Bàn về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Kỷ yếu Hội thảo khoa học năm 2020  
BÀN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI  
DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
ThS. Phạm Thị Mai Hƣơng  
Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trƣờng Đại học Kinh tế Nghệ An  
Tóm tắt:  
Công tác quản lý thuế là một trong các vấn đề rất quan trọng đối với các cơ  
quan quản lý của Nhà nước. Nếu thực hiện tốt công tác này sẽ tránh thất thoát lượng  
nguồn thu lớn của Nhà nước, còn nếu không sẽ là ngược lại. Quản lý thuế đối với các  
doanh nghiệp (DN) là một nội dung rất phức tạp trong nội dung quản lý thuế nói  
chung của các cơ quan quản lý Nhà nước từ trước đến nay. Hàng năm, tình trạng thất  
thu thuế từ các doanh nghiệp vẫn cứ xảy ra và ngày càng nhiều, theo thống kê thì tỷ lệ  
này trên cả nước chiếm khá cao. Trong khi đó, số lượng lớn các doanh nghiệp mới  
càng gia tăng, mở rộng cả trong nước và quốc tế. Một trong các nguyên nhân làm thất  
thu thuế là sự bất cập trong công tác quản lý thuế đối với DN hiện nay. Bài viết này tác  
giả đưa ra nhằm trao đổi để khắc phục các bất cập đó và đề xuất một số ý kiến để góp  
phần thực hiện tốt hơn công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp của cơ quan  
quản lý Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Quản lý thuế, doanh nghiệp, nội dung quản lý thuế  
1. Những vấn đề chung về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp của cơ  
quan Nhà nƣớc.  
1.1 Khái niệm về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp của cơ quan Nhà  
nước.  
Quản lý thuế của cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp là quá trình lập kế  
hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phân công, phối hợp, kiểm soát và thực hiện các biện pháp  
cụ thể nhằm thực thi tốt nhất hệ thống chính sách thuế của các cơ quan Nhà nước đối  
với doanh nghiệp.  
Hoạt động quản lý thuế được luật hoá tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11  
ngày 29/11/2006, có hiệu lực thực thi vào 01/07/2007; Luật số 21/2012/QH13 ngày  
20/11/2012, có hiệu lực ngày 01/07/2013 và Luật số 38/2019/QH14 được Quốc hội  
thông qua ngày 13/06/2019, có hiệu lực từ 01/07/2020.  
68  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN  
Theo đó, các cơ quan Nhà nước quản lý thuế đối với các doanh nghiệp là các cơ quan,  
đơn vị của Nhà nước trong lĩnh vực thuế. Bao gồm: Các cơ quan thuế như Tổng cục  
Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế; Cơ quan hải quan như Tổng cục Hải quan, Cục Hải  
quan, Chi cục Hải quan và các cơ quan Nhà nước khác có liên quan như Kho bạc,  
Kiểm toán, Quản lý thị trường, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan  
Kế hoạch đầu tư... nhằm thực hiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp. Theo  
Luật quản lý thuế, mỗi một chủ thể đều được phân giao trách nhiệm cụ thể và rõ ràng  
trong quá trình quản lý thuế đối với DN.  
Công tác quản lý thuế là hoạt động của các cơ quan thuế của Nhà nước nhằm  
mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế cho Ngân sách Nhà nước, góp phần phát  
huy tốt hơn vai trò của các luật thuế và luật quản lý thuế mà Nhà nước ban hành. Để  
đảm bảo thực thi công tác quản lý thuế tốt, đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa  
các doanh nghiệp (là đối tượng nộp thuế) và các cơ quan quản lý Nhà nước về thuế  
(chủ thể quản lý thuế), nhằm nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả thu cho Ngân  
sách Nhà nước, góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng  
trưởng kinh tế, nâng cao ý thức tự giác nộp thuế của các doanh nghiệp và phải coi đó  
như một bổn phận và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế.  
1.2 Nội dung quản lý thuế đối với doanh nghiệp.  
Theo luật Quản lý thuế 2006 của Quốc hội ban hành (sửa đổi năm 2012) và luật  
Quản lý Thuế số 38/2019/QH14, nội dung quản lý thuế bao gồm những hoạt động  
như: đăng kí thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế,  
giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin người nộp thuế; kiểm tra,thanh  
tra thuế; cưỡng chế thi hành, quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm về luật thuế,  
giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.  
Theo đó, nội dung quản lý thuế đối với DN của các cơ quan quản lý Nhà nước  
cũng chính là những nội dung trên, bởi vì các DN chính là một trong các đối tượng chủ  
yếu của quản lý thuế. Chẳng hạn như, công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp  
của cơ quan thuế được thực hiện tại các địa phương (các tỉnh thành) là Cục Thuế và  
Chi cục Thuế. Ở cấp Cục Thuế, nội dung quản lý thuế bao gồm: Đăng ký thuế và cấp  
mã số thuế; Quản lý hoá đơn, chứng từ; Xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế; Hoàn thuế  
và kiểm tra, thanh tra sau hoàn thuế; Quyết toán thuế và kiểm tra quyết toán thuế; Xử  
lý miễn, giảm thuế; Quản lý hồ sơ doanh nghiệp. Còn ở cấp Chi cục Thuế, nội dung  
69  
Kỷ yếu Hội thảo khoa học năm 2020  
quản lý thuế đối với các DN bao gồm: Đăng ký thuế; Điều tra doanh số ấn định thuế  
(đối với các hộ kinh doanh ấn định thuế); Xét miễn, giảm thuế; Tính thuế và lập sổ bộ  
thuế; Xử lý tờ khai nộp thuế; Xử lý giấy nộp tiền và lập báo cáo kế toán thống kê thuế.  
Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý thuế Cục Thuế và Chi cục Thuế phải phối hợp  
chặt chẽ với các cơ quan hữu quan như: Kho bạc, Hải quan, Quản lý thị trường, Uỷ  
ban nhân dân Tỉnh, Sở kế hoạch Đầu tư... để đảm bảo quản lý triệt để và phát triển  
nguồn thu từ các DN vào NSNN.  
2. Tình hình quản lý thuế đối với doanh nghiệp của các cơ quan quản lý Nhà  
nƣớc trong thời gian gần đây.  
2.1 Những kết quả đạt được.  
Tình hình thu thuế trong thời gian gần đây của ngành Thuế.  
Như trên đã đề cập, công tác quản lý thuế là hoạt động của các cơ quan thuế của  
Nhà nước nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế cho NSNN, góp phần  
phát huy tốt hơn vai trò của các luật thuế và luật quản lý thuế mà Nhà nước ban hành.  
Vì vậy, thông qua công cụ thuế với sự điều chỉnh của luật thuế, công tác quản lý thuế  
đạt được một số kết quả nhất định. Tính đến hết năm 2019, số thu từ thuế và phí đạt  
21% tổng sản phẩm nội địa. Trong số đó, thu từ thuế công, thương nghiệp và dịch vụ  
ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 204,7 nghìn tỷ đồng, bằng 84,8% so với  
dự toán pháp lệnh của năm; thu thuế TNCN đạt 97,8 nghìn tỷ đồng, bằng 86,4%; thu  
thuế bảo vệ môi trường 50,8 nghìn tỷ đồng, bằng 73,6%; thu tiền sử dụng đất 115,3  
nghìn tỷ đồng, bằng 128,1%. Theo tổng kết của Bộ Tài chính, năm 2019 được đánh  
giá thắng lợi về thu thuế và thu NSNN (thu NSNN vượt 9,1 % so với dự toán).  
Sang năm 2020, tình hình thu NS trong quý I/2020 có dấu hiệu giảm dần do tác động  
của dịch Covid-19, đặc biệt, số thu NS giảm sâu trong tháng 04/2020. Một số nguồn  
thu lớn có tốc độ giảm nhanh như thuế GTGT tăng 8% trong quý IV/2019 và 3,2%  
trong 3 tháng đầu năm, nhưng đến tháng 4 đã giảm 48,8%, lũy kế 4 tháng giảm 9,3%  
so với cùng kỳ năm trước. Thuế tiêu thụ đặc biệt tăng 9,5% trong quý IV/2019 nhưng  
giảm 2,1% trong 3 tháng đầu năm và đến tháng 4 giảm 22,8%, lũy kế 4 tháng giảm  
7,2%. Thuế thu nhập DN dù tháng 12/2019 tăng 15,6% và 3 tháng đầu năm tăng  
16,1% nhưng tháng 4 đã giảm 55,6%. Như vậy, sau 4 tháng, thuế thu nhập DN giảm  
7,3% so với cùng kỳ năm trước. (Theo Báo cáo nhanh của Tổng Cục Thuế)  
70  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN  
Tiến độ thu NS 4 tháng đầu năm 2020 tại hầu hết địa phương đều đạt thấp cả về tiến  
độ và tốc độ. Riêng trong tháng 4, chỉ có 3 địa phương thu cao hơn so với cùng kỳ, 4  
địa phương thu đạt từ 8% - 9,4% so với dự toán, 59/63 địa phương còn lại thu thấp hơn  
8%, 60 địa phương có số thu giảm so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo sơ bộ của  
các địa phương tính đến cuối tháng 3/2020, tổng số thuế giảm khoảng 143.000 tỷ  
đồng. Nguyên nhân khiến số thu ở nhiều địa phương giảm mạnh là do hầu hết các  
ngành sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và việc thực hiện chính  
sách gia hạn tiền thuế, tiền thuê đất, cùng với đó Chính phủ ra Nghị định  
100/2019/NĐ-CP về phòng chống rượu bia.  
Cho đến thời điểm tháng 06/2020, thu lũy kế 5 tháng đầu năm 2020 do cơ quan  
thuế quản lý ước đạt 499.832 tỷ đồng, bằng 39,8% so với dự toán pháp lệnh, bằng  
97,6% so với cùng kỳ năm 2019. Chỉ tính riêng trong tháng 5/2020, thu NSNN do  
ngành Thuế quản lý đạt 58.000 tỷ đồng, đạt 4,6% so với dự toán pháp lệnh, chỉ bằng  
63,1% so với cùng kỳ năm 2019. Kết quả trên cho thấy tình hình thu NS 5 tháng đầu  
năm 2020 tiếp tục gặp khó khăn.  
Tình hình thực hiện công tác quản lý thuế.  
Để có các kết quả trên, công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với  
các DN là vấn đền rất quan trọng, quyết định đến số thu của ngành và nền kinh tế.  
Công cụ để thực hiện công tác quản lý thuế chủ yếu nhất đó chính là Luật Quản lý  
thuế. Kể từ khi ra đời năm 2016 (có hiệu lực năm 2017), cho đến nay Luật quản lý  
thuế đã được điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi qua các lần vào các năm 2012, 2014, 2016  
và năm 2019 (có hiệu lực bắt đầu từ 07/2020), nhằm siết chặt quản lý, chống thất thu  
ngân sách Nhà nước. Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã đạt được một số  
kết quả đáng ghi nhận. Theo đó, các nội dung của quản lý thuế như đăng kí thuế, khai  
thuế, nộp thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt;  
quản lý thông tin người nộp thuế, ... đều được cải thiện. Trong quý I/2020, ngành Thuế  
cũng đẩy mạnh thực hiện Chính phủ điện tử, hiện đại hoá phương thức quản lý thu nộp  
NSNN, nâng cấp cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu đối với quản lý thu hiện đại ở tất cả  
các khâu trong quản lý thuế.  
Sang năm 2020, hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai rộng rãi tại 63/63  
Cục Thuế và 100% số Chi cục Thuế trên cả nước với 758.676 DN tham gia sử dụng  
dịch vụ khai thuế điện tử, đạt 99,91% số DN đang hoạt động; phối hợp với 55 NHTM  
71  
Kỷ yếu Hội thảo khoa học năm 2020  
trên cả nước để triển khai thực hiện hệ thống nộp thuế điện tử với số doanh nghiệp  
tham gia là 697.527 doanh nghiệp, đạt 99,2% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động;  
giao dịch phát sinh thu thuế tại các ngân hàng là 3.500.031 món, với số tiền là 151.272  
tỷ đồng. Đầu tháng 5/2019, Cục Thuế Hà Nội bắt đầu chuyển sang sử dụng dịch vụ  
thuế điện tử eTax (thuedientu.gdt.gov.vn) thay thế hệ thống iHTKK  
(nhantokhai.gdt.gov.vn), nộp thuế điện tử (nopthue.gdt.gov.vn) đang cung cấp cho các  
doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Đây là dịch vụ thuế điện tử có những ưu việt nổi  
bật, ngoài các chức năng của hệ thống cũ, hệ thống eTax còn bổ sung thêm một số tính  
năng mới như: người nộp thuế có thể tiếp cận và quản lý tất cả các dịch vụ hệ eTax  
trên một hệ thống duy nhất thay vì phải đăng nhập vào nhiều ứng dụng khác nhau như  
trước đây, giúp người nộp thuế dễ dàng thực hiện đầy đủ các bước trong các quy trình  
kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, tra cứu thông tin hồ sơ, nghĩa vụ thuế. Bên cạnh đó,  
người nộp thuế có thể tra cứu các hồ sơ thuế đã gửi đến cơ quan thuế, các thông báo  
xử lý kết quả của các hồ sơ thuế, tra cứu thông tin nghĩa vụ thuế. Đặc biệt, đối với các  
doanh nghiệp có quy mô lớn, ngoài tài khoản chính của một mã số thuế, doanh nghiệp  
có thể tạo thêm các tài khoản cho các chức danh khác nhau trong doanh nghiệp như  
giám đốc, kế toán trưởng, kế toán viên,... giúp cho việc kiểm soát trách nhiệm các  
thành viên một cách đảm bảo, linh hoạt.  
Đối với công tác quản lý hóa đơn, tại 2 địa phương lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí  
Minh đã thực hiện triển khai thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế  
đối với 254 doanh nghiệp đạt, 263.991 hóa đơn điện tử.  
Đối với công tác hoàn thuế, hệ thống hoàn thuế điện tử được triển khai tại tất cả 63/63  
cục thuế, đạt 96,2% số doanh nghiệp và 96,7% số hồ sơ hoàn thuế theo phương thức  
điện tử. Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, tính từ đầu năm 2020 đến nay đã có 2.354  
doanh nghiệp tham gia hoàn thuế điện tử, đạt tỷ lệ 97,63%. Số hồ sơ tiếp nhận là 2.849  
hồ sơ trên tổng số 2.911 hồ sơ, đạt tỷ lệ 97,87%. Tổng số hồ sơ hệ thống đã giải quyết  
hoàn là 1.695 hồ sơ, với tổng số tiền đã giải quyết hoàn là hơn 8.492 tỷ đồng.  
Đối với công tác thanh kiểm tra, theo báo cáo của Tổng cục Thuế, 5 tháng đầu năm  
2020 đã thực hiện được 15.195 cuộc thanh tra, kiểm tra; kiểm tra được 163.726 hồ sơ  
khai thuế tại cơ quan thuế. Tổng số tiền xử lý qua thanh tra, kiểm tra là hơn 20.737 tỷ  
đồng; tăng thu NSNN hơn 8.686 tỷ đồng. Trong đó, đã tiến hành thanh tra, kiểm tra  
72  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN  
được 48 DN có hoạt động giao dịch liên kết; truy thu, truy hoàn và phạt hơn 173 tỷ  
đồng; giảm lỗ hơn 891 tỷ đồng và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế hơn 1.000 tỷ  
đồng.  
Bên cạnh đó, ngành thuế quyết liệt triển khai công tác quản lý thu nợ và cưỡng  
chế nợ thuế, kịp thời thu vào NSNN đối với những khoản nợ thuế có khả năng thu; chỉ  
đạo xử lý triệt để các khoản nợ thuế đang chờ điều chỉnh, các khoản nợ chờ xử lý còn  
tồn đọng tại thời điểm ngày 31/12/2019. Cơ quan Thuế đã thu hồi 35.200 tỷ đồng thuế  
nợ đọng từ năm 2018 chuyển sang. Tổng số nợ thuế nội địa cuối tháng 12-2019 là  
80.830 tỷ đồng, tăng 5,9% so với thời điểm 31-12-2018. Trong đó: Nợ có khả năng thu  
là 40.602 tỷ đồng, chiếm 50,2% tổng số tiền thuế nợ, tăng 4,8% so với thời điểm 31-  
12-2018; nợ không có khả năng thu hồi là 40.228 tỷ đồng, chiếm 49,8%, tăng 7,1% so  
với thời điểm 31-12-2018. Cơ quan Hải quan đã thu hồi và xử lý 992 tỷ đồng nợ đọng  
thuế. Lũy kế tính đến thời điểm ngày 31/05/2020, số nợ thuế thu đạt 12.378 tỷ đồng,  
bằng 29,5% nợ thuế có khả năng thu tại thời điểm 31/12/2019 và tăng 5,8% so với  
cùng kỳ năm 2019. Trong đó, thu bằng biện pháp quản lý nợ là 8.262 tỷ đồng; thu  
bằng biện pháp cưỡng chế nợ là 4.116 tỷ đồng.  
2.2 Những bất cập trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp của cơ quan quản lý  
Nhà nước.  
Bên cạnh những kết quả đạt được, quản lý thuế đối với doanh nghiệp đang tồn  
tại nhiều bất cập.  
Thứ nhất, về phía các DN (đối tượng nộp thuế) chưa tuân thủ đúng quy trình  
quản lý thuế, còn tồn tại nhiều doanh nghiệp không thực hiện đúng các nghĩa vụ về kê  
khai, nhiều doanh nghiệp trốn thuế, gian lận về thuế, ứng dụng tin học vào công tác  
quản lý thuế chưa thực sự hiệu quả, thường xuyên thay đổi gây khó khăn cho cán bộ  
thực hiện nghiệp vụ, công tác bố trí nhân sự tại cơ quan thuế chưa phát huy hết năng  
lực của cán bộ công chức. Hầu hết các DN đều tuân thủ pháp luật thuế, chấp hành tốt  
việc khai thuế qua mạng, nộp thuế điện tử, sử dụng hóa đơn điện tử…Tuy nhiên, bên  
cạnh đó vẫn còn một số DN ý thức tuân thủ pháp luật thuế chưa tốt, lợi dụng chính  
sách để lách thuế, né thuế, dây dưa, chây ỳ, nợ thuế và làm thất thu thuế nhiều.  
Thực tế cho thấy, tình trạng nợ thuế gia tăng và thất thu thuế ở các DN chiếm  
con số rất lớn. Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Thuế, tổng số tiền nợ thuế tính  
đến cuối tháng 5/2020 là 97.757 tỷ đồng. Số nợ này tăng 0,5% so với cùng kỳ năm  
73  
Kỷ yếu Hội thảo khoa học năm 2020  
2019 và tăng tới 13,7% so với thời điểm ngày 31/12/2019. Trong đó, tiền nợ thuế có  
khả năng thu là 52.830 tỷ đồng (giảm 8,9% so với cùng kỳ năm 2019; tăng 26% so với  
thời điểm ngày 31/12/2019); tiền nợ thuế không còn khả năng thu hồi là 44.927 tỷ  
đồng (tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2019; tăng 1,9% so với thời điểm ngày  
31/12/2019). Mặc dù đã truy thu được nợ thuế ở trên, nhưng lại phát sinh các khoản nợ  
đọng mới. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành pháp luật thuế của một bộ  
phận DN chưa cao, chưa nộp đúng, đủ, kịp thời số phát sinh phải nộp vào NSNN theo  
quy định của pháp luật, bên cạnh đó các đơn vị quản lý nợ chưa áp dụng triệt để các  
biện pháp đôn đốc cưỡng chế theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế nên hiệu quả  
công tác thu nợ chưa cao.  
Bên cạnh đó, trong năm 2020, việc tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số  
41/NĐ-CP của Chính phủ về gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất cho các DN, tổ chức, cá  
nhân thuộc các nhóm ngành, lĩnh vực chịu tác động nặng của dịch bệnh Covid-19, các  
DN nhỏ và siêu nhỏ đã làm sụt giảm sâu số thu ngân sách tháng 5 so với cùng kỳ.  
Ngoài ra, số thu trong nửa năm đầu 2020 giảm một phần là do việc tăng cường các  
biện pháp thực hiện Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ về hạn chế bia rượu  
khi tham gia giao thông, dẫn đến sản lượng tiêu thụ rượu bia tại nhiều địa phương  
giảm mạnh.  
Về công tác chống thất thu thuế, theo số liệu của cơ quan Kiểm toán Nhà nước  
(KTNN), hậu kiểm của cơ quan thuế mới thực hiện được khoảng 18%, phần còn lại  
gần như chưa được kiểm soát. Qua đây cho thấy, công tác chống thất thu đối với các  
doanh nghiệp chưa được triển khai quyết liệt, chưa phối hợp tốt với các cơ quan quản  
lý để xác định đúng doanh số, chưa phù hợp với thực tế, đặc biệt là đối với những  
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các địa bàn, địa phương và những DN kinh doanh trong  
lĩnh vực thương mại điện tử. Khi phát hiện ra các trường hợp vi phạm, các cơ quan  
quản lý không xử lý kịp thời và triệt để các vi phạm.  
Vẫn còn nhiều doanh nghiệp cố tình vi phạm luật thuế để gian lận trốn lậu thuế,  
một số DN chấp hành chế độ quản lý, sử dụng hoá đơn, báo cáo quyết toán thuế chưa  
nghiêm, chưa đúng quy định. Việc sử dụng hoá đơn ở một số DN còn tuỳ tiện, kê khai  
chưa chính xác, việc hạch toán, kế toán báo cáo còn mang tính hình thức, đối phó,  
thậm chí kê khai không trung thực, gian lận để trốn thuế, thậm chí còn có tình trạng  
74  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN  
bán hoá đơn trắng cho khách hàng gây tổn thất rất lớn cho ngân sách Nhà nước, gây  
thiệt hại cho những doanh nghiệp chân chính... Có những trường hợp giám đốc, kế  
toán, thủ quỹ nhiều khi chỉ do một người nắm giữ, cho nên việc kiểm tra, thanh tra khó  
phát hiện các hành vi gian lận. Một số ít các doanh nghiệp nghỉ kinh doanh nhưng  
không báo cáo lên cơ quan thuế dẫn đến tình trạng để lưu lạc mã số thuế gây khó khăn  
cho việc quản lý hoặc có trường hợp báo nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh  
doanh để trốn lậu thuế... Tình trạng lập các công ty “ảo” (có đăng ký kinh doanh, có  
mã số thuế nhưng không khai báo thuế) vẫn còn tồn tại.  
Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay hoạt động của khu vực doanh nghiệp ngoài  
quốc doanh đã và đang ngày càng mở rộng trên khắp các địa bàn trong cả nước, song  
chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn còn thực hiện tùy tiện, chưa đúng chế độ,  
hiện tượng khai man trốn thuế lậu thuế còn nhiều từ đó tạo ra sự bất bình đẳng và sự  
cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế.  
Những bất cập trên đây cho thấy sự nhận thức về thực hiện nghĩa vụ đóng thuế,  
tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp chưa cao và sự phối hợp giữa các cơ quan  
quản lý Nhà nước chưa chặt chẽ và một phần tác động từ dịch bệnh.  
Thứ hai, về phía các cơ quan quản lý Nhà nước, nhất là các cơ quan ban hành,  
xây dựng Luật quản lý thuế: Việc thường xuyên bổ sung, sửa đổi văn bản luật đã ảnh  
hưởng đến công tác quản lý thuế; một số văn bản pháp luật khác cũng có nội dung quy  
định về quản lý thuế nên chưa tạo ra sự thống nhất trong các văn bản quy định pháp  
luật. Các cơ quan quản lý Nhà nước mặc dù đã được quy định về trách nhiệm và quyền  
hạn rõ ràng nhưng vẫn thực hiện chồng chéo, không đúng chức trách và đổ lỗi trách  
nhiệm cho nhau. Chẳng hạn như, hoạt động kiểm toán của KTNN về thuế và hoạt  
động thanh tra, kiểm tra của thanh tra thuế vẫn còn có sự chồng chéo bởi vì thiếu cơ  
chế phối hợp trong việc cung cấp thông tin về tình hình thanh tra, kiểm tra và việc xây  
dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra của các Bộ, ngành, địa phương. Hoặc là sự phối hợp  
giữa cơ quan thuế và cơ quan cấp phép hoạt động của DN trong việc quản lý đối tượng  
đăng ký kinh doanh còn yếu (DN đã được cấp giấy phép kinh doanh nhưng DN chưa  
đến đăng ký nộp thuế mà cơ quan thuế vẫn không biết), không theo dõi được tình hình  
hoạt động của các DN sau khi đăng ký thuế (DN đã nghỉ kinh doanh nhưng cơ quan  
thuế vẫn không biết). Hoặc sự phối hợp giữa cơ quan thuế với Hải quan trong việc  
quản lý thuế đối với hàng hoá xuất- nhập khẩu còn hạn chế nên còn để xảy ra tình  
75  
Kỷ yếu Hội thảo khoa học năm 2020  
trạng DN khai khống xuất- nhập khẩu hàng hóa để xin khấu trừ, hoàn thuế gây thất thu  
cho NSNN...  
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, thanh tra chưa phù hợp, chưa hiệu quả. Công  
tác này hiện tại chỉ được thực hiện qua một khâu, các biên bản kiểm tra, thanh tra về  
thuế nếu không có khiếu nại, tố cáo thì hầu như không được phúc tra, không phản hồi  
lại với các DN nên dễ dẫn tới việc buông lỏng quản lý, bỏ sót nguồn thu hoặc tạo điều  
kiện cho một số cán bộ thông đồng với DN gây thất thu cho ngân sách Nhà nước.  
Trong quá trình thực thi quản lý thuế, các thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý  
Nhà nước còn quá rườm rà, mất thời gian, gây lãng phí cho các doanh nghiệp; không  
tạo ra môi trường thuận lợi trong kinh doanh của họ. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ,  
giải đáp các chính sách thuế chưa kịp thời. Cơ quan thuế đang ôm đồm quá nhiều việc.  
Thứ ba, trong Luật quản lý thuế mặc dù được sửa đổi và bổ sung nhiều lần  
nhưng vẫn có những quy định bất cập, không phù hợp với thực tế khiến cho việc thực  
thi luật khó khăn.  
3. Các đề xuất để công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp của các cơ quản  
quản lý Nhà nƣớc có hiệu quả hơn trong thời gian tới.  
Xuất phát từ tình hình thực tế trong thời gian qua trong quản lý thuế đối với  
doanh nghiệp của các cơ quan Nhà nước, khắc phục và hạn chế các bất cập đang còn  
tồn tại để công tác quản lý thuế có hiệu quả hơn, một số đề xuất đưa ra như sau:  
Về phía cơ quan Nhà nước.  
- Cần hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi Luật quản lý thuế kịp thời và phù hợp với  
tình hình thực tế, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế về chế độ kế toán và  
quản lý thuế, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế; góp phần thu hút đầu tư  
của các DN trong nước, nước ngoài. Đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật quản lý  
thuế và các văn bản pháp luật có liên quan.  
- Trên cơ sở hoàn thiện Luật quản lý thuế, xây dựng và thực thi hệ thống quản  
lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi đối với  
các DN; tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện  
đại cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế  
điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch trên tất cả các địa phương trong cả  
nước ở tất cả các nội dung của quản lý thuế chứ không phải chỉ ở các thành phố lớn.  
76  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN  
- Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các bộ, ngành cùng tham gia  
vào quản lý thuế để tránh chéo công việc lẫn nhau. Phân định rõ ràng, hợp lý, khoa học  
về nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ  
trong việc quản lý thuế. Bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ,  
trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế về chống chuyển giá, gửi giá, trốn  
thuế, xử lý nợ đọng, truy thu thuế, cưỡng chế về thuế đối với các DN.  
- Nên xử lý phạm pháp luật về thuế đối với tất cả các chủ thể có liên quan khi  
có vi phạm về thuế, nhằm đảm bảo tính thống nhất và công bằng trong xử lý vi phạm  
về thuế giữa các đối tượng (chứ không phải bỏ qua các cơ quan thuế khi họ có vi  
phạm).  
- Nên bổ sung quy định quyền của người nộp thuế (các DN) được nhận biên  
bản của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Thanh tra và các cơ quan có thẩm  
quyền khi kiểm tra, đối chiếu nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi thanh tra, kiểm  
toán công tác quản lý thu Ngân sách Nhà nước của cơ quan quản lý thuế. Đối với vấn  
đề xóa nợ thuế, mỗi đơn vị hành chính khác nhau thì quy mô khác nhau, không nên  
căn cứ vào chức vụ cục trưởng hay chi cục trưởng để giao thẩm quyền xóa nợ thuế mà  
phải căn cứ vào quy mô thu thuế (số thu) của đơn vị đó để đề ra số thuế xóa nợ.  
- Cơ quan thuế cần tăng cường công tác thanh kiểm tra, công việc này phải thực  
hiện hàng năm, không thể để thời gian vi phạm kéo dài của DN mới tiến hành thanh  
kiểm tra, đặc biệt đối với các DN nợ thuế và những DN có dấu hiệu chuyển giá thông  
qua giao dịch liên kết. Khi đó, doanh nghiệp có sai phạm sẽ bị thiệt hại rất lớn bởi có  
thể sẽ bị phạt nặng do các lỗi vi phạm kéo dài từ những năm trước không được phát  
hiện kịp thời. Từ việc thanh kiểm tra sẽ xác định được doanh nghiệp nào làm ăn tốt,  
doanh nghiệp nào phá sản và có nguy cơ phá sản. DN nào có dấu hiệu lách thuế, trốn  
thuế, nợ thuế cần thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế và xử lý vi phạm triệt để. Để đạt  
chỉ tiêu giảm nợ thuế và chống thất thuế, cơ quan thuế nên ưu tiên mọi nguồn lực để  
tăng cường việc đôn đốc, xử lý và cưỡng chế nợ thuế đối với các DN dây dưa chây ỳ.  
Cần có những chế tài răn re thích đáng với các trường hợp vi phạm đối với mọi chủ thể  
vi phạm về thuế (kể cả các cơ quan quản lý thuế) khi không làm tròn trách nhiệm của  
mình.  
- Cơ quan thuế tiếp tục cải cách thủ tục hành chính về thuế để tạo môi trường  
kinh doanh ngày càng thuận lợi; tập trung tuyên truyền, hỗ trợ, giải đáp kịp thời về các  
77  
Kỷ yếu Hội thảo khoa học năm 2020  
chính sách thuế và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các DN đăng ký, kê khai, nộp thuế,  
hoàn, miễn giảm thuế nhanh chóng, thuận lợi.  
- Cần tiến hành xã hội hóa một số nội dung trong quản lý thuế để giảm bớt các  
công việc cho cơ quan thuế như nội dung thu nộp thuế: Tuyên truyền, hỗ trợ, giải đáp  
về thuế, Kê khai, đăng kí nộp thuế, quản lý hóa đơn thuế, thu thuế, ....  
- Cần sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán cho phù hợp với việc quản lý thuế trên  
máy tính. Chương trình quản lý trên máy tính đã được triển khai nhưng chế độ kế toán  
chưa xây dựng được các tiêu chuẩn để quản lý trên máy tính thì không thể đạt hiệu quả  
cao.  
Về phía các doanh nghiệp.  
- Cần tuân thủ luật pháp Nhà nước về thuế và các luật pháp khác có liên quan  
đến hoạt động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo DN phát triển bình thường, ổn định.  
- Các doanh nghiệp còn nợ đọng thuế cần cam kết thực hiện nộp nợ đọng thuế  
và tiền chậm nộp thuế theo lộ trình và tiến độ như cam kết.  
- Theo dõi, thực hiện, phản ánh những vướng mắc trong quá trình thực thi luật  
quản lý thuế; Đóng góp các ý kiến tích cực để hoạt động của DN cũng như của các cơ  
quan Nhà nước hoàn thiện và phát triển hơn.  
- Áp dụng các chế độ kế toán phù hợp và tiên tiến trong tham gia hoạt động về  
thuế.  
- Luôn nhận thức và hành động theo phương châm: Nộp thuế để tăng thu  
NSNN, góp phần xây dựng xã hội - đất nước phát triển.  
4. Kết luận  
Quản lý thuế là quá trình thực rất nhiều công việc và phức tạp, nhưng nó có vai  
trò rất quan trọng trong các hoạt động Kinh tế - Xã hội của Nhà nước, bởi vì thông qua  
quản lý thuế, Nhà nước đã tập trung được nguồn lực chủ yếu từ thuế để duy trì, phục  
vụ cho sự tồn tại và phát triển của đất nước. Đối với các doanh nghiệp - là đối tượng  
nộp thuế chủ yếu cho NSNN, Nhà nước phải thực hiện quản lý thuế đảm bảo đạt hiệu  
quả trong thu thuế, tránh thất thu và làm giảm thu của Nhà nước tốt nhất. Bởi vậy, để  
đạt được mục tiêu đó, các bên (DN và các cơ quan Nhà nước) đề phải cố gắng thực  
hiện các công việc, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình theo đúng pháp luật và những  
quy định liên quan.  
78  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN  
Tài liệu tham khảo  
[1] TS. Lê Xuân Trường (2010), Giáo trình “Quản lý thuế”, Nhà xuất bản Tài chính,  
Hà Nội.  
[2] Quốc hội, (2006), Luật Quản lý thuế, Hà Nội  
[3] http://baokiemtoannhanuoc.vn/tai-chinh---ngan-hang/tong-cuc-thue-quan-ly-chat-  
nguon-thu-dam-bao-hoan-thanh-tien-do-thu-6-thang.  
79  
pdf 12 trang yennguyen 18660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_ve_cong_tac_quan_ly_thue_doi_voi_doanh_nghiep_trong_giai.pdf