Báo cáo Đề tài Quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục thuế Long Biên - Hà Nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI  
KHOA VĂN THƯ – LƯU TRỮ  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
TÊN ĐỀ TÀI  
QUẢN LÝ TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ TẠI CHI CỤC THUẾ  
LONG BIÊN - HÀ NỘI  
Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Hữu Phước  
Lớp  
: 1705LTHB  
Cán bộ hướng dẫn : ThS. Tạ Thị Liễu  
Hà Nội 2020  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI  
KHOA VĂN THƯ – LƯU TRỮ  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
TÊN ĐỀ TÀI  
QUẢN LÝ TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ TẠI CHI CỤC THUẾ  
QUẬN LONG BIÊN - HÀ NỘI  
Chủ nhiệm đề tài  
: Nguyễn Hữu Phước  
Thành viên tham gia : Nguyễn Hữu Phước  
Lớp  
: 1705LTHB  
Cán bộ hướng dẫn  
: ThS. Tạ Thị Liễu  
Hà Nội 2020  
LỜI CẢM ƠN  
Lời đầu tiên, nghiên cứu viên xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên hướng dẫn  
Th.S Tạ Thị Liễu đã luôn đồng hành, giúp đỡ, hướng dẫn và tạo những điều kiện  
tốt nhất để nhóm nghiên cứu có cơ hội thực hiện đề tài;  
Thứ hai, nghiên cứu viên xin được gửi lời cảm ơn tới Chi cục Thuế quận  
Long Biên - Hà Nội, đã tạo điều kiện cho nghiên cứu viên có cơ hội tìm hiểu, tiếp  
cận với những nguồn tài liệu hữu ích cũng như là các quy trình quản lý tài liệu điện  
tử tại Chi cục từ đó phục vụ quá trình làm đề tài;  
Cuối cùng, xin được cảm ơn các bạn sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà  
Nội đặc biệt là các bạn sinh viên khoa Văn thư - Lưu trữ Trường Đại học Nội vụ  
Hà Nội, đã đóng góp những kiến thức liên quan và ý kiến xác đáng để nghiên cứu  
viên có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.  
TM. NHÓM NGHIÊN CỨU  
Chủ nhiệm đề tài  
Nguyễn Hữu Phước  
LỜI CAM ĐOAN  
Thay mặt nhóm nghiên cứu tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa  
học độc lập, riêng biệt của nhóm chúng tôi. Mọi số liệu, ngôn từ và thông tin trong đề  
tài đều có nguồn gốc rõ ràng và được công bố theo đúng quy định. Chúng tôi thực  
hiện đề tài này lấy nguyên tắc trung thực, khách quan làm nền tảng trung tâm và sợi  
chỉ đỏ cho mọi vấn đề xuyên suốt trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Các kết quả  
trong đề tài này chưa được trùng lặp ở bất kỳ đề tài nào khác.  
TM. NHÓM NGHIÊN CỨU  
Chủ nhiệm đề tài  
Nguyễn Hữu Phước  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
STT  
CHỮ VIẾT TẮT  
GIẢI THÍCH  
1
2
3
4
5
PDF  
Portable Document Format  
Cơ sở dữ liệu  
CSDL  
HQTCSDL  
IBM  
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu  
International Business Machine  
NASA  
National Aeronautics and Space  
Administration  
DANH MỤC GIẢI NGHĨA TỪ TIẾNG ANH  
STT  
TÊN TIẾNG ANH  
DỊCH NGHĨA  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Scan  
User  
File  
Số hóa  
Người dùng  
Tập tin  
Folder  
Thư mục  
Trang Web  
Website  
Portable Document Format  
Network  
Định dạng tài liệu di động  
Mạng  
Document  
Record  
Tài liệu  
Sự ghi chép  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................1  
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................................1  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu..................................................................................3  
3. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................................5  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................................................5  
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................................5  
6. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................6  
7. Kết cấu đề tài..................................................................................................................6  
8. Đóng góp đề tài ..............................................................................................................6  
NỘI DUNG.........................................................................................................................8  
THUẾ QUẬN LONG BIÊN - HÀ NỘI ...........................................................................8  
1.1. Một số lý luận về quản lý tài liệu điện tử.....................................................................8  
1.1.1. Một số khái niệm .......................................................................................................8  
1.1.1.1. Khái niệm tài liệu ...................................................................................................8  
1.1.1.2. Khái niệm tài liệu lưu trữ .....................................................................................10  
1.1.1.3. Khái niệm tài liệu điện tử .....................................................................................12  
1.1.1.4. Khái niệm quản lý.................................................................................................16  
1.1.1.5. Khái niệm quản lý tài liệu điện tử ........................................................................19  
1.1.4. Ý nghĩa của tài liệu điện tử......................................................................................38  
QUẬN LONG BIÊN - HÀ NỘI......................................................................................40  
2.1.2. Cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ ..................................................................................41  
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức......................................................................................................42  
2.1.2.2. Vị trí, chức năng...................................................................................................45  
2.1.2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn ............................................................................................45  
2.2.1.1. Quy trình quản lý ở giai đoạn văn thư .................................................................49  
2.2.1.2. Quy trình quản lý ở giai đoạn lưu trữ ..................................................................56  
2.3.1. Ưu điểm ...................................................................................................................68  
2.3.2. Hạn chế....................................................................................................................68  
Biên - Hà Nội.....................................................................................................................70  
đoạn lưu trữ tại Chi cục Thuế quận Long Biên - Hà Nội..................................................77  
gắn với lợi ích kinh tế ........................................................................................................77  
đến mọi đối tượng..............................................................................................................82  
KẾT LUẬN ......................................................................................................................85  
PHỤ LỤC .........................................................................................................................98  
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Trong sự phát triển của toàn nhân loại như hiện nay đặc biệt là kỷ nguyên của  
cách mạng khoa học công nghệ 4.0 với sự bùng nổ của nhiều loại công nghệ: công  
nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ vật liệu, v.v... đã dần làm thay đổi  
những diện mạo căn bản của thế giới trên nhiều phương diện, trong sự phát triển ấy  
thì không thể thiếu sự góp mặt của công nghệ thông tin - một phần tất yếu của cuộc  
sống mà để có được những thông tin tạo nên giá trị của cuộc sống, mang đến cho  
con người những hiểu biết về các vấn đề của đời sống xã hội thì tài liệu lưu trữ  
đóng một vai trò rất lớn trong việc tạo ra những giá trị ấy, không chỉ góp phần  
quan trọng trong việc phát triển đất nước mà ở một khía cạnh nhất định nào đó còn  
liên quan đến sự tồn vong của một quốc gia, dân tộc đặc biệt là khi các tài liệu đó  
liên quan đến những hoạt động quản lý, điều hành đất nước. Tài liệu lưu trữ là  
bằng chứng cụ thể, minh chứng khách quan nhất phản ánh đầy đủ, chi tiết về các  
mặt của đời sống xã hội. Mỗi một thời kỳ lịch sử đi qua tài liệu lưu trữ còn tái hiện  
lại những hiện thực sâu sắc nhất về thời kỳ đó, đây cũng được xem như là nguồn tư  
liệu sống phản ánh chân thực nhất các giai đoạn lịch sử mà để khi nhìn vào đó  
người ta có thể biết được những nội dung thông tin liên quan có bên trong tài liệu  
thể hiện vấn đề gì? thuộc lĩnh vực nào?. Trong một thời đại kỷ nguyên số với nhiều  
sản phẩm công nghệ như hiện nay, tài liệu lưu trữ không chỉ được thể hiện đơn  
thuần qua các loại hình truyền thống trên những chất liệu khác nhau như: giấy (chủ  
yếu), vải, gỗ, v.v... mà ở một hình thức mới hơn mà con người đã và đang hướng  
tới nhằm tạo ra sự biến đổi trong cách thức tiếp cận, khai thác thông tin là tài liệu  
điện tử, những tài liệu ấy được chứa đựng trong các hệ thống phần mềm đã được  
thiết lập sẵn trên máy tính dùng để chứa các dữ liệu mà dữ liệu đó người ta gọi là  
tài liệu điện tử. Ngày nay, việc áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ và  
nhất là công nghệ thông tin trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử không chỉ  
tại Việt Nam mà các nước khác trên thế giới đã làm cho văn bản, tài liệu điện tử  
1
trở thành một công cụ thông tin chủ yếu trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức.  
Đặc biệt trong vấn đề quản lý Nhà nước, tài liệu điện tử đang dần tạo ra những  
chuyển biến tích cực trong cách thức tổ chức, hoạt động cũng như sự điều hành  
quản lý, dần thay thế những phương thức hoạt động truyền thống và tạo ra những  
giá trị phi truyền thống riêng biệt dễ dàng trong việc quản lý, khai thác sử dụng  
nhằm hướng tới một Chính phủ điện tử không giấy. Lý luận và thực tiễn về công  
tác văn thư, lưu trữ trong môi trường điện tử đối với đối tượng xử lý là văn bản, tài  
liệu điện tử đòi hỏi phải có sự thay đổi so với đối tượng là tài liệu truyền thống,  
những yếu tố này không chỉ phải được kế thừa trên nền tảng của các cách thức sử  
dụng phương tiện truyền thống mà còn phải có sự sáng tạo phát triển trên nền cái  
truyền thống đó.  
Tài liệu điện tử là một trong những loại tài liệu lưu trữ tiêu biểu, đại diện  
cho nền hành chính điện tử, là kết quả hoạt động của Chính phủ điện tử. Tài liệu  
lưu trữ điện tử là di sản quốc gia, cần được quản lý thống nhất, hiệu quả để phục  
vụ các hoạt động quản lý của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và nhu cầu xã hội.  
Với sự ra đời của tài liệu điện tử thì đây đang dần trở thành là một điểm sáng, một  
công cụ có hiệu quả cao trong việc giải quyết, quản lý, khai thác và sử dụng tài liệu  
đối với các cơ quan Nhà nước từ đó đem lại nhiều hiệu suất tích cực trong công  
việc, nhưng đồng nghĩa với việc phát triển của các loại hình tài liệu này trong xu  
hướng công nghệ hiện nay cũng đòi hỏi các cơ quan, tổ chức phải có sự đầu tư,  
phát triển về trang thiết bị, kỹ thuật để thích ứng với thời đại nhất là thời đại kết  
nối số như hiện nay. Bên cạnh đó, sự phát triển của loại hình tài liệu này cũng chứa  
đựng những rủi ro tiềm ẩn ngày càng cao nhất là các thiết bị công nghệ số càng  
phát triển đòi hỏi phải có cách thức quản lý phù hợp để không xảy ra những sự cố  
đáng tiếc như: rò rỉ thông tin, đánh cắp dữ liệu, v.v... Do đó, phải hình thành cách  
thức quản lý để phù hợp với những điều kiện mà hiện nay mang lại  
Từ những lý do trên. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã quyết định lựa chọn đề tài  
“Quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục Thế quận Long Biên - Hà Nội” để minh  
2
chứng cho những giá trị của tài liệu điện tử mang lại cũng như cách thức quản lý  
tài liệu điện tử hiện nay của các cơ quan nhà nước nhất là các cơ quan nhà nước  
đóng vị trí chủ chốt, quan trọng trong việt phát triển quốc gia.  
Ngoài ra, với đề tài quản lý tài liệu điện tử cũng có không ít các nhà nghiên  
cứu, nhà khoa học,v.v...thuộc cùng lĩnh vực quản lý ngành tìm hiểu và nghiên cứu  
nhằm cho ra các công trình nghiên cứu khoa học để phục vụ mục đích quản lý.  
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đã nêu ra được những mặt tích cực của  
tài liệu điện tử cũng như cách thức quản lý của các tài liệu đó ra sao trong hoạt  
động của cơ quan. Tuy nhiên, qua mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ thì cách thức quản lý  
có thể khác nhau đặc biệt xét về góc độ là sinh viên đang học tập tại giảng đường  
Đại học thì nhóm nghiên cứu muốn tìm hiểu sự khác biệt giữa kiến thức lý luận  
được trang bị và thực tế khác nhau như thế nào?. Từ đó, đưa ra những đánh giá,  
giải pháp riêng để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài liệu điện tử, nên  
đây có thể xem là điểm mới trong đề tài này so với các đề tài khác cùng loại.  
Không những thế, khi tìm hiểu đề tài này nhóm nghiên cứu muốn tạo nguồn cảm  
hứng cho sinh viên Khoa Văn thư - Lưu trữ nói riêng và Trường Đại học Nội vụ  
Hà Nội nói chung một nguồn cảm hứng mới khi tìm hiểu về lĩnh vực này đồng thời  
cũng muốn tạo ra một nguồn tư liệu bổ ích cho các thế hệ sinh viên tiếp theo.  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu  
Hiện nay, về vấn đề liên quan đến đề tài quản lý tài liệu điện tử tại các cơ  
quan Nhà nước có không ít các công trình nghiên cứu khoa học liên quan. Những  
công trình này là thành quả của sự tâm huyết, nỗ lực của việc nghiên cứu khoa học  
nhằm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau của đời sống – xã hội  
Có thể kể đến danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan:  
1. Đề án “Quản lý tài liệu lưu trữ điện tử trong các cơ quan Nhà nước” của  
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước. Với đề tài này, đã cung cấp cho người đọc một  
cái nhìn tổng quan về nền tảng khoa học của việc ứng dụng tài liệu điện tử vào các  
hoạt động giao dịch cũng như quản lý tại các cơ quan Nhà nước, không những thế  
3
khi áp dụng loại hình tài liệu đi vào rộng rãi các lĩnh vực khác nhau của đời sống -  
xã hội đề tài này còn cho mọi người hiểu về việc hoàn thiện khung cơ sở pháp lý  
và quy trình nghiệp vụ của việc quản lý tài liệu điện tử tại các cơ quan, tổ chức từ  
đó xây dựng, chuẩn bị kho lưu trữ số tại các lưu trữ lịch sử và chiến lược đào tạo  
nguồn nhân lực để quản lý tài liệu điện tử.  
2. Hội thảo khoa học “Lập hồ sơ điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử”  
3. Đề tài nghiên cứu khoa học “Quản lý và sử dụng văn bản điện tử tại Tổng  
cục Hải quan” của nhóm nghiên cứu Lưu Thị Linh làm chủ nhiệm đề tài lớp  
1605LTHA Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã đưa đến những vấn đề lý luận  
chung về quản lý và sử dụng tài liệu điện tử tại Việt Nam trên cơ sở đó nêu ra  
những cái nhìn thực tế về quy trình quản lý và vấn đề sử dụng về văn bản điện tử  
tại Tổng cục Hải quan  
4. Khóa luận tốt nghiệp “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài  
liệu lưu trữ điện tử ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Như Lớp 1511LTHA  
Trường Cao đẳng Văn thư - Lưu trữ. Đề tài đã khái quát lên những vấn đề chung  
nhất của cơ sở lý luận về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản  
lý tài liệu lưu trữ điện tử đồng thời thông qua đề tài các tác giả cũng đã đánh giá  
được tác động của hệ thống văn bản đối với công tác quản lý và từ đó đưa ra các  
giải pháp nhằm nâng cao vấn đề  
Từ những công trình nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng cách  
thức quản lý tài liệu điện tử tại các cơ quan Nhà nước ở những lĩnh vực và phạm vi  
khác nhau sẽ có có những sự tác động khác nhau cũng như hình thức quản lý và sử  
dụng khác nhau nên nhóm nghiên cứu muốn nhìn nhận, đánh giá về vấn đề này  
thông qua cách quản lý và khai thác sử dụng tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế quận  
Long Biên - Hà Nội từ đó nhằm tìm ra điểm giống cũng như khác biệt sự khác biệt  
đó giữa các cơ quan. Đồng thời, với đề tài này thông qua cách tiếp cận của sinh  
viên cụ thể là sinh viên ngành Lưu trữ học để có thể đưa ra những ý kiến của nhóm  
qua cách nhìn nhận với tư cách là sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.  
Đây chính là điểm mới của đề tài mà nhóm nghiên cứu muốn hướng tới.  
4
3. Mục tiêu nghiên cứu  
Với đề tài này mục tiêu của nhóm nghiên cứu muốn hướng tới như sau:  
- Nêu ra cơ sở lý luận về quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế quận Long  
Biên.  
- Làm rõ được vai trò và tầm quan trọng của tài liệu điện tử.  
- Tìm hiểu được cách thức quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế quận Long  
Biên.  
- Đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của vấn đề quản lý tài liệu điện tử  
ở Chi cục Thuế quận Long Biên.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Đưa ra các lý luận chung về quản lý tài liệu điện tử trên cơ sở tổng hợp các  
lý luận trước đó đã có  
- Khảo sát tình hình thực tế vấn đề quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế  
quận Long Biên nhằm nêu ra những ưu điểm, tích cực cũng như mặt hạn chế,  
nhược điểm của phương pháp quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế quận Long  
Biên  
- Trên cơ sở khảo sát thực tế tại Chi cục Thuế quận Long Biên đề ra những  
giải pháp, ý kiến nhằm nâng cao quy trình quản lý tài liệu điện tử ở Chi cục Thuế  
quận Long Biên  
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
a. Đối tượng nghiên cứu: Tài liệu điện tử Chi cục Thuế Long Biên  
b. Phạm vi nghiên cứu  
- Về không gian: Chi cục Thuế quận Long Biên - Thành phố Hà Nội  
- Về thời gian: 2019-2020  
5
6. Phương pháp nghiên cứu  
a. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết  
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết  
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết  
- Phương pháp giả thuyết  
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
- Phương pháp quan sát  
- Phương pháp điều tra  
- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp kinh nghiệm  
7. Kết cấu đề tài  
Gồm 3 phần:  
a. Phần mở đầu  
b. Phần nội dung  
- Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý và khai thác sử dụng tài liệu điện tử tại  
Chi cục Thuế quận Long Biên - Hà Nội  
- Chương 2. Thực trạng quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế quận Long  
Biên  
- Chương 3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản lý và khai  
thác sử dụng tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế quận Long Biên - Hà Nội  
c. Phần kết luận  
6
8. Đóng góp đề tài  
- Thứ nhất: Đề tài đã khái quát được vai trò, giá trị cũng như phương pháp  
quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục Thuế quận Long Biên.  
- Thứ hai: Nếu đề tài thành công, sẽ mang đến những giải pháp tích cực trong  
việc quản lý tài liệu điện tử không chỉ tại Chi cục Thuế quận Long Biên mà còn ở  
các Chi cục Thuế khác trên phạm vi cả nước.  
- Thứ ba: Nếu đề tài thành công, đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích  
cho giảng viên và sinh viên Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội đặc biệt về công tác  
lưu trữ tài liệu.  
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài khoa học, nhóm nghiên cứu đã  
gặp nhiều khó khăn nhất định trong quá trình tiếp cận, khảo sát thực tế, thu thập  
thông tin còn hạn chế. Hơn nữa đây là lần đầu tiên nhóm thực hiện đề tài nghiên  
cứu khoa học về vấn đề quản lý tài liệu điện tử; trình độ chuyên môn và kinh  
nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài còn nhiều thiếu sót; qua đây nhóm  
nghiên cứu mong muốn nhận được những lời nhận xét, góp ý từ thầy cô, các bạn  
sinh viên và những cá nhân quan tâm để bài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.  
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn !.  
Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2020  
TM. NHÓM NGHIÊN CỨU  
Chủ nhiệm đề tài  
Nguyễn Hữu Phước  
7
NỘI DUNG  
Chương 1.  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ TẠI CHI CỤC THUẾ  
QUẬN LONG BIÊN - HÀ NỘI  
1.1. Một số lý luận về quản lý và khai thác sử dụng tài liệu điện tử  
1.1.1. Một số khái niệm  
1.1.1.1. Khái niệm tài liệu  
Từ thời xa xưa khi con người biết sử dụng công cụ lao động cho đến khi biết  
sáng tạo ra chữ viết thì đồng nghĩa với đó là các phương tiện phục vụ cho mục đích  
biểu đạt ý, truyền đạt thông tin cũng được phát triển theo nhằm mang lại những  
hiệu quả thông tin cao nhất đến với người đọc, nó được thể hiện trên các chất liệu  
khác nhau như: mai rùa, gỗ, vải, kim loại, giấy, v.v... tất cả những chất liệu này  
được gọi là vật mang tin. Từ đó, khái niệm về tài liệu cũng được hình thành, nó  
cũng được định nghĩa với nhiều cách khác nhau theo từ điển Tiếng Việt thì “Tài  
liệu là dữ liệu, tin tức giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì”  
[http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/T%C3%A0i_li%E1%BB%87u]  
Phân tích sự phát triển của khái niệm “tài liệu” có thể khẳng định tính không  
tách rời giữa vật mang tin và của thông tin ghi trên nó. Nhưng những định nghĩa  
sớm hơn lại nhấn mạnh sự chú ý vào đối tượng vật chất là vật mang thông tin, còn  
những định nghĩa muộn hơn lại dành sự chú ý nhiều hơn tới thành tố thông tin  
chứa đựng của tài liệu. Ở nước Nga, theo tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về thuật ngữ  
GOST 16487-70 “Văn thư và công tác lưu trữ. Các thuật ngữ và định nghĩa”, khái  
niệm “tài liệu” đã được định nghĩa là “Phương tiện để giữ lại các tin tức về những  
sự việc, sự kiện, hiện tượng của thực tiễn khách quan và hoạt động tư duy của con  
người”. Trong tiêu chuẩn GOST 16487-83 “Văn thư và công tác lưu trữ. Các thuật  
8
ngữ và định nghĩa”, thuật ngữ “tài liệu” đã được định nghĩa như là “Đối tượng vật  
chất cùng với thông tin được ghi nhận bởi con người, bởi phương pháp để truyền  
nó trong thời gian và không gian”.  
Ngày nay, khái niệm “tài liệu”1 được định nghĩa như sau: “Tài liệu - là thông  
tin được gắn trên vật mang tin với những tiêu chí cho phép nhận dạng nó”. Đối với  
công tác quản lý, văn thư, lưu trữ, điều quan trọng là làm sao có thể nhận dạng  
được thông tin chứa đựng trong tài liệu, sao cho tài liệu được trình bày theo trật tự  
được thiết lập với những tiêu chí nhất định (các yếu tố trình bày tài liệu).  
Cần phải nói thêm rằng, tài liệu còn có hai đặc điểm phân biệt nữa. Thứ nhất,  
thông tin chứa đựng trong tài liệu nhờ sự tham gia sáng tạo của con người, vì vậy  
tài liệu phản ánh quá trình quản lý hay hoạt động cá nhân; tài liệu không chỉ đơn  
giản là tập hợp các dữ liệu mà còn là kết quả hoặc là sản phẩm của một sự kiện nào  
đó. Thứ hai, một thành phần mang tính pháp lý của tài liệu - khả năng dùng làm  
bằng chứng của nó đóng vai trò không kém phần quan trọng trong hoạt động quản  
lý và hoạt động cá nhân. Chính vì vậy, trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 15489, “tài  
liệu” được hiểu là thông tin được tạo lập, tiếp nhận và lưu giữ bởi tổ chức hoặc cá  
nhân như là bản chứng nhận để khẳng định trách nhiệm pháp lý hay hoạt động  
quản lý. Nghĩa là, khác biệt với thông tin và dữ liệu, trước tiên tài liệu là bằng  
chứng về hoạt động của tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội.  
Tương đương với thuật ngữ đang sử dụng, “tài liệu” theo nghĩa khác của thuật  
ngữ tiếng Anh là “record” nghĩa là “sự ghi chép” mà định nghĩa của nó trong văn  
học nước ngoài được mang một nghĩa cụ thể hơn so với định nghĩa “document”-  
thuật ngữ mang tính chung hơn. Từ thuật ngữ “record” có thể cho chúng ta hiểu rõ  
hơn giá trị của tài liệu nằm ở thông tin của sự ghi chép có trong đó. Do đó, trong  
khi bất cứ tài liệu đều là bản ghi thì không phải bản ghi nào cũng được xem là tài  
1 Xem luật liên bang về “Thông tin, thông tin hoá và bảo mật thông tin” và tiêu chuẩn quốc gia GOST R 51141- 98  
9
liệu. Thuật ngữ “tài liệu”2 được định nghĩa như là thông tin, dữ liệu có giá trị và  
vật mang tin tương ứng có thể là giấy, ảnh, vật liệu từ, điện tử hay đĩa quang. Dạng  
chung của tài liệu là bản ghi - là tài liệu chứa đựng các kết quả đã đạt được hoặc  
xác nhận hoạt động đã hoàn thành. Thuật ngữ “bản ghi” theo ISO 15489 nghĩa là  
thông tin hay đối tượng đã ghi có thể được coi là một đơn vị riêng - đơn vị nguyên  
vẹn. Đặc điểm cơ bản của bản ghi là tính linh hoạt của nó. Các bản ghi có thể được  
tạo dựng bởi nhiều người, tồn tại dưới một vài phiên bản qua các giai đoạn hình  
thành trong suốt các chu trình thời gian khác nhau. Trong phạm vi quản lý, thuật  
ngữ “tài liệu” có các cụm từ đồng nghĩa: “thông tin được tài liệu hoá”, “tài liệu  
công vụ”, “tài liệu công việc”, “tài liệu quản lý”. Tài liệu có thể là một hay vài bản  
ghi, là thành phần của văn kiện (tiếng Anh: documentation).  
Kế thừa và tiếp nhận những sự hiểu biết của Thế giới về thuật ngữ “tài liệu”  
thì trong Luật Lưu trữ năm 2011 của nước Cộng hòa chủ nghĩa Việt Nam đã định  
nghĩa khái niệm tài liệu:  
“Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ  
quan, tổ chức, cá nhân.  
Tài liệu bao gồm: Văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên  
cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi  
âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác,  
nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin  
khác” [Khoản 2, Điều 2, Luật Lưu trữ 2011].  
1.1.1.2. Khái niệm tài liệu lưu trữ  
Ngay từ thời nguyên thuỷ, con người đã biết sử dụng những phương tiện ghi  
tin và truyền đạt thông tin một cách thô sơ nhất như: ghi ký hiệu trên các vỏ cây,  
vách đá, đất sét, v.v... Xã hội loài người càng phát triển cũng đồng nghĩa với việc  
2 Theo GOST R ISO 9000  
10  
con người càng chế tạo ra những phương tiện ghi tin và vật mang thông tin tiện lợi  
hơn, điều đó được thể hiện kể từ khi con người bắt đầu hình thành Nhà nước, chính  
yêu cầu của việc cung cấp thông tin nhằm phục vụ cho lao động, sản xuất cũng  
như công tác quản lý, điều hành đất nước đòi hỏi phải lưu giữ những thông tin cần  
thiết với mục đích là truyền đạt lại giá trị thông tin về những kinh nghiệm hoạt  
động sáng tạo giữa các đối tượng với nhau mà chủ yếu là giữa con người với con  
người của thế hệ hiện tại và tương lai. Để đáp ứng nhu cầu đó, con người đã chế  
tạo ra các vật liệu, phương tiện có khả năng ghi tin và mang tin có độ bền cao, lưu  
giữ được trong thời gian dài. Trong việc ghi tin và trao đổi thông tin, con người có  
nhiều phương tiện và nhiều cách thể hiện khác nhau, trong đó văn bản được coi là  
phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin quan trọng nhất. Ngay từ khi ra đời, văn  
bản đã trở thành phương tiện không thể thiếu trong hoạt động quản lý Nhà nước.  
Văn bản được sử dụng để ghi chép các sự kiện, hiện tượng, truyền đạt các chỉ thị,  
mệnh lệnh, là căn cứ cơ sở để điều hành và quản lý xã hội. Vì vậy, càng ngày con  
người càng nhận thức được vai trò của tài liệu nói chung và văn bản nói riêng. Con  
người luôn có ý thức gìn giữ tài liệu để phục vụ nhu cầu sử dụng và coi nó như một  
loại tài sản quý giá. Theo cách hiểu đơn giản, tài liệu lưu trữ là những tài liệu có  
giá trị được lưu lại, giữ lại để đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin quá khứ, phục  
vụ cho đời sống xã hội. Như vậy, tài liệu lưu trữ cũng có nhiều loại và văn bản chỉ  
là một dạng tài liệu lưu trữ. Quan điểm về tài liệu lưu trữ càng ngày càng có sự  
biến đổi nhất định phù hợp với thời đại sự phát triển của xã hội con người.  
Ngày nay, theo nghĩa chuyên ngành tài liệu lưu trữ được định nghĩa như là  
bản chính, bản gốc của những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong toàn bộ  
khối tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá  
nhân, được bảo quản trong các kho lưu trữ để khai thác phục vụ cho các mục đích  
chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử, v.v... của toàn xã hội. Tài liệu lưu trữ  
là bản chính, bản gốc của tài liệu được in trên giấy, phim, ảnh, băng hình, đĩa hình,  
băng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc các vật mang tin khác, trong trường hợp không  
11  
còn bản chính, bản gốc thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp. Để biết được một  
tài liệu lưu trữ có giá trị ngoài đó là bản chính, bản gốc hoặc bản sao thay thế hợp  
pháp thì tài liệu cũng phải đáp ứng những đặc điểm như: Nội dung của tài liệu lưu  
trữ chứa đựng những thông tin quá khứ, có tính chính xác cao và do Nhà nước  
thống nhất quản lý theo những quy định của pháp luật.  
Quán triệt những quan điểm trên theo Luật Lưu trữ năm 2011 của Nước Cộng  
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:  
“Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu  
khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ.  
Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản  
gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp” [Khoản 3, Điều 2, Luật  
Lưu trữ 2011].  
1.1.1.3. Khái niệm tài liệu điện tử  
Tài liệu điện tử là một dạng của tài liệu lưu trữ đó là tài liệu cần lưu giữ cho  
công dân, xã hội và quốc gia theo mức độ giá trị của vật mang tin và của thông tin.  
Các cơ quan, tổ chức Nhà nước và công dân hoạt động kinh doanh phải bảo đảm  
việc giữ gìn các tài liệu lưu trữ (không phụ thuộc vào dạng vật mang tin) theo  
những mức độ thời hạn bảo quản đã được quy định. Thuật ngữ “tài liệu điện tử” đã  
xuất hiện vào đầu những năm 1990, nhưng đối với công tác quản lý tài liệu ở Nga,  
chỉ vào cuối những năm 1990 nó mới bắt đầu được sử dụng tích cực. Tới thời điểm  
đó, trong các sách trong nước và nước ngoài có các thuật ngữ được chấp nhận  
chung là “tài liệu đọc được bằng máy”, “tài liệu trên vật mang là máy tính”, “tài  
liệu được máy tính dẫn hướng” và “đồ họa máy tính”. Cụ thể, định nghĩa thuật ngữ  
“tài liệu trên vật mang tin là máy tính” có trong tiêu chuẩn hiện hành GOST R  
51141-98: “Đó là tài liệu được tạo lập do sử dụng các vật mang và các phương  
pháp ghi bảo đảm xử lý thông tin của nó bằng máy tính điện tử”.  
12  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 175 trang yennguyen 15700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Quản lý tài liệu điện tử tại Chi cục thuế Long Biên - Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_quan_ly_tai_lieu_dien_tu_tai_chi_cuc_thue_lon.pdf