Báo cáo Đề tài Nghiên cứu quy trình chiết tách chất màu tự nhiên từ hoa đậu biếc (Clitoria ternatean) và ứng dụng trong chế biến một số thực phẩm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA-VŨNG TÀU  
KHOA CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT – NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO  
BÁO CÁO ĐỀ TÀI  
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHIẾT TÁCH CHẤT MÀU TỰ NHIÊN TỪ HOA ĐẬU BIẾC  
(CLITORIA TERNATEAN) VÀ ỨNG DỤNG TRONG  
CHẾ BIẾN MỘT SỐ THỰC PHẨM.  
Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Tuyết  
Phối hợp: ThS. Trần Thị Duyên  
BÀ RỊA-VŨNG TÀU - NĂM 2020  
THÔNG TIN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI  
Tên đề tài : Nghiên cứu quy trình chiết tách chất màu tự nhiên từ hoa đậu biếc  
(Clitoria ternatean) và ứng dụng trong chế biến một số thực phẩm.  
Mã số:  
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Tuyết  
Danh sách cán bộ tham gia chính:  
STT  
1
Họ và tên  
Học vi Chức danh  
Đơn vị công tác  
Trần Thị Duyên Thạc sỹ Giảng viên  
Trường Đại học Bà Rịa – Vũng  
Tàu  
Nội dung chính: Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm:  
Xây dựng quy trình trích ly anthocyanin từ hoa đậu biếc  
Khảo sát sự ảnh hưởng của pH đến màu và độ bền màu của anthocyanin  
Khảo sát sự ảnh hưởng tỷ lệ dung môi đến khả năng trích ly anthocyanin  
Khảo sát sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trích ly anthocyanin  
Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian đến khả năng trích ly anthocyanin  
Nghiên cứu tính kháng khuẩn và ứng dụng chất màu tự nhiên anthocyanin  
vào một số thực phẩm.  
Kết quả đạt được:  
Đề tài tiến hành khảo sát được một số yếu tố tối ưu trong quá trình trích ly  
chất màu tự nhiên anthocyanin từ hoa đậu biếc. Tiến hành trích ly với tỉ lệ nguyên  
liệu và dung môi (hoa đậu biếc: etanol) là 1:10, tại nhiệt độ 60oC trong thời gian 2h.  
Khảo sát ứng dụng của bột hoa đậu biếc vào một số loại thực phẩm và tính  
kháng khuẩn của bột đối với vi khuẩn lactic và nấm men:  
Bột khi ứng dụng vào thực phẩm có màu xanh biếc rất bắt mắt.  
Bột không có tính kháng khuẩn nên sử dụng được trong thực phẩm có chứa  
vi khuẩn lactic và nấm men.  
Thời gian nghiên cứu: Từ 12/2018 – 7/2020  
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI  
(Ký và ghi rõ họ tên)  
ii  
MỤC LỤC  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……………………………………………………….v  
i
ii  
iii  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
MHA: Mueller Hinton Agar - Môi trường thạch Mueller Hinton.  
DMSO: Dimethyl sulfoxit, là một hợp chất hữu cơ lưu huỳnh với công thức  
(CH3)2SO.  
TSB: Tryptone Soy Broth - Môi trường dinh dưỡng TSB.  
v
 
DANH MỤC HÌNH  
Hình 3.1. Mẫu nước chiết ở nhiệt độ 60oC ...............................................................53  
Hình 3.2. Mẫu nước chiết ở nhiệt độ 60oC sau 12h..................................................53  
Hình 3.5. Mẫu cồn chiết ở nhiệt độ 60oC..................................................................54  
Hình 3.6. Mẫu cồn chiết ở nhiệt độ 60oC sau 12h ....................................................54  
vi  
Hình 3.10. Màu sắc anthocyanin của hoa đậu biếc ở môi trường pH từ 1-14 ..........56  
Hình 3.11. Dãy đổi màu của anthocyanin trong pH(ph = 5÷9) ................................57  
vii  
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 2.1. Tỷ lệ nguyên liệu/etanol………………………………………………...37  
ix  
 
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề bài  
Chất màu thực phẩm là một phụ gia thực phẩm (PGTP) quan trọng, được sử  
dụng không chỉ trong chế biến thực phẩm mà cả trong công nghiệp mỹ phẩm (kem  
trang điểm, thuốc nhuộm tóc, …), dược phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác.  
Nhu cầu về chất màu thực phẩm rất lớn và không ngừng tăng lên trong những năm  
gần đây [33].  
Nước ta do chưa sản xuất được chất màu thực phẩm nên tất cả đều phải nhập  
từ nước ngoài. Một số trường hợp, sử dụng chất màu không đủ tiêu chuẩn gây ảnh  
hưởng xấu tới sức khỏe người dùng. Vì thế, nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm  
và các chất màu từ chúng có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế xã hội của đất nước.  
Anthocyanins, thuộc nhóm flavonoid, là sắc tố trong không bào thực vật tan  
trong nước chịu trách nhiệm về màu đỏ sáng, tím hoặc màu xanh của hoa, vỏ, hạt,  
quả và lá. Nguồn cung cấp anthocyanin chính trong quả ăn được là nho, anh đào,  
mận, mâm xôi, dâu tây, táo, đào, việt quất... Nhóm rau có chứa sắc tố anthocyanin  
là cà tím, bắp cải tím, tía tô, hoa đậu biếc... Cường độ và độ bền màu anthocyanin  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thành phần cấu trúc, nồng độ chất màu, pH, nhiệt  
độ, ánh sáng, sự hiện diện của các chất màu khác, ion kim loại, enzyme, oxy,  
vitamin C và đường,… [14], [20].  
Bên cạnh các tính năng màu sắc của chúng, anthocyanins có gần đây đã thu  
hút sự quan tâm nhiều hơn do chúng còn là hợp chất có nhiều hoạt tính sinh học quí  
cho sức khỏe như khả năng chống oxy hóa, chống dị ứng, chống các tia phóng xạ,  
chống viêm, chống vi khuẩn, chống đông huyết tạo các bệnh mạch vành và có tác  
dụng bảo vệ tim mạch và thuốc giãn mạch vành [25], [19].  
Anthocyanins không có độc tính và không có bất kỳ giới hạn tối đa cho các  
ứng dụng trong thực phẩm. Chúng được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động sản  
xuất công nghiệp.  
Chất màu anthocyanin có thể được nghiên cứu dựa vào ảnh hưởng có lợi của  
chúng đối với sức khỏe con người [21] và các ứng dụng của chúng như sự lựa chọn  
tiềm năng để thay thế màu sắc tự nhiên trong thực phẩm [26]. Do vậy, nghiên cứu  
sử dụng anthocyanin làm chất màu thực phẩm là việc làm cần thiết, có ý nghĩa  
nhằm khai thác, phát triển hơn nữa các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên.  
1
 
Từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu quy trình tách  
chiết chất màu tự nhiên từ hoa đậu biếc (Clitoria ternatean) và ứng dụng trong chế  
biến một số thực phẩm”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Đề tài được thực hiện với mục đích khảo sát các điều kiện chiết tách chất  
màu tự nhiên anthocyanin từ hoa đậu biếc, từ đó xây dựng được quy trình chiết tách  
hiệu quả chất màu từ loại nguyên liệu này. Đồng thời định tính một số chất có trong  
sản phẩm và ứng dụng nhuộm màu cho một số loại thực phẩm.  
3. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Với mục tiêu tìm ra chất màu thực phẩm từ thiên nhiên, an toàn, tốt cho sức  
khỏe, dễ sử dụng từ hoa đậu biếc. Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm:  
Xây dựng quy trình trích ly anthocyanin từ hoa đậu biếc;  
Khảo sát sự ảnh hưởng của pH đến màu và độ bền màu của anthocyanin;  
Khảo sát sự ảnh hưởng tỷ lệ dung môi đến khả năng trích ly anthocyanin;  
Khảo sát sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trích ly anthocyanin;  
Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian đến khả năng trích ly anthocyanin;  
Định tính sản phẩm cao và bột màu thu được;  
Nghiên cứu tính kháng khuẩn và ứng dụng chất màu tự nhiên anthocyanin  
vào một số thực phẩm.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp thu thập thông tin về số liệu  
Thu thập thông tin từ sách, báo và các đề tài nghiên cứu khoa học đã có;  
Thu thập, tìm kiếm dữ liệu từ Internet;  
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia.  
Phương pháp phân tích  
Tiến hành trích ly anthocyanin từ hoa đậu biếc, sau đó xác định hàm lượng  
anthocyanin từ dịch chiết bằng phương pháp pH vi sai.  
Phương pháp xử lý số liệu  
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu;  
2
Sử dụng phương pháp cơ sở dữ liệu (phần mềm Excel) kết hợp với thống  
kê để xác định các yếu tố ảnh hưởng;  
Sử dụng một số phần mềm tin học khác phục vụ cho việc phân tích và xử  
lý số liệu.  
5. Kết quả đạt được của đề tài  
Đề tài tiến hành khảo sát được một số yếu tố tối ưu trong quá trình trích ly  
chất màu tự nhiên anthocyanin từ hoa đậu biếc. Tiến hành trích ly với tỉ nguyên  
liệu: dung môi (hoa đậu biếc: etanol) là 1:10, tại nhiệt độ 60oC trong thời gian 2h.  
Khảo sát ứng dụng của bột hoa đậu biếc vào một số loại thực phẩm và tính  
kháng khuẩn của bột đối với vi khuẩn lactic và nấm men:  
Bột khi ứng dụng vào thực phẩm có màu xanh biếc rất bắt mắt.  
Bột không có tính kháng khuẩn nên sử dụng được trong thực phẩm có chứa  
vi khuẩn lactic và nấm men.  
6. Cấu trúc của đồ án  
Đồ án gồm có 3 chương:  
Chương 1. Tổng quan tài liệu  
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Chương 3. Kết quả thực nghiệm và thảo luận  
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. Hoa đậu biếc  
1.1.1. Tên khoa học và mô tả [31]  
Hình 1.1. Cây hoa đậu biếc  
Hình 1.2. Hoa đậu biếc  
Cây hoa đậu biếc còn gọi đậu hoa tím hay bông biếc, tên khoa học Clitoria  
ternatean, thuộc họ đậu. Đậu biếc là một cây họ đậu lâu năm, loại thảo, leo, thân và  
cành mảnh có lông.  
Lá: hình bầu dục, nhọn ở đầu màu xanh đậm, có gân nổi rõ, giống lá cỏ lạc  
cảnh, đặc biệt lá xanh quanh năm.  
Hoa: có màu tím, màu trắng, với hình dáng lạ mắt dạng trứng ngược. Hoa  
này mọc thành chùm hay riêng lẻ rất sai hoa.  
Quả: dài từ 4 đến 13 cm, giống như đậu ván, khi non có màu xanh khi già thì  
quả có màu nâu đốm từ 6 đến 10 hạt.  
Chi Đậu biếc (danh pháp: Clitoria) thuộc họ Fabaceae và tiểu họ  
Papgroupaceae. Có nguồn gốc từ châu Á nhiệt đới và sau đó được phân phối rộng  
rãi ở Nam và Trung Mỹ, Đông và Tây Ấn, Trung Quốc và Ấn Độ.  
Cây hoa đậu biếc thuộc loại cây thân leo khỏe mạnh, dễ trồng và chăm sóc,  
chịu được nắng nóng và hạn rất tốt, sợ rét, ít sâu bệnh. Nhiệt độ ưa thích của đậu  
biếc là từ 20-32oC.  
4
         
1.1.2. Phân bố [34]  
Clitoria ternatea là một trong những cây trồng địa phương có dược tính,  
có nguồn gốc từ châu Á nhiệt đới và sau đó được phân phối rộng rãi ở Nam và  
Trung Mỹ, Đông và Tây Ấn, Trung Quốc và Ấn Độ.  
Đất trồng đậu biếc là các loại đất tơi xốp, nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, thoát  
nước tốt.  
Ở nước ta, cây Đậu biếc có nhiều ở Quảng Ninh, Ninh Bình, Huế, Đà Nẵng,  
Khánh Hòa, Bình Thuận và khu vực đồng bằng sông Cửu Long.  
1.1.3. Công dụng [35]  
Hoa thường được sử dụng để nhuộm bánh gạo ở Malaysia và được ăn như  
rau ở Ấn Độ và Philippines…  
Trong y học cổ truyền, cây được sử dụng trong điều trị vàng da, đau nửa đầu,  
viêm họng, nhiễm trùng mắt, bệnh ngoài da, hen suyễn, sưng khớp, đau tai, sốt,  
nhiễm trùng đường tiết niệu, táo bón, rắn cắn, nhức đầu, khó tiêu, bệnh phong và rối  
loạn hệ thần kinh trung ương. Các chất chiết xuất khác nhau của nó có tác dụng  
dược lý được báo cáo như nootropic, anxiolytic, thuốc chống co giật, thuốc an thần,  
chống viêm, chống tiểu đường, chống oxy hóa, chống căng thẳng, điều hòa miễn  
dịch, chống nhiễm trùng, chống oxy hóa và tăng cường trí nhớ. Công dụng các  
thành phần của cây hoa đậu biếc được thể hiện rõ qua bảng 1.1 dưới đây.  
Bảng 1.1. Chức năng các thành phần của cây hoa đậu biếc  
Thành phần  
Hoa  
Chức năng  
Tài liệu tham khảo  
Làm màu thực phẩm.  
[16]  
Rễ  
Giải lo âu, thuốc chống [16]  
trầm cảm, thuốc chống co  
giật.  
Thân  
Điều trị bệnh tình dục [15]  
chẳng hạn như: vô sinh  
và bệnh lậu.  
5
     
Trích xuất của hoa đậu  
biếc  
Ổn định nhiệt  
[21]  
1.1.4. Thành phần hóa học của hoa đậu biếc [36]  
Hoa đậu biếc chứa một este và một chất nhựa glycosid. Nó chứa  
anthoacyanin, blue proanthocyanidin là một chất chống oxy hóa mạnh. Terahara và  
cộng sự [27] đã phân lập sáu anthocyanins chính từ hoa đậu biếc C. ternatea với  
cấu trúc đặc trưng là malonylationdelphinidin, thu được chuỗi cạnh 3’5 với D-  
glucose xen kẽ và bốn axit p-coumaric với một phân tử axit malonic. Delphinidin  
glucoside là anthocyanin chính tạo ra màu xanh lam đặc biệt của loại hoa này.  
Các thành phần hóa học chính được tìm thấy ở Clitoria ternatea là các  
triterpenoids pentacyclic như taraxerol và taraxerone. Trong rễ có sự hiện diện của  
ternatins, ancaloit, flavonoid, saponin, tannin, carbohydrate, protein, nhựa, tinh bột,  
taraxerol và taraxerone [28].  
Bảng 1.2. Thành phần hóa học của cây hoa đậu biếc (24)  
STT Tên của hợp chất  
Cấu trúc  
1
Kaempferol  
2
Quereetin  
3
4
Myriceti  
Taxaxerol  
6
   
5
6
Tannic acid  
3-monogluciside  
7
8
β-sitosterol  
Delphinidin-3,5-  
diglucoside  
9
Malvidin -3-β-  
glucoside  
10  
11  
p-hydroxycinnamic  
acid  
Ethy-α –D  
galactopyranoside  
7
12  
Anthoxanthin  
glucoside  
1.2. Tổng quan về chất màu thực phẩm [11]  
1.2.1. Tầm quan trọng của chất màu trong chế biến thực phẩm  
Màu sắc là một trong những chỉ tiêu cảm quan quan trọng đầu tiên đối với  
mỗi sản phẩm thực phẩm. Quan trọng hơn hết là màu sắc ảnh hưởng tới chất lượng,  
mùi vị, độ ngọt của thực phẩm. Nếu giữa màu sắc và mùi vị không có sự tương ứng,  
phù hợp lẫn nhau thì người tiêu dùng sẽ không cảm nhận được chính xác được mùi  
vị và chất lượng của thực phẩm. Thực vậy, trong một nghiên cứu của nhà thực  
phẩm học Johnson với đề tài “Bảo vệ thực phẩm” năm 1983 đã chứng minh rằng vị  
ngọt của nước giải khát trái dâu sẽ tăng lên 2-12% nếu ta tăng hàm lượng của chất  
màu của loại nước giải khát này. Do vậy, việc sử dụng các chất màu trong chế biến  
thực phẩm là điều rất cần thiết.  
1.2.2. Vai trò chất màu thực phẩm  
Chất màu thực phẩm mặc dù không có ý nghĩa nhiều về mặt dinh dưỡng,  
nhưng có những chức năng quan trọng sau đây:  
Đảm bảo sự đồng nhất về màu sắc thực phẩm từ lô sản phẩm này đến lô sản  
phẩm khác.  
Tăng cường màu sắc tự nhiên vốn có của thực phẩm để thu hút người tiêu  
dùng.  
Làm cho người tiêu dùng chú ý đến mùi vị tự nhiên của thực phẩm do giữa  
màu sắc và mùi vị thường có quan hệ với nhau.  
Tạo màu cho một số thực phẩm vốn không màu hay có màu nhạt (như các  
loại kẹo, snack, nước giải khát,...) nhằm làm gia tăng giá trị cảm quan của chúng.  
Phục hồi lại vẻ bên ngoài của thực phẩm do chất màu bị biến đổi trong quá  
trình chế biến [13].  
8
     
1.2.3. Phân loại chất màu thực phẩm [7]  
Chất màu thực phẩm được chia làm 3 nhóm chính: chất màu vô cơ, chất  
màu hữu cơ tổng hợp và chất màu tự nhiên.  
a) Chất màu vô cơ:  
Vào trước thế kỷ 20, phần lớn chất tạo màu thực phẩm đều có nguồn gốc từ  
các loại khoáng vật tự nhiên độc hại.  
Ví dụ: CuSO4 dùng để tạo màu cho các loại dưa chua; phèn nhôm để tẩy  
trắng bánh mì; phẩm màu đỏ chứa Pb hay HgSO4,.... để tạo màu cho pho mát. Tuy  
nhiên, cùng với việc ban hành những quy định về an toàn thực phẩm của Hoa Kỳ  
năm 1960, ngành công nghiệp thực phẩm dần dần chuyển sang sử dụng các loại  
chất màu hữu cơ tổng hợp.  
b) Chất màu hữu cơ tổng hợp:  
Là các chất màu được tổng hợp bằng phương pháp hóa học.  
Các loại chất màu hữu cơ tổng hợp được chia làm 3 nhóm:  
o Nhóm A: gồm các chất không mang độc tính nhưng gây ngộ độc tích lũy.  
Bảng 1.3. Liều sử dụng cho phép của một số chất màu hữu cơ tổng hợp  
Liều lượng sử dụng (mg/kg  
Loại chất màu  
trọng lượng)  
0 – 0,l5  
0 – 5,00  
0 – 7,50  
Amarant (ký hiệu CI.16185)  
Vàng mặt trời (ký hiệu CI.15985)  
Tartrazin (ký hiệu CI.19140)  
o Nhóm B: gồm 5 loại màu là β-caroten tổng hợp, xanh lơ VRS (ký hiệu  
CI.42090), erythrozin (ký hiệu CI.45430), indigocarmin (ký hiệu CI.73015), xanh  
lục sáng FCF.  
o Nhóm C: bao gồm tất cả các loại màu hữu cơ tổng hợp khác nhau chưa được  
nghiên cứu hoặc nghiên cứu không rõ ràng.  
Chất màu hữu cơ tổng hợp có ưu điểm là tạo ra nhiều màu sắc phong phú, rẻ  
tiền, và tiện lợi trong việc chế biến thực phẩm. Tuy nhiên, hiện nay một số chất màu  
hữu cơ tổng hợp (đặc biệt là thuốc nhuộm azo) bị hạn chế sử dụng do người ta nghi  
ngại về những ảnh hưởng không tốt của nó đối với sức khỏe con người. Chẳng hạn,  
một số nghiên cứu gần đây phát hiện những enzym trong ruột non có khả năng xúc  
9
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 98 trang yennguyen 20460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Nghiên cứu quy trình chiết tách chất màu tự nhiên từ hoa đậu biếc (Clitoria ternatean) và ứng dụng trong chế biến một số thực phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_nghien_cuu_quy_trinh_chiet_tach_chat_mau_tu_n.pdf