Bài giảng Bảo vệ môi trường - Nghề: Khuyến nông lâm
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ LÀO CAI
KHOA NÔNG LÂM NGHIỆP – XÂY DỰNG
BÀI GIẢNG
Bảo vệ môi trường
Số giờ: 30 giờ
NGHỀ KHUYẾN NÔNG LÂM
TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ
Tác giả: Vũ Thị Hồng Yến
1
Lào Cai, tháng
năm 2015
2
LỜI NÓI ĐẦU
Môn học “Bảo vệ môi trường” là một trong số những môn học bắt buộc trong chương
trình đào tạo hệ trung cấp nghề Khuyến nông lâm. Môn học này trang bị cho học sinh những
kiến thức cơ bản về hệ sinh thái nông nghiệp, các vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường trong
nghề Khuyến nông lâm.
Môn học còn trang bị thêm cho học sinh chuyên ngành Khuyến nông lâm có những kiến
thức bổ ích về những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường và sự cấp thiết phải bảo vệ môi
trong sản xuất Nông lâm nghiệp… giúp các em ra trường có thể tham gia công tác ở lĩnh vực
Khuyến nông lâm.
Bố cục của giáo trình gồm có 2 chương, bao gồm những kiến thức về lý thuyết và thực
hành. Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, sách tham khảo của
các trường đại học và của các tác giả có chuyên môn sâu về những lĩnh vực có liên quan. Tuy
có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu xót, chúng tôi rất mong muốn nhận được
những ý kiến tham gia, đóng góp của các chuyên gia và đông đảo bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn.
Tác giả
3
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU GIÁO TRÌNH
Bảo vệ môi trường là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo hệ trung cấp nghề Khuyến
nông lâm. Môn học trang bị những kiến thức cần thiết về hệ sinh thái nông nghiệp, các vấn đề về môi
trường và bảo vệ môi trường trong nghề Khuyến nông lâm.
Trong quá trình học, môn học có liên quan với các môn: Quản lý kinh tế hộ trang trại, Đất và
phân bón, Nông lâm kết hợp, Xây dựng mô hình trình diễn... Môn học này được bố trí học trước các
mô đun, môn học chuyên ngành, giúp cho người học vận dụng kiến thức, kỹ năng trong việc bảo vệ
môi trường.
Giáo trình gồm có 2 chương. Chương 1: Sinh thái học nông nghiệp, chương 2: Bảo vệ môi
trường. Thời gian giảng dạy 20 giờ lý thuyết, 22 giờ thực hành và 3 bài kiểm tra. Mỗi một bài học
đều có bài thực hành. Người học được kiểm tra đánh giá 3 lần theo 2 nội dung chính: Đánh giá
kiến thức và kỹ năng. Nội dung tập trung trong các chương 1 và 2.
Phương pháp giảng dạy: Sử dụng phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm.
Giảng giải kết hợp làm mẫu và có ví dụ minh họa bằng hình ảnh thực tế, mô hình và rèn luyện
kỹ năng thực hành tại phòng học, vườn ươm, trang trại... để củng cố kiến thức, nâng cao kỹ
năng nghề cho học sinh.
4
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
2
Lời nói đầu
Hướng dẫn sử dụng giáo trình
3
Chương 1: Sinh thái học nông nghiệp
1.1. Các khái niệm cơ bản
6
6
1.1.1. Khái niệm về sinh thái học
1.1.2. Khái niệm về hệ sinh thái
1.1.3. Hệ sinh thái nông nghiệp
6
8
9
1.2. Sinh thái học với sự phát triển nông nghiệp
1.2.1. Một số khuynh hướng phát triển nông nghiệp hiện nay
1.2.2. Sự tối ưu hóa trong sản xuất nông nghiệp
1.2.3. Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp
1.2.4. Vai trò của các nhân tố làm tăng năng suất cây trồng
Chương 2: Bảo vệ môi trường
12
12
13
13
17
20
20
20
20
20
20
20
21
21
22
22
22
22
23
23
23
31
32
34
34
2.1. Các vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường
2.1.1. Khái niệm môi trường
2.1.2. Phân loại môi trường
2.1.2.1. Môi trường tự nhiên
2.1.2.2. Môi trường xã hội
2.1.2.3. Môi trường nhân tạo
2.1.2.4. Sự cấp thiết phải bảo vệ môi trường
2.2. Môi trường sạch
2.3. Môi trường ô nhiễm
2.3.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
2.3.1.1. Xả vào môi trường các chất thải thể rắn
2.3.1.2. Xả vào môi trường các chất thải thể lỏng
2.3.1.3. Xả vào môi trường các chất thải thể khí
2.3.2. Những tác hại do môi trường bị ô nhiễm
2.3.2.1. Ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tuổi thọ con người
2.3.2.2. Ảnh hưởng môi trường sống của sinh vật, động vật, thực vật
2.3.2.3. Ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế
2.3.2.4. Mất cân bằng sinh thái
2.3.2.5. Các chức năng cơ bản của môt trường
5
2.3.3. Các biện pháp bảo vệ môi trường
2.3.3.1. Biện pháp tuyên truyền giáo dục
2.3.3.2. Biện pháp pháp chế
36
36
36
36
36
36
36
37
38
38
39
40
41
42
42
43
44
44
45
46
47
47
49
52
52
56
2.3.3.3. Biện pháp kinh tế
2.3.3.4. Biện pháp khoa học và công nghệ
2.4. Phát triển bền vững
2.4.1. Khái niệm
2.4.2. Nội dung
2.5. Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng
2.5.1. Khái niệm về rừng và phân loại rừng
2.5.2. Vai trò kinh tế và sinh thái của rừng
2.5.3. Hiện trạng tài nguyên rừng
2.5.4. Các vấn đề về sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
2.6. Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất
2.6.1. Hiện trạng tài nguyên đất ở Việt Nam
2.6.2. Phương hướng bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất
2.7. Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước
2.7.1. Vấn đề sử dụng nước
2.7.2. Nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên nước
2.7.3. Sử dụng và bảo vệ hợp lý tài nguyên nước
2.8. Biến đổi khí hậu tác động đến đời sống con người
2.8.1. Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu
2.8.2. Hậu quả của biến đổi khí hậu
2.8.3. Tác động của biến đổi khí hậu đối với công nghiệp và xây dựng
2.8.4. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất và đời sống con người
2.8.5. Các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
CHƯƠNG 1: SINH THÁI HỌC NÔNG NGHIỆP
(Lý thuyết: 5 giờ, thực hành: 3 giờ, kiểm tra: 1 giờ)
1.1. Các khái niệm cơ bản
1. 1.1. Khái niệm về sinh thái học
- Sinh thái học là một môn khoa học cơ bản trong sinh vật học, nghiên cứu mối quan hệ
sinh vật với sinh vật và sinh vật với môi trường ở mọi mức độ tổ chức từ cá thể, quần thể đến
quần xã sinh vật và hệ sinh thái.
6
1.1.1.1. Sự phân chia các đơn vị sinh thái học
* Phân chia hệ sinh thái:
- Theo cấu trúc của hệ sinh thái: Hệ sinh thái mở, hệ sinh thái kín.
- Theo đối tượng nghiên cứu: Hệ sinh thái đồng ruộng, hệ sinh thái đầm lầy, hệ sinh thái
rừng…
* Tuỳ theo các bậc của tổ chức sinh vật mà có các môn sinh thái học khác nhau:
- Sinh thái học cá thể: Đối tượng nghiên cứu là cá thể sinh vật, nghiên cứu ảnh hưởng
của nhân tố hoàn cảnh với cá thể sinh vật và phản ứng của sinh vật với hoàn cảnh.
- Sinh thái học quần thể: Lấy mối quan hệ giữa quần thể và môi trường làm đối tượng
nghiên cứu, xem xét đặc tính quần thể và quy luật của nó.
- Sinh thái học quần xã: lấy quần xã sinh vật làm đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu quan
hệ lẫn nhau giữa quần xã sinh vật và hoàn cảnh xung quanh, các mối quan hệ trong quần xã và
quá trình tự điều tiết của quần xã.
- Sinh thái học hệ sinh thái: các khâu tuần hoàn vật chất và lưu động năng lượng là nội
dung nghiên cứu của sinh thái học hệ sinh thái.
- Giống như các môn khoa học cơ bản khác, sinh thái học tập trung vào hai hướng chính
đó là: nghiên cứu sinh thái học cơ bản, sinh thái học ứng dụng. Các quy luật sinh thái học cơ
bản sẽ là nền tảng để triển khai các ứng dụng phục vụ cuộc sống của con người.
1.1.1.2. Hoàn cảnh, hoàn cảnh sinh thái học và phân loại các nhân tố sinh thái học
- Hoàn cảnh: là tập hợp tất cả các yếu tố tồn tại trong môi trường sống của sinh vật.
- Hoàn cảnh sinh thái: là tập hợp tất cả các yếu tố tồn tại trong môi trường sống của sinh
vật nhưng có liên quan đến sự tồn tại của sinh vật và giữa chúng có mối tương tác lẫn nhau.
Tất cả những gì ở xung quanh sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến trạng
thái, sự phát triển, sự sống còn, sự sinh sản của chúng đều được gọi là hoàn cảnh sinh thái.
Như vậy các nhân tố sinh thái là nhân tố bất kỳ của hoàn cảnh sinh thái có mối quan hệ
với nhau, có tác động đến sự tồn tại của sinh vật. Hoàn cảnh sinh thái còn được gọi là môi
trường sinh thái hay sinh cảnh.
* Phân loại các nhân tố sinh thái học:
- Phân loại của Mondchaisky, chia các nhân tố sinh thái làm ba nhóm:
+ Các nhân tố sinh thái có tính chu kỳ sơ cấp: Chu kỳ ngày đêm, chu kỳ theo mùa, năm.
Chu kỳ điều khiển của các nhân tố này đã có từ trước khi xuất hiện sự sống: nhiệt độ, ánh sáng,
chim, côn trùng
+ Các nhân tố sinh thái có tính chu kỳ thứ cấp: sự biến đổi của những yếu tố này là hậu
quả của những yếu tố chu kỳ sơ cấp: độ ẩm, lượng mưa (vùng nhiệt đới), thực vật.
+ Các nhân tố không có tính chu kỳ: yếu tố có tính chất ngẫu nhiên như gió, bão… các
sinh vật không thích ứng kịp.
* Phân loại theo tính chất của các nhân tố sinh thái:
7
+ Các nhân tố khí hậu hoặc các nhân tố của hoàn cảnh trên mặt đất: Bức xạ mặt trời,
cường độ ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ không khí…
+ Các nhân tố đất: Ẩm độ, chất dinh dưỡng cho cây, đá mẹ…
+ Các nhân tố địa hình: Hình dạng địa hình, độ cao, hướng phơi.
+ Các nhân tố thực vật: Thành phần loài, mật độ, tình trạng sinh trưởng…
+ Các nhân tố động vật và vi sinh vật.
+ Hoạt động của con người
1.1.1.3. Ý nghĩa của sinh thái học trong đời sống và sản xuất nông nghiệp
- Giúp con người hiểu biết sâu hơn về bản chất của sự sống trong mối tương tác với các
yếu tố môi trường, cả hiện tại và quá khứ trong đó bao gồm cả cuộc sống và sự tiến hoá của con
người.
- Tạo kết quả và định hướng cho hoạt động của con người đối với tự nhiên để phát triển
văn minh nhân loại theo đúng nghĩa hiện đại của nó: Không huỷ hoại sinh giới và không phá
huỷ môi trường.
* Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp có hai nhiệm vụ đặt ra cho sinh thái học:
- Đấu tranh có hiệu quả đối với các dịch bệnh và cỏ dại, đòi hỏi nghiên cứu không chỉ
với các loài có dại, mà việc đề ra các nguyên lý chiến lược và biện pháp phòng chống trên cơ sở
sinh thái học.
- Đề ra các nguyên tắc và phương pháp thành lập các quần xã nông - lâm nghiệp thích
hợp, cho năng suất sinh học và kinh tế cao, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng
như có khả năng bảo vệ và cải tạo môi trường đất, duy trì sức sản xuất lâu dài.
Trong lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ, vấn đề sinh thái trung tâm là nghiên cứu các ổ dịch tự
nhiên đối với con người và gia súc, tìm phương pháp vệ sinh ổ dịch. Vấn đề sinh thái đặc biệt to
lớn và quan trọng, phức tạp là đấu tranh với ô nhiễm và với sự đầu độc môi trường bởi quá trình
đô thị hoá diễn ra nhanh chóng và sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ.
Trong việc phát triển nghề cá, săn bắt đòi hỏi phải tăng cường nghiên cứu các chu trình
sống, tập tính di truyền, sinh sản của các loài, quan hệ dinh dưỡng của chúng, nghiên cứu lý
thuyết và phương pháp thuần dưỡng.
Trong bảo vệ đa dạng sinh học, vấn đề mũi nhọn là bảo vệ và khôi phục các loài quí
hiếm. Loài người không được để mất đi một loài sinh vật nào đã tồn tại trong thiên nhiên, vì bất
kỳ một loài nào cũng đều có một giá trị khoa học và kinh tế không trong hiện tại thì cũng trong
tương lai. Vấn đề cấp thiết là việc thiết lập các vườn quốc gia, các hệ thống khu bảo vệ và đề ra
các nguyên tắc bảo vệ thiên nhiên. Các khu bảo vệ không chỉ là những mẫu hình của tự nhiên
mà còn là những phòng thí nghiệm sinh thái học ngoài trời.
Sinh thái học là cơ sở cho công tác nghiên cứu các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm và đầu
độc môi trường. Cần phải nghiên cứu các nguyên tắc và phương pháp sinh thái học đảm bảo
thiết lập mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên làm cho thiên nhiên ngày càng phong phú
và phát triển.
8
1.1.2. Khái niệm về hệ sinh thái
1.1.2.1. Khái niệm
- Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi
trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó.
1.1.2.2 Cấu trúc của hệ sinh thái
Tham gia cấu trúc nên hệ sinh thái bao gồm các thành phần như sơ đồ dưới đây:
QUẦN XÃ SINH VẬT:
NHÂN TỐ VÔ SINH:
- Các sinh vật sản xuất (sinh vật tự
dưỡng).
- Sinh vật tiêu thụ : chủ yếu là
sinh vật ăn sinh vật khác (tiêu thụ
bậc 1, 2, 3…).
- Các chất vô cơ (C, N, C02, H20, 02…)
tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất.
HỆ
SINH
THÁI
- Các chất hữu cơ (protein, gluxit,
lipit...liên kết giới vô sinh với giới hữu
sinh.
+
=
- Sinh vật hoại sinh: vi sinh vật
đất, nấm…
- Chế độ khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, độ
ẩm và các yếu tố vật lý khác).
Sự phân chia như trên dựa trên quan điểm dinh dưỡng. Các thành phần vô sinh khống chế và
điều hoà sự tồn tại của các sinh vật, còn các sinh vật tham gia điều hoà môi trường vô sinh. Phần hữu
sinh và vô sinh của hệ sinh thái là một thể hữu cơ thống nhất, toàn vẹn không tách rời. Ba thành phần
sống (sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật hoại sinh) có thể xem như ba "giới chức năng của
thiên nhiên" hay ba kiểu dinh dưỡng và sử dụng năng lượng.
Ngoài ra, người ta còn xem xét cấu trúc của hệ sinh thái trên quan điểm chức năng và hoạt động
như sự phân bố không gian, phát triển và tiến hoá…
1.1.2.3. Các kiểu hệ sinh thái
Theo nguồn gốc hình thành, các hệ sinh thái có thể chia thành 2 nhóm lớn:
a. Các hệ sinh thái tự nhiên
Các hệ sinh thái tự nhiên được hình thành bằng các quy luật tự nhiên, rất đa dạng: Từ các
giọt nước cực bé lấy từ ao, hồ đến cực lớn như rừng mưa nhiệt đới, hoang mạc và các đại
dương, chúng đang tồn tại và hoạt động trong sự thống nhất và toàn vẹn của sinh quyển.
b. Các hệ sinh thái nhân tạo
Các hệ sinh thái nhân tạo do con người tạo ra. Có những hệ rất bé được tạo ra trong ống
nghiệm, lớn hơn là bể cá cảnh, cực lớn là các hồ chứa, đô thị, đồng ruộng… Tùy thuộc vào bản
chất và kích thước của hệ mà con người cần phải bổ sung năng lượng cho các hệ sinh thái này
để duy trì trạng thái ổn định của chúng.
1.1.2.4. Đặc điểm của các hệ sinh thái
Tùy theo cấu trúc dinh dưỡng tạo nên sự đa dạng về loài, cao hay thấp, tạo nên chu trình
tuần hoàn vật chất (chu trình tuần hoàn vật chất hiện nay hầu như chưa được khép kín vì dòng
vật chất lấy ra không đem trả lại cho môi trường đó).
Hệ sinh thái có kích thước to nhỏ khác nhau và cùng tồn tại độc lập (nghĩa là không nhận
năng lượng từ hệ sinh thái khác).
9
Hệ sinh thái cũng có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng, nếu một thành
phần thay đổi thì các thành phần khác cũng thay đổi theo mức độ nào đó để duy trì cân bằng,
1.1.3. Hệ sinh thái nông nghiệp
1.1.3.1. Khái niệm về hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì trên cơ sở các quy
luật khách quan của hệ sinh thái (HST) là các HST nhân tạo do lao động của con người tạo ra .
1.1.3.2. Đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ quả của sự cải tạo, biến đổi các hệ sinh thái tự nhiên của
con người. Vì vậy giữa hệ sinh thái nông nghiệp và các hệ sinh thái tự nhiên khó phân biệt ranh
giới một cách rõ ràng. Để phân biệt thường dựa chủ yếu vào mức độ can thiệp của con người.
Tuy vậy, giữa các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái nông nghiệp vẫn có những
khác biệt cơ bản:
Hệ sinh thái tự nhiên
Hệ sinh thái nông nghiệp
- Mục đích chủ yếu là kéo dài sự sống của các - Mục đích chủ yếu là cung cấp cho con
loài
người các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi
- Chu trình vật chất hở
- Chu trình vật chất khép kín
- Có sự tự phục hồi lớn, có quá trình phát triển - Khi con người biết nuôi trồng mới có
lịch sử HSTNN
- Đa dạng và phức tạp về thành phần loài thực - Có số lượng loại cây trồng vật nuôi rất
vật và động vật
đơn giản
- Ổn định lâu dài
- Kém ổn định hơn
1.1.3.3. Tổ chức của hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ thống do đó có các mức độ cấu trúc bên trong của nó. Có thể
chia hệ sinh thái nông nghiệp thành các hệ sinh thái phụ sau:
- Đồng ruộng cây hàng năm (lúa, cây công nghiệp ngắn ngày : mía, đay, ...)
- Vườn cây lâu năm
- Đồng cỏ chăn nuôi
- Ao cá
- Khu vực dân cư
Trong các hệ sinh thái phụ, hệ sinh thái đồng ruộng là phần lớn nhất và quan trọng nhất của hệ
sinh thái nông nghiệp. Do đó hệ sinh thái này đã được nghiên cứu nhiều nhất.
1.1.3.4. Hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp
10
Cũng như các hệ sinh thái khác, hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ thống cấu trúc và chức năng,
hoạt động theo những quy luật nhất định. có sự trao đổi vật chất và năng lượng từ ngoài.
Quá trình trao đổi năng lượng và vật chất trong nội bộ hệ sinh thái nông nghiệp diễn ra như sau:
- Ruộng cây trồng trao đổi năng lượng với khí quyển bằng cách nhận năng lượng bức xạ của
mặt trời, thông qua quá trình quang hợp của lá xanh tạo nên chất hữu cơ. Đồng thời cây trồng có sự trao
đổi C02 với khí quyển, nước với khí quyển và đất, đạm và chất khoáng với đất. Trong các sản phẩm của
cây trồng như lúa, màu, thức ăn gia súc có tích lũy năng lượng, Protein và các chất khoáng. Tất cả
những sản phẩm đó là năng suất sơ cấp của hệ sinh thái.
- Năng lượng và vật chất trong lương thực, thực phẩm được cung cấp cho khối dân cư, ngược
lại, con người trong quá trình lao động cung cấp năng lượng cho ruộng cây trồng. Ngoài các chất bài
tiết của người được trả lại cho đồng ruộng dưới dạng phân hữu cơ.
- Một phần lương thực, thức ăn gia súc từ đồng ruộng được cung cấp cho vật nuôi trong chuồng
trại hoặc trong các gia đình. Vật nuôi biến đổi năng lượng và vật chất của cây trồng thành các sản phẩm
chăn nuôi. Đó chính là năng suất thứ cấp của hệ sinh thái. Các chất bài tiết của vật nuôi được trả lại cho
đồng ruộng như phân bón. Các vật nuôi lớn (trâu, bò…) cũng cung cấp một phần năng lượng cho đồng
ruộng qua cày kéo.
- Giữa người và vật nuôi cũng có sự trao đổi năng lượng và vật chất qua sự cung cấp sản phẩm
chăn nuôi làm thức ăn cho người và việc sử dụng lao động vào chăn nuôi.
Thực chất sự trao đổi năng lượng và vật chất nói trên có thể thâu tóm trong hai quá trình chính
đó là: Quá trình tạo năng suất sơ cấp của ruộng cây trồng và quá trình tạo năng suất thứ cấp của khối
chăn nuôi. Trong năng suất thứ cấp thực ra phải tính cả sự tăng dân số và tăng trọng lượng của con
người.
Ngoài sự trao đổi năng lượng và vật chất với ngoại cảnh và trong nội bộ hệ sinh thái, còn có sự
trao đổi giữa hệ sinh thái nông nghiệp với các hệ sinh thái khác, chủ yếu là hệ sinh thái đô thị. Hệ sinh
thái nông nghiệp cung cấp cho hệ sinh thái đô thị lương thực, thực phẩm, hàng hoá và nhận lại của hệ
sinh thái đô thị các vật tư kỹ thuật như phân và thuốc hoá học, nhiên liệu, máy móc v.v…Thực chất đây
là sự trao đổi năng lượng và vật chất giữa nông nghiệp và công nghiệp. Tất cả các loại hàng hoá này
đều có thể tính thành năng lượng.
Năng suất của hệ sinh thái nông nghiệp phụ thuộc vào hai nguồn năng lượng chính:
- Năng lượng do bức xạ mặt trời cung cấp.
- Năng lượng do công nghiệp cung cấp.
Năng lượng do công nghiệp cung cấp không trực tiếp tham gia vào việc tạo năng suất sơ cấp
của hệ sinh thái nông nghiệp mà chỉ tạo điều kiện cho cây trồng tích luỹ được nhiều năng lượng bức xạ
của mặt trời. Một số năng lượng do công nghiệp cung cấp (thức ăn gia súc) có thể tham gia vào việc tạo
thành năng suất thứ cấp của hệ sinh thái nông nghiệp. Tuy vậy, năng lượng này thực chất là năng lượng
sơ cấp hay thứ cấp lấy từ các hệ sinh thái khác và được chế biến ở hệ sinh thái đô thị.
1.1.3.5. Các đặc tính của hệ sinh thái nông nghiệp
11
- Năng suất: Năng suất được xác định như sản lượng sản phẩm có giá trị trên một đơn vị tài
nguyên chi phối. Số đo chung của năng suất là sản lượng hoặc thu nhập trên một hécta (ha) hoặc sản
lượng tổng cộng của hàng hoá và dịch vụ trên một hộ hoặc của cả quốc gia. Năng suất là một đặc tính
quan trọng được dùng khi so sánh các hệ sinh thái nông nghiệp ở những qui mô khác nhau như một
cánh đồng, trang trại hoặc làng xã…Cũng có thể sử dụng chỉ tiêu này khi so sánh các kiểu hệ sinh thái
nông nghiệp khác nhau như cánh đồng ngô và hoa, hoặc vùng đất trũng và vùng đất cao. Thời gian,
năng suất có thể tăng lên, giảm xuống hoặc ổn định.
- Tính ổn định: Tính ổn định có thể xem như sự không đổi của năng suất trong phạm vi biến đổi
thông thường hoặc chu kỳ của môi trường. Các yếu tố vật lý, sinh học, xã hội và kinh tế được xếp vào
các yếu tố môi trường. Tính ổn định của hệ sinh thái nông nghiệp được đo bằng hệ số biến đổi của năng
suất vốn được xác định trong nhiều lần thực hiện phép đo năng suất theo thời gian. Từ năng suất tăng
hoặc giảm, tính ổn định sẽ được quy vào một hướng biến đổi nhất định.
- Tính bền vững: Tính bền vững được xem như khả năng của hệ sinh thái nông nghiệp duy trì
năng suất khi chịu ảnh hưởng bởi một nhiễu loạn lớn. Sự nhiễu loạn thực tế hoặc tiềm năng có thể gây
ra bởi sự tăng cường mạnh mẽ (stress), ở đây sự tăng cường mạnh mẽ này được xác định như sự ảnh
hưởng rối loạn thường xuyên, đôi khi liên tục, tương đối nhỏ vốn có hiệu quả tích luỹ rộng. Độ mặn,
độc, xói mòn, công nợ hoặc nhu cầu thị trường suy giảm là những ví dụ về những ảnh hưởng như vậy.
- Tính công bằng: Tính công bằng được xem như sự bình đẳng hoặc sự công bằng trong phân
phối năng suất của hệ sinh thái nông nghiệp giữa những người được hưởng hoa lợi. Những người được
hưởng hoa lợi có thể là các nông hộ, các thành viên của một làng xã hoặc một quần thể người. Tính
công bằng có thể được đo bằng đường cong Lorenz, hệ số Gini hoặc một số chỉ số khác.
1.1.3.5. Các mối quan hệ sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp
Trong hệ sinh thái có nhiều quần thể vật sống, trong một quần thể có nhiều cá thể vật sống,
chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, cũng như giữa các quần thể với nhau. Những mối quan hệ này rất
phức tạp và thuần tuý là các mối quan hệ sinh học.
Trong hệ sinh thái tự nhiên thường mối quan hệ cộng sinh xảy ra là chủ yếu, nó góp phần cơ
bản trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái trong hệ. Trong hệ sinh thái nông nghiệp, do có sự tác động
của con người nên các mối quan hệ sinh học này cũng thường bị chi phối bởi những tác động đó và
thường dẫn đến việc làm suy thoái các mối quan hệ cộng sinh vốn có lợi cho cân bằng của hệ.
Trong hệ sinh thái nông nghiệp có các mối quan hệ sinh học chủ yếu sau đây:
- Sự cạnh tranh: Nếu trong hệ sinh thái có hai hay nhiều vật sống đều cần một nguồn lợi mà
nguồn lợi ấy không đủ thì chúng đấu tranh với nhau. Giữa các thực vật có sự cạnh tranh ánh sáng, chất
dinh dưỡng, còn các động vật cạnh tranh với nhau về thức ăn và nơi ở. Kết quả của sự cạnh tranh là cả
hai bên đều chịu thiệt hại. Có hai sự cạnh tranh, đó là cạnh tranh trong loài và cạnh tranh khác loài. Kiểu
cạnh tranh cùng loài được thể hiện rất rõ ở các ruộng trồng một loài cây (như ruộng lúa, ngô…), cạnh
tranh khác loài được thấy ở các ruộng cây trồng có trồng xen, trồng gối, ở đồng cỏ và trong tất cả các
ruộng cây trồng có cỏ dại.
- Sự ký sinh và ăn thịt: Đây là biểu hiện của quan hệ tiêu cực giữa các vật sống. Vật ăn nhau và
vật ký sinh khác nhau ở chỗ: Vật ăn nhau sống tự do, ăn cây cỏ hay động vật. Vật ký sinh sống nhờ vào
12
vật chủ. Vật ăn nhau giết chết vật mồi. Vật ký sinh không giết chết vật chủ. Sự phân biệt này chỉ có ý
nghĩa tương đối.
- Sự cộng sinh: Trong quan hệ giữa các sinh vật còn có mối quan hệ cộng sinh. Trong trường
hợp này hai loài thường có nhu cầu khác nhau. Phổ biến nhất là sự cộng sinh giữa vật sống tự dưỡng và
vật sống dị dưỡng, như sự cộng sinh giữa cây bộ đậu và vi khuẩn cố định đạm.
1.1.3.6. Sự phát triển của hệ sinh thái nông nghiệp
Muốn tăng năng suất và tăng tính ổn định, con người phải đầu tư vào các hệ sinh thái
nông nghiệp. Trong hoạt động của mình, con người có những cố gắng làm già một số quá trình
của hệ sinh thái nhằm nâng cao tính ổn định của chúng :
- Dùng phân hữu cơ, kết hợp trồng trọt chăn nuôi, tăng sự quay vòng chất hữu cơ có tác
dụng làm tăng thêm kiểu chuỗi thức ăn dựa vào phế liệu .
- Sử dụng mối quan hệ sinh học trong quần thể để nâng cao năng suất và tăng tính ổn
định của các hệ sinh thái. Hệ sinh thái tự nhiên có khuynh hướng kéo hệ sinh thái nông nghiệp
về hệ sinh thái tự nhiên: Canh tác không hợp lý thì sâu bệnh phát triển, sự đa dạng tăng.
- Trong sản xuất con người phải có kiến thức về sinh thái học trong khai thác nông
nghiệp.
1.2. Sinh thái học với sự phát triển nông nghiệp.
1.2.1. Một số khuynh hướng phát triển nông nghiệp hiện nay
Hiện nay trong sự phát triển của khoa học nông nghiệp đã xuất hiện một số khuynh hướng sau:
- Công nghiệp hoá nông nghiệp: Những người ủng hộ khuynh hướng này muốn cho sản xuất
nông nghiệp có được cách tổ chức quản lý sản xuất như trong công nghiệp như chuyên môn hoá lao
động, sản xuất theo dây truyền, chuyên canh… Đây là một cách hiểu tích cực, nhưng vận dụng quy
trình công nghiệp y nguyên vào nông nghiệp là máy móc vì đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh
vật còn của công nghiệp là vật không sống nên không thể dùng chung một biện pháp.
- Sinh học hoá nông nghiệp: Theo khuynh hướng này, phải dựa vào các quy luật sinh học để tổ
chức sản xuất nông nghiệp, để giải quyết các nhiệm vụ của sản xuất nông nghiệp. Đồng thời dùng
nhiều biện pháp sinh học để tác động vào nông nghiệp như tạo giống cây trồng và vật nuôi mới, dùng
sinh vật có ích để diệt các sâu bệnh, dùng nhiều phân hữu cơ v.v… Cách hiểu này đúng nhưng còn hẹp,
mới chỉ dừng trên biện pháp, mà vấn đề phải hiểu quy luật sinh học, tư tưởng sinh học. Phải phối hợp
chúng một cách hài hoà, sử dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, bảo vệ môi trường.
Xu thế phát triển nông nghiệp là kết hợp hài hoà những cái tích cực, những cái hợp lý của sinh
học hoá nông nghiệp và công nghiệp hoá nông nghiệp trên cơ sở khoa học.
1.2.2. Sự tối ưu hoá trong sản xuất nông nghiệp
Tối ưu hoá trong sản xuất nông nghiệp là yêu cầu cơ bản của một nền nông nghiệp tiên tiến. Đó
chính là việc chọn một phương thức sản xuất hợp lý nhất, tốt nhất trong từng điều kiện cụ thể. Trong
sản xuất nông nghiệp, tối ưu hoá có các nội dung cơ bản sau:
13
- Thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp bằng cách đạt
năng suất cây trồng, vật nuôi cao, sản lượng nông nghiệp cao, phẩm chất nông sản tốt với đầu tư ít nhất,
đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Thoả mãn nhu cầu này nhưng không làm ảnh hưởng đến các nhu cầu khác của con người.
- Thoả mãn cho nhu cầu hiện tại nhưng không làm phương hại đến các nhu cầu của tương lai.
- Con người vẫn sống hài hoà với thiên nhiên, con người là một bộ phận tích cực của thiên
nhiên.
1.2.3. Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp
1.2.3.1. Tạo và phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp
Triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, tạo và phát triển các công nghệ cao trong nông
nghiệp thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và các công nghệ tiên tiến
để sản xuất các sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát
triển, bao gồm:
a) Công nghệ trong chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi và giống thủy sản
cho năng suất, chất lượng cao
- Về cây trồng nông, lâm nghiệp: Tập trung nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sử dụng
ưu thế lai, công nghệ đột biến gen và công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây trồng mới có
các đặc tính nông học ưu việt (năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh
và điều kiện bất lợi), phù hợp với yêu cầu của thị trường; công nghệ nhân giống để đáp ứng nhu
cầu cây giống có chất lượng cao, sạch bệnh.
- Về giống vật nuôi: Nghiên cứu cải tiến công nghệ sinh sản, đặc biệt là công nghệ tế bào
động vật trong đông lạnh tinh, phôi và cấy chuyển hợp tử, phân biệt giới tính, thụ tinh ống
nghiệm, tập trung vào bò sữa, bò thịt, áp dụng phương pháp truyền thống kết hợp với công nghệ
sinh học trong chọn tạo và nhân nhanh các giống vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao.
- Về giống thủy sản: Tập trung nghiên cứu kết hợp phương pháp truyền thống với công
nghệ di truyền để chọn tạo một số giống loài thủy sản sạch bệnh, có tốc độ sinh trưởng nhanh và
sức chống chịu cao, phát triển công nghệ tiên tiến sản xuất con giống có chất lượng cao đối với
các đối tượng nuôi chủ lực.
b) Công nghệ trong phòng, trừ dịch hại cây trồng, vật nuôi và thủy sản
- Đối với cây trồng nông lâm nghiệp: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh, công
nghệ enzym và protein để tạo ra các quy trình sản xuất quy mô công nghiệp các chế phẩm sinh
học dùng trong bảo vệ cây trồng, nghiên cứu phát triển các kit để chẩn đoán, giám định bệnh
cây trồng, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ viễn thám trong quản lý và
phòng trừ dịch sâu, bệnh hại cây trồng nông lâm nghiệp;
- Đối với vật nuôi: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để chẩn đoán bệnh ở mức
độ phân tử, nghiên cứu công nghệ sản xuất kít để chẩn đoán nhanh bệnh đối với vật nuôi,
nghiên cứu sản xuất vắc-xin thú y, đặc biệt là vắc-xin phòng, chống bệnh cúm gia cầm, bệnh lở
mồm, long móng, tai xanh ở gia súc và các bệnh nguy hiểm khác.
14
- Đối với thủy sản: Nghiên cứu sản xuất một số loại kit để chẩn đoán nhanh bệnh ở thủy
sản, nghiên cứu ứng dụng sinh học phân tử và miễn dịch học, vi sinh vật học trong phòng, trị
một số loại dịch bệnh nguy hiểm đối với thủy sản.
c) Công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao
- Về trồng trọt: Nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ tổng hợp và tự động hóa quá
trình trồng trọt và thu hoạch các loại cây trồng trong nhà lưới, nhà kính, như: Giá thể, công
nghệ thủy canh, tưới nước tiết kiệm, điều tiết tự động dinh dưỡng, ánh sáng, chăm sóc, thu
hoạch, nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ thâm canh và quản lý cây trồng tổng hợp
(ICM), quy trình công nghệ sản xuất cây trồng an toàn theo VietGAP (thực hành nông nghiệp
sạch)
- Về trồng rừng: Nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ tổng hợp trong trồng rừng
thâm canh.
- Về chăn nuôi: Nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ tổng hợp và tự động hóa quá
trình chăn nuôi quy mô công nghiệp, có sử dụng hệ thống chuồng kín, hệ thống điều hòa nhiệt
độ, độ ẩm phù hợp, hệ thống phân phối và định lượng thức ăn tại chuồng.
- Về nuôi trồng và khai thác thủy, hải sản: Nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ
nuôi thâm canh, nuôi siêu thâm canh, công nghệ xử lý môi trường trong nuôi trồng một số loài
thủy sản chủ lực, công nghệ tiên tiến trong đánh bắt hải sản theo hướng hiệu quả và bền vững
nguồn lợi.
d) Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị mới sử dụng trong nông nghiệp
- Nghiên cứu tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, sau thu hoạch và
chế biến đối với cây trồng nông, lâm nghiệp, đặc biệt là cây trồng trong nhà kính, nhà lưới, như:
Phân bón chuyên dụng, giá thể, chế phẩm sinh học, chất điều hòa sinh trưởng, khung, nhà lưới,
lưới che phủ, hệ thống tưới, thiết bị chăm sóc, thu hoạch, hệ thống thông thoáng khí.
- Nghiên cứu tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ cho chăn nuôi và nuôi
trồng thủy sản, như: thức ăn, chế phẩm sinh học, khung nhà, hệ thống chiếu sáng, hệ thống phân
phối thức ăn, thu hoạch trong chăn nuôi, hệ thống điều khiển tự động trong sản xuất thức ăn
chăn nuôi, hệ thống xử lý nước thải và chất thải rắn, hệ thống điều tiết nước tuần hoàn, hệ thống
mương nổi, hệ thống ao nhân tạo trong nuôi trồng thủy sản.
đ) Công nghệ trong bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp
- Đối với sản phẩm nông nghiệp: Nghiên cứu phát triển công nghệ chiếu xạ, công nghệ
xử lý hơi nước nóng, công nghệ xử lý nước nóng, công nghệ sấy lạnh, sấy nhanh trong bảo quản
nông sản, công nghệ sơ chế, bảo quản rau, hoa, quả tươi quy mô tập trung, công nghệ bao gói
khí quyển kiểm soát, công nghệ bảo quản lạnh nhanh kết hợp với chất hấp thụ etylen để bảo
quản rau, hoa, quả tươi, công nghệ tạo màng trong bảo quản rau, quả, thịt, trứng, công nghệ lên
men, công nghệ chế biến rau, công nghệ sinh học và vi sinh sản xuất chế phẩm sinh học và các
chất màu, chất phụ gia thiên nhiên trong bảo quản và chế biến nông sản.
- Đối với sản phẩm lâm nghiệp: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ tự
động hóa nhằm tiết kiệm nguyên liệu, thời gian và nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ, công nghệ
15
biến tính gỗ, công nghệ sấy sinh thái, công nghệ ngâm, tẩm để bảo quản gỗ, công nghệ sinh học
sản xuất chế phẩm bảo quản, chế phẩm chống mối, mọt thế hệ mới, công nghệ sản xuất các
màng phủ thân thiện với môi trường.
- Đối với sản phẩm thủy sản: Nghiên cứu phát triển công nghệ bảo quản dài ngày sản
phẩm thủy sản trên tàu khai thác xa bờ, công nghệ sinh học sản xuất các chất phụ gia trong chế
biến thủy sản, công nghệ chế biến chuyên sâu các sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng cao.
e) Công nghệ trong lĩnh vực thủy lợi
- Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ dự báo, tích trữ và khai thác nguồn nước, công nghệ
thu trữ nước để cung cấp nước ổn định, hiệu quả phục vụ đa mục tiêu, công nghệ thi công công
trình thủy lợi, công nghệ lọc và cấp nước ngọt cho các vùng đất nhiễm mặn, ven biển, hải đảo,
công nghệ xử lý nước thải và vệ sinh môi trường nông thôn.
- Nghiên cứu phát triển công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cây trồng nông, lâm nghiệp,
công nghệ vật liệu mới, giải pháp kết cấu mới, thiết bị mới phục vụ thi công công trình thủy lợi,
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tự động hóa, viễn thám và hệ thống thông tin địa lý
phục vụ quản lý, điều hành công trình thủy lợi.
g) Nhập khẩu và làm chủ công nghệ cao trong nông nghiệp
Lựa chọn nhập một số công nghệ cao trong nông nghiệp mà trong nước chưa có, tiến
hành nghiên cứu thử nghiệm, làm chủ và thích nghi công nghệ cao nhập từ nước ngoài vào điều
kiện sinh thái và thực tế của nước ta, đặc biệt là công nghệ cao trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản.
1.2.3.2. Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp
Triển khai các đề án, dự án ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp trên cơ sở kết
quả nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghệ, bao gồm các đề án, dự án có hoạt động triển khai
thực nghiệm nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất thử nghiệm
nhằm hoàn thiện công nghệ cao, sản phẩm nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao ở quy mô sản
xuất nhỏ, xây dựng mô hình và đầu tư sản xuất sản phẩm để tạo ra các sản phẩm có chất lượng,
tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, có thể thay thế sản phẩm
nhập khẩu, cụ thể:
a) Trong trồng trọt
- Sản xuất giống và ứng dụng rộng rãi các giống cây trồng mới có năng suất cao, chất
lượng tốt và khả năng chống chịu cao, tập trung vào các đối tượng cây trồng chủ lực phục vụ
cho an ninh lương thực, xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, từng bước áp dụng trong sản xuất
giống cây trồng biến đổi gen (ngô, đậu tương, bông).
- Sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng, an toàn và hiệu quả cao áp dụng quy
trình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), VietGAP, tập trung vào các loại cây lương thực, cây
thực phẩm, cây ăn quả và cây công nghiệp chủ lực.
- Sản xuất rau an toàn, hoa cao cấp trong nhà lưới, nhà kính,
- Nhân giống và sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu quy mô tập trung,
16
- Sản xuất và ứng dụng các chế phẩm sinh học, các bộ kít chẩn đoán bệnh, các loại phân
bón thế hệ mới trong trồng trọt và bảo vệ cây trồng nông nghiệp.
b) Trong chăn nuôi
- Sản xuất giống vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao, tập trung vào một số loại vật
nuôi chủ lực, như: Bò, lợn, gia cầm.
- Chăn nuôi gia cầm, lợn, bò quy mô công nghiệp.
- Sản xuất và ứng dụng các chế phẩm sinh học, các loại thức ăn chăn nuôi, vắc-xin, bộ
kít mới trong chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh.
c) Trong lâm nghiệp
- Nhân nhanh và sản xuất giống quy mô công nghiệp một số giống cây trồng lâm nghiệp
mới như: Keo lai, bạch đàn bằng công nghệ mô, hom.
- Trồng rừng kinh tế theo phương pháp thâm canh.
- Ứng dụng công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, hệ thống định vị toàn cầu
trong quản lý và bảo vệ rừng.
d) Trong thủy sản
- Nhân nhanh và sản xuất giống thủy sản có năng suất, chất lượng cao, tập trung vào một
số đối tượng thủy sản chủ yếu như: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, các loại cá nước ngọt, cá biển
có giá trị cao, nhuyễn thể hai mảnh vỏ;
- Nuôi thâm canh, siêu thâm canh, tự động kiểm soát và xử lý môi trường bằng các công
nghệ tiên tiến (chemicalfog, biofloc, lọc sinh học) trong nuôi trồng một số loài thủy sản như:
Cá, tôm.
- Sản xuất thức ăn, các loại thuốc phòng trị bệnh thủy sản, sản xuất các bộ kít chẩn đoán
nhanh bệnh trên các đối tượng nuôi thủy sản.
- Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý để quy hoạch, quản lý và
khai thác nguồn lợi hải sản, các vùng nuôi trồng thủy sản.
đ) Trong thủy lợi
- Ứng dụng công nghệ tự động hóa, viễn thám và hệ thống thông tin địa lý để quản lý,
khai thác và điều hành các công trình thủy lợi.
- Sản xuất vật liệu mới, thiết bị và thi công các công trình thủy lợi.
- Xây dựng và mở rộng mô hình ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm cho một số loại cây
trồng nông, lâm nghiệp.
e) Trong chế biến, bảo quản
- Sản xuất và ứng dụng các chế phẩm sinh học, các chất phụ gia thiên nhiên, các chất
màu để bảo quản và chế biến nông, lâm, thủy sản.
- Xây dựng và mở rộng mô hình bảo quản, chế biến sâu các sản phẩm nông sản.
17
- Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong bảo quản và chế biến gỗ, vật liệu và công nghệ
nano để nâng cao độ bền cơ học, độ bền sinh học của gỗ rừng trồng mọc nhanh, sản xuất vật
liệu mới dạng bio-composite từ gỗ và thực vật có sợi,
- Xây dựng và mở rộng mô hình bảo quản dài ngày sản phẩm thủy sản trên tàu cá, chế
biến các sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng cao.
g) Trong cơ điện, tự động hóa, sản xuất vật tư, máy móc, thiết bị
- Ứng dụng các công nghệ tiên tiến, bao gồm công nghệ điều khiển tự động hóa cơ điện,
điện tử trong sản xuất các loại vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp và nuôi trồng thủy, hải sản.
- Xây dựng và phát triển các cơ sở tự động hoặc bán tự động trong trồng trọt (nhân giống
và sản xuất rau, hoa), chăn nuôi (lợn, gà, bò), thủy sản (sản xuất giống và nuôi thâm canh cá,
tôm).
1.2.4. Vai trò của các nhân tố làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng
1.2.4.1. Giống cây trồng
Việc tạo giống mới là nhân tố quan trọng để làm tăng năng suất và con người đã có rất nhiều cố
gắng để đưa tiềm năng năng suất lên cao. Tuy nhiên, các giống có năng suất cao lại thường có khả năng
chống chịu sâu bệnh thấp, đó là quy luật cân bằng gen chi phối. Số lượng gen quy định đặc tính của mỗi
loài sinh vật là ổn định, khi có nhiều gen quyết định đặc tính này (năng suất) thì số gen quyết định đặc tính
kia (chống chịu sâu bệnh) sẽ ít đi. Hơn nữa, sinh vật còn bị chi phối bởi quy luật liên kết gen.
Các nhà tạo giống đã tạo ra những giống có đặc tính chống chịu dọc, chỉ cần một gen lớn quyết
định khả năng chống chịu một loại sâu bệnh nào đó còn tập trung những gen khác cho năng suất. Thực
tế cho thấy, những giống thuộc loại này tồn tại không lâu trong sản xuất.
Ví dụ: Giống lúa NN8 bị bệnh bạc lá trong vụ mùa, để khắc phục, người ta tạo ra NN22 chống
được bệnh bạc lá trong vụ mùa, nhưng rồi NN22 lại bị rầy nâu kiểu sinh học 1 phá hoại…Nhiều người
đã đưa ra các giống có tính chống chịu ngang nhưng khó được thực tiễn sản xuất chấp nhận rộng rãi vì
cho năng suất thấp. Để tìm ra lối thoát, có người đã đưa ra giống nhiều dòng, sâu bệnh chỉ phá hoại một
dòng nhưng quần thể lại không đồng đều.
Một giống tốt phải có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu khoẻ. Như vậy biện pháp cải
thiện giống về năng suất, phẩm chất và tính chống chịu vẫn là biện pháp quan trọng.
1.2.4.2. Phân bón
Nhiều người cho rằng có thể dựa vào phân bón để tăng năng suất cây trồng. Việc sản xuất và sử
dụng phân khoáng trong trồng trọt đã đưa năng suất cây trồng tăng lên rất nhanh. Cho đến nay, có khá
nhiều trường hợp do dùng phân hoá học quá nhiều đã làm cho môi trường sống bị ảnh hưởng nặng nề. Ở
nhiều nước công nghiệp phát triển đã xuất hiện xu thế không muốn đầu tư phân bón.
Phân bón đối với chúng ta còn rất nhiều ý nghĩa, cần phải đầu tư nhiều hơn nữa để năng suất cây
trồng đạt cao hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón sẽ không còn cao như trước đây vì nó chẳng
những phụ thuộc vào cây trồng mà còn phụ thuộc vào nước tưới, bảo vệ thực vật v.v…
1.2.4.3. Bảo vệ mùa màng
18
Thiệt hại do sâu bệnh gây ra trong nông nghiệp rất lớn, khoảng 30% tổng sản lượng. Nhiều
chuyên gia dự tính trong tương lai tỷ lệ mất mát do sâu bệnh còn cao hơn nữa. Bởi vậy trong những khả
năng đưa năng suất và sản lượng lên cao thì biện pháp giảm mất mát trong nông nghiệp do sâu bệnh
gây ra là rất quan trọng. Ở một số vùng đã xuất hiện xu hướng quay trở lại sử dụng những giống cũ, tuy
năng suất không cao nhưng tương đối ổn định. Trong tương lai, công tác bảo vệ thực vật phải giữ cho
các giống năng suất cao luôn có năng suất ổn định, đồng thời giữ được cân bằng sinh thái.
Ngoài những vấn đề trên, trong khả năng làm tăng năng suất và sản lượng còn có vai trò của hệ
thống tưới tiêu, tăng hệ số sử dụng ruộng đất và khai hoang mở rộng diện tích trồng trọt ở nơi có điều kiện.
Tùy từng điều kiện cụ thể, con người phối hợp những khả năng thích hợp để làm tăng năng suất và
sản lượng cây, đồng thời phát triển tài nguyên, quản lý đất đai và bảo vệ môi trường.
PHẦN THỰC HÀNH
Thời gian: 3 giờ
- Nội dung thực hành:
Bài 1: Lập ô tiêu chuẩn, xác định các thành phần và đặc trưng cơ bản của rừng.
- Địa điểm thực hành: Rừng trồng thuần loài, rừng hỗn giao ở các độ tuổi, rừng tự nhiên.
- Hình thức tổ chức: Giáo viên hướng dẫn đầu ca cho cả lớp, sau đó chia nhóm theo từng
tổ học sinh thực hành. Khi kết thúc bài thực hành kiểm tra đánh giá từng học sinh.
- Các điều kiện phục vụ thực hành: Thước dây, phấn viết, dao phát, biểu ghi số liệu…
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Trình bày khái niệm về sinh thái học?
Câu 2: Trình bày sự phân chia các đơn vị sinh thái học?
Câu 3: Trinh bày hoàn cảnh, hoàn cảnh sinh thái học và phân loại các nhân tố sinh thái học?
Câu 4: Trình bày khái niệm và cấu trúc của hệ sinh thái?
Câu 5: Trình bày các kiểu hệ sinh thái và đặc điểm của các hệ sinh thái?
Câu 6: Trình bày khái niệm và đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp?
19
Câu 7: Trình bày các tổ chức của hệ sinh thái nông nghiệp?
Câu 8: Trình bày hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp?
Câu 9: Trình bày các đặc tính của hệ sinh thái nông nghiệp?
Câu 10: Trình bày các mối quan hệ sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp?
Câu 11: Trình bày sự phát triển của hệ sinh thái?
Câu 12: Trình bày một số khuynh hướng phát triển nông nghiệp hiện nay?
Câu 13: Trình bày vai trò của các nhân tố làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng?
Câu 14: Trình bày nội dung tạo và phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp?
Câu 15: Trình bày các nội dung ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp?
CHƯƠNG 2: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
(Lý thuyết: 15 giờ, thực hành: 19 giờ, kiểm tra: 2 giờ)
2.1. Các vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường
2.1.1. Khái niệm môi trường
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết
với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên." (Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Bảo vệ môi trường - Nghề: Khuyến nông lâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_bao_ve_moi_truong_nghe_khuyen_nong_lam.pdf

