  
và thuật ngữ “ bản thảo - viết tay hoặc tài liệu đánh máy”. Ở đây chúng ta cần  
chú ý tới thuật ngữ “văn bản - record” một thuật ngữ sẽ được xem xét dưới đây.  
19  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường  
Có thể nói, cách định nghĩa này được đưa ra theo xu hướng không mở rộng, kém  
tổng quát. Nó nhấn mạnh yêu cầu khi nói đến tài liệu là phải có sự liên kết giữa  
vật mang và thông tin và phải chú trọng tới giá trị chứng cứ hoặc giá trị tham  
khảo của tài liệu. Ngoài ra, khái niệm “tài liệu” đồng nghĩa với khái niệm “văn  
bản”.  
Ngược với xu hướng này là cách định nghĩa nêu trong Tiêu chuẩn quốc tế  
ISO 15489-1: “Thông tin và hệ thống tài liệu. Phần chung. Quản lý văn bản”.  
Theo tiêu chuẩn này, thuật ngữ “tài liệu - document” được định nghĩa như sau:  
Đn 15: “là thông tin được ghi lại hoặc một đối tượng có thể được xử lý  
như một đơn vị hoàn chỉnh”.  
Phân tích định nghĩa này cho thấy, thuật ngữ “tài liệu” bao gồm trong nó  
quá ít yếu tố. Cụ thể là chỉ cần có thông tin được ghi lại là có thể coi đối tượng  
bất kỳ nào đó là tài liệu miễn là nó được xử lý như một đơn vị (thông tin-TG)  
hoàn chỉnh.  
Tổng kết những phân tích 15 định nghĩa nêu trên về khái niệm “tài liệu”,  
căn cứ vào mức độ nông - sâu, rộng - hẹp và sự kết hợp của ba bộ phận (yếu tố -  
đặc trưng) cơ bản cấu thành thuật ngữ “tài liệu” như: vật mang - bộ phận vật  
chất, thông tin - bộ phận cấu thành nội dung, phương tiện hoạt động, giá trị bằng  
chứng, giá trị tham khảo - bộ phận phản ánh về mục đích lập và định hướng sử  
dụng tài liệu chúng ta có thể phân chia chúng thành ba nhóm sau đây:  
Nhóm thứ nhất, Đó là các định nghĩa giải thích thuật ngữ “tài liệu” theo  
hướng nhấn mạnh bộ phận thông tin mà không quan tâm đến bộ phận vật mang-  
yếu tố vật chất cũng như mục đích và giá trị sử dụng cụ thể của tài liệu. Thuộc  
nhóm này có các định nghĩa 05, 07, 12, 15. Tiêu biểu, phù hợp, đáng tin cậy và  
cô đọng nhất là định nghĩa được nêu trong ISO 5489-1 “Thông tin và hệ thống  
tài liệu”. Tiêu chuẩn này đã định nghĩa như sau về thuật ngữ “tài liệu”  
(document):  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 109 trang yennguyen 13120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Xác định nội hàm hệ thống thuật ngữ về các loại và thể loại văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trung ương Việt Nam giai đoạn từ năm 2000-2010", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_xac_dinh_noi_ham_he_thong_thuat_ngu_ve_cac_lo.pdf