Bài giảng Quản lý tăng huyết áp trong thai kỳ - Bài: Nhận biết và đánh giá các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ

Tín chỉ Sản Phụ khoa 1  
Bài giảng trực tuyến  
Bài Team-Based Learning 4-7: Quản lý tăng huyết áp trong thai kỳ  
Nhận biết và đánh giá các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ  
Bài Team-Based Learning 4-7: Quản lý tăng huyết áp trong thai kỳ  
Nhận biết và đánh giá các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ.  
Lê Hồng Cẩm 1, Nguyễn Vũ Hà Phúc 2  
Mục tiêu bài giảng:  
Sau khi học xong bài, sinh viên có khả năng:  
1. Trình bày được phân loại các bệnh lý tăng huyết áp trong thai kỳ  
2. Chẩn đoán được các bệnh tăng huyết áp trong thai kỳ  
Thai kỳ với tăng huyết áp là một nhóm lớn các bệnh lý với bệnh sinh không thuần nhất, đòi hỏi các kế hoạch quản lý khác nhau. Nhận  
diên, phân loại các bệnh lý tăng huyết áp trong thai kỳ là một bước quan trọng trước khi đề ra một phương thức quản lý thích hợp. Căn  
cứ trên đặc điểm sinh bệnh hoc, vào năm 2013, nhóm chuyên trách về tăng huyết áp thai kỳ thuộc Hiệp hội các nhà Sản Phụ khoa Hoa  
kỳ (American College of Obstetricians and Gynecologist - ACOG task force) đề nghị phân các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ ra 4 loại:  
PHÂN LOẠI TĂNG HUYẾT ÁP TRONG THAI KỲ  
Hội chứng tiền sản giật-sản giật  
Tăng huyết áp thai kỳ  
Tăng huyết áp mạn (do bất cứ nguyên nhân nào)  
Tiền sản giật ghép trên tăng huyết áp mạn.  
HỘI CHỨNG TIỀN SẢN GIẬT-SẢN GIẬT  
Tiền sản giật là một hội chứng bao gồm tăng huyết áp có kèm đạm niệu xuất hiện sau tuần thứ 20 của thai kỳ.  
Đạm niệu là một tiêu chuẩn quan trọng trong chẩn đoán tiền sản giật vì đây là dấu ấn chủ yếu phản ánh tình trạng tổn thương nội mô  
hệ thống - đặc trưng trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng tiền sản giật. Tuy nhiên, có khoảng 10% tăng huyết áp thai kỳ xuất hiện  
cơn co giật nhưng không có đạm niệu. Đồng thời, những bằng chứng gần đây cho thấy số lượng đạm niệu không có mối liên quan đến  
kết cục xấu của thai kỳ. Đây là cơ sở của thay đổi tiêu chuẩn chẩn đoán tiền sản giật, đề nghị bởi ACOG.  
Như vậy, tiêu chuẩn chẩn đoán tiền sản giật dựa vào huyết áp và đạm niệu.  
Bên cạnh tiêu chuẩn này, ACOG khuyến cáo rằng đạm niệu hiện không còn nhất thiết phải có để chẩn đoán tiền sản giật.  
Khi đạm niệu âm tính, tiền sản giật được chẩn đoán dựa vào huyết áp và một trong những tổn thương đa cơ quan mới xuất hiện.  
Các cơ quan được đề cập đến gồm giảm tiểu cầu, suy thận, suy giảm chức năng gan, phù phổi và triệu chứng thần kinh.  
Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền sản giật (ACOG Task Force 2013)  
Huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg qua 2 lần đo cách nhau ít nhất 4 giờ xuất hiện sau tuần  
lễ thứ 20 thai kỳ ở phụ nữ có huyết áp bình thường trước đó.  
Huyết áp tâm thu ≥ 160 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 110 mmHg, tăng huyết áp có thể được xác định trong khoảng  
thời gian ngắn (vài phút) để thích hợp cho điều trị hạ áp cho bệnh nhân.  
Huyết áp  
và  
≥ 300 mg trong nước tiểu 24 giờ (hoặc lượng đạm này được suy ra từ một khoảng thời gian thu thập nước tiểu tương ứng)  
Hoặc tỷ số Protein/creatinin ≥ 0.3.  
Đạm niệu  
Dip-Stick ≥ 1+ (chỉ sử dụng khi các phương pháp định lượng khác không có sẵn).  
hoặc trong trường hợp không có đạm niệu, tăng huyết áp mới xuất hiện kèm với 1 trong các dấu hiệu mới khởi phát sau:  
Giảm tiểu cầu  
Suy thận  
Tiểu cầu < 100.000 /µL.  
Creatinin huyết thanh > 1,1 mg/dL hoặc gấp đôi nồng độ creatinin huyết thanh bình thường mà không có nguyên nhân do  
bệnh lý thận khác.  
Suy tế bào gan  
Men gan trong máu tăng gấp 2 lần bình thường.  
Phù phổi  
Các triệu chứng của não và thị giác.  
1 Giảng viên, Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, e-mail: lehongcam61@yahoo.com  
2 Giảng viên, Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, e-mail: nvhphuc03@gmail.com  
©Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tác giả giữ bản quyền.  
Tín chỉ Sản Phụ khoa 1  
Bài giảng trực tuyến  
Bài Team-Based Learning 4-7: Quản lý tăng huyết áp trong thai kỳ  
Nhận biết và đánh giá các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ  
Tiền sản giật được phân ra (1) tiền sản giật không có dấu hiệu nặng và (2) tiền sản giật có dấu hiệu nặng  
Các phân loại trước nay phân biệt tiền sản giật nhẹ và tiền sản giật nặng. Tuy nhiên, do (2) tiền sản giật là một quá trình động, có thể  
tiến triển rất nhanh, và hơn thế nữa (2) thuật ngữ tiền sản giật nhẹ có thể làm lơ là việc theo dõi bệnh. Vì vậy, ACOG không còn dùng  
thuật ngữ tiền sản giật nhẹ nữa.  
Thay cho các thuật ngữ cũ, người ta phân tiền sản giật thành tiền sản giật không có dấu hiệu nặng và tiền sản giật có dấu hiệu nặng.  
Tiền sản giật được xếp vào tiền sản giật năng khi tình trạng tiền sản giật có kèm bất cứ một dấu hiệu bất kỳ trong các dấu hiệu sau:  
Dấu hiệu nặng của tiền sản giật (có bất cứ dấu hiệu nào dưới đây)  
Huyết áp tâm thu ≥ 160 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 110 mmHg qua 2 lần đo cách nhau ít nhất 4 giờ khi bệnh nhân đã nghỉ ngơi (trừ trường hợp thuốc  
hạ áp đã được sử dụng trước đó)  
Giảm tiểu cầu: tiểu cầu <100.000/µL.  
Suy giảm chức năng gan: men gan tăng (gấp đôi so với bình thường), đau nhiều ở hạ sườn phải hoặc đau thượng vị không đáp ứng với thuốc và không có  
nguyên nhân khác.  
Suy thận tiến triển (creatinin huyết thanh > 1,1 mg/dL hoặc gấp đôi nồng độ creatinin huyết thanh bình thường mà không có nguyên nhân do bệnh lý thận khác)  
Phù phổi.  
Các triệu chứng của não và thị giác.  
Như vậy, theo quan điểm mới của ACOG (2013), 2 tiêu chuẩn cũ của chẩn đoán tiền sản giật năng đã bị loại bỏ:  
Trước đây, tiêu chuẩn đạm niệu > 5g / 24giờ được xem là triệu chứng nặng, do được cho là có liên quan đến kết cục xấu. Do các chứng cứ hiện hành không còn ủng hộ  
tương quan thuận giữa đạm niệu lượng nhiều và kết cục xấu, nên tiêu chuẩn này đã bị loại bỏ.  
Cũng trước đây, thai chậm tăng trưởng trong tử cung được xem là triệu chứng nặng, do được cho là phản ánh trình trạng cấp máu của đơn vị nhau thai. Tuy nhiên,  
phân loại mới đánh giá cần xử lý IUGR theo tình trạng và mức độ của IUGR, nên không còn dùng tiêu chuẩn IUGR để đánh giá độ năng của tiền sản giật. Khi tiền sản  
giật có kèm theo IUGR, ta chỉ gọi là tiền sản giật có IUGR, mà không còn gọi là tiền sản giật nặng nữa.  
Thời điểm khởi phát tiền sản giật là một chỉ điểm quan trọng cho kết cục bất lợi của tiền sản giật.  
Người phân biệt các tiền sản giật có khởi phát sớm và các tiền sản giật có khởi phát muộn.  
Tiền sản giật khởi phát sớm là các trường hợp tiền sản giật được chẩn đoán trước tuần lễ 34. Tiền sản giật khởi phát sớm liên quan có  
ý nghĩa với các kết cục xấu của thai kỳ: tăng tỉ lệ chết chu sinh và chết sơ sinh, tăng nguy cơ của chết thai, sản giật và phù phổi…  
Tiền sản giật khởi phát muộn là các trường hợp tiền sản giật khởi phát sau tuần lễ 34. Tiên lượng của tiền sản giật xuất hiện muộn có  
tiên lượng tốt hơn tiền sản giật khởi phát sớm.  
Sản giật là một triệu chứng rất nặng của tiền sản giật, thể hiện tình trạng tổn thương nội mô ở não  
Sản giật là tình trạng có cơn co giật mới khởi phát trên phụ nữ bị tiền sản giật mà không giải thích được bởi nguyên nhân nào khác.  
Sản giật có thể xảy ra trước, trong hoặc sau chuyển dạ.  
Trong trường hợp một thai phụ bị lên cơn co giật chưa lý giải được và cũng chưa có đủ yếu tố chẩn đoán tiền sản giật, thì phải tạm  
xem như là sản giật cho đến khi có đủ bằng chứng để kết luận ngược lại.  
TĂNG HUYẾT ÁP THAI KỲ  
Là các trường hợp tăng huyết áp khởi phát sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ và không có đạm niệu. Trong tăng huyết áp thai kỳ, huyết áp  
thường sẽ trở về bình thường sau 12 tuần hậu sản.  
TĂNG HUYẾT ÁP MẠN  
Là các trường hợp tăng huyết áp xuất hiện trước tuần thứ 20 của thai kỳ hoặc tăng huyết áp đã có trước khi mang thai.  
TIỀN SẢN GIẬT GHÉP TĂNG HUYẾT ÁP MẠN  
Tiền sản giật ghép trên tăng huyết áp mạn là hình thái có tiên lượng xấu nhất trong các hình thái tăng huyết áp trong thai kỳ.  
Tiền sản giật có thể ghép trên tăng huyết áp mạn do bất kì nguyên nhân nào.  
Trên lâm sàng thường chẩn đoán tiền sản giật ghép trên tăng huyết áp mạn trong các tình huống:  
Tăng huyết áp mạn có đạm niệu mới xuất hiện sau tuần thứ 20 thai kỳ.  
Tăng huyết áp mạn có đạm niệu xuất hiện trước 20 tuần nhưng huyết áp tăng cao đột ngột hoặc cần phải tăng liều thuốc hạ áp,  
đặc biệt trên các bệnh nhân đang kiểm soát tốt huyết áp, hoặc mới xuất hiện các dấu hiệu hay triệu chứng khác như: đạm niệu  
tăng đột ngột, tăng men gan, giảm tiểu cầu < 100.000/µL, đau hạ sườn phải, phù phổi…  
HỘI CHỨNG HELLP  
Hội chứng HELLP đặc trưng bởi tán huyết (Hemolysis), tăng men gan (Elevated Liver Enzyme), giảm tiểu cầu (Low Platelet Count).  
©Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tác giả giữ bản quyền.  
Tín chỉ Sản Phụ khoa 1  
Bài giảng trực tuyến  
Bài Team-Based Learning 4-7: Quản lý tăng huyết áp trong thai kỳ  
Nhận biết và đánh giá các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ  
Hội chứng HELLP được coi là một biến chứng nặng của tiền sản giật và sản giật, do thể hiện tất cả mọi đặc điểm của tổn thương nội  
mô đa cơ quan.  
Triệu chứng đau thượng vị, đau hạ sườn phải là các dấu hiệu lâm sàng của tổn thương chủ mô gan..  
Huyết đồ với giảm mạnh của tiểu cầu < 100.000 /µL gây ra chảy máu niêm mạc, các chấm xuất huyết dưới da, vết bầm, chảy  
máu.  
Cận lâm sàng: LDH > 600 IU/L, Bilirubin toàn phần tăng > 1.2 mg%, AST > 70 IU/L, giảm haptoglobin.  
Bệnh cảnh của hội chứng HELLP thường rất nặng, đe dọa nghiêm trọng tính mạng người bệnh. Không những nặng, việc chẩn đoán  
phải thực hiện trong bối cảnh tổ thương đa cơ quan nên thường rất khó phân biệt với nhiều bệnh lý khác.  
Khi nghĩ đến hội chứng HELLP cần chẩn đoán phân biệt với: gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ (Acute Fatty Liver of Pregnancy -AFLP), xuất huyết giảm tiểu cầu, hội  
chứng u-rê gây tán huyết (suy thận trong giai đoạn hậu sản).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
1. ACOG (2013), Task Force on Hypertension in pregnancy. Hypertension in pregnancy.  
2. F. Gary Cunningham (2014). Williams Obstetrics 24th Ed. Hypertensive Disorders. p728-780. McGraw-Hill Education.  
©Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tác giả giữ bản quyền.  
pdf 3 trang yennguyen 18860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Quản lý tăng huyết áp trong thai kỳ - Bài: Nhận biết và đánh giá các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_quan_ly_tang_huyet_ap_trong_thai_ky_bai_nhan_biet.pdf