Ứng dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích thứ bậc (AHP) trong định giá đất ở đô thị trên địa bàn thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
Original Article  
Application of Exploratory Factor Analysis (EFA)  
and Analytic Hierarchy Process (AHP)  
in Valuation of Urban Residential Land  
in Quoc Oai Town, Quoc Oai District, Hanoi City  
Doan Quang Cuong, Tran Quoc Binh  
VNU University of Science, Vietnam National University, Hanoi, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam  
Received 29 November 2019  
Revised 09 January 2020; Accepted 10 April 2020  
Abstract: Land price is essential for land transactions, development of land policy,... Therefore, if  
the determination of land values is accurate and objective, it will greatly contributes to sustainable,  
economical and effective use of land resources. In this study, for identifying factors affecting land  
prices, we had interviewed 100 people, including land users, officials, real estate agents, land  
management experts. Using exploratory factor analysis, we identified five groups of 16 factors  
affecting land prices in Quoc Oai Town: location, policy, region, individuality, and environment,  
where location is the most influential factor group in land prices in Quoc Oai Town. Next, analytic  
hierarchy process is used to determine weight of each factor and calculate their influence index. The  
research results have proved the usefulness of combining EFA and AHP in identifying and  
quantifying factors influencing on land prices for land valuation.  
Keywords: exploratory factor analysis, analytic hierarchy process, land price, Quoc Oai town.  
________  
Corresponding author.  
45  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
46  
Ứng dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
và phân tích thứ bậc (AHP) trong định giá đất ở đô thị trên  
địa bàn thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội  
Đoàn Quang Cương, Trần Quốc Bình  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 29 tháng 11 năm 2019  
Chỉnh sửa ngày 09 tháng 01 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 4 năm 2020  
Tóm tắt: Giá đất là cơ sở phục vụ cho các giao dịch về đất đai, xây dựng chính sách về đất đai,...  
Do vậy, nếu việc xác định giá trị đất đai được chính xác, khách quan thì sẽ góp phần quan trọng cho  
sử dụng đất đai bền vững, tiết kiệm và hiệu quả. Trong nghiên cứu này, để xác định các yếu tố ảnh  
hưởng đến giá đất, chúng tôi khảo sát 100 người dân (người dân sử dụng đất, cán bộ địa chính địa  
phường, nhân viên kinh doanh BĐS, chuyên gia quản lý đất đai). Kết quả phân tích nhân tố khám  
phá cho thấy 5 nhóm gồm 16 yếu tố ảnh hưởng đến giá đất tại trị trấn Quốc Oai bao gồm vị trí, chính  
sách, khu vực, cá biệt, môi trường. Trong đó, vị trí là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến giá đất tại  
thị trấn Quốc Oai. Từ đó, trọng số của từng yếu tố được xác định bằng phương pháp phân tích đa  
chỉ tiêu (AHP) nhằm xây dựng chỉ số ảnh hưởng của các yếu tố đến giá đất. Kết quả nghiên cứu đã  
chứng minh tính hữu dụng của sự kết hợp EFA và AHP trong nhận dạng và lượng hóa các yếu tố  
ảnh hưởng đến giá đất phục vụ công tác định giá đất.  
Từ khoá: phân tích nhân tố khám phá, phân tích thứ bậc, giá đất, thị trấn Quốc Oai.  
sự thay đổi mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng và diện  
mạo đô thị, nông thôn, các giao dịch về bất động  
sản khu vực này ngày càng sôi động. Do đó, việc  
xác định các yếu tố hưởng đến giá đất là cơ sở để  
các nhà hoạch định chính sách có những giải  
pháp hiệu quả trong quy hoạch sử dụng đất và  
phát triển thị trường bất động sản.  
1. Mở đầu  
Với tốc độ đô thị hóa nhanh như ở nước ta  
hiện nay, giá đất vùng ngoại ô các thành phố tăng  
nhanh chóng và là tâm điểm chú ý của các bên  
tham gia thị trường bất động sản. Chính vì vậy,  
xác định giá đất sát với giá trị thực sẽ giúp thị  
trường đất đai vận hành thông suốt. Để định giá  
đất chính xác cần xác định các yếu tố tác động  
đến giá đất như vị trí, khoảng cách đến các tiện  
ích công cộng, trung tâm hành chính, trường  
học,...  
Trên thế giới, việc xác định các yếu tố ảnh  
hưởng đến giá đất được thực hiện bằng nhiều  
phương thức khác nhau như phương pháp phân  
tích đa chỉ tiêu, mô hình hồi quy đa biến, mô hình  
hồi quy trọng số địa lý,... Bằng việc kết hợp trọng  
số và mức độ ảnh hưởng đến giá đất của các chỉ  
tiêu thành phần, bản đồ giá trị các nhóm yếu tố  
ảnh hưởng được xây dựng nhằm phục vụ định  
Thị trấn Quốc Oai là trung tâm huyện Quốc  
Oai, huyện ngoại thành nằm ở khu vực phía tây  
Thủ đô Hà Nội. Trong những năm gần đây, với  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
47  
giá đất và cung cấp thông tin đất đai. Việc kết  
hợp phân tích hồi quy đa biến và phân tích địa  
thống kê đã được sử dụng nhằm xác định mức độ  
ảnh hưởng của các yếu tố đến giá đất trong  
nghiên cứu của Nzau [1]. Trong nghiên cứu của  
Demetris Demetrious [2], việc định giá đất được  
thực hiện bằng các kỹ thuật tiên tiến, bao gồm  
phân tích hồi quy bội (MRA) và phân tích trọng  
số địa lý bằng GIS để lựa chọn các nhân tố ảnh  
hưởng đến giá đất và xây dựng bản đồ giá đất.  
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công  
nghệ, GIS còn có thể được kết hợp với trí tuệ  
nhân tạo nhằm nâng cao khả năng xử lý các vấn  
đề không gian [3]. Hiện nay, nhiều tác giả đã sử  
dụng tích hợp các mô hình thực nghiệm về giá  
đất chuẩn và GIS để đánh giá sự phát triển bền  
vững của đất ở đô thị. Ở nghiên cứu của Zhao Xu  
[4], các mô hình giá đất chuẩn được tích hợp với  
công nghệ GIS và trực quan hóa dữ liệu giá đất  
và mô phỏng không gian 3D cho các khu vực đất  
ở đô thị.  
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất  
Đất đai là yêu cầu cần thiết của tất cả các hoạt  
động kinh tế [8]. Về khía cạnh kinh tế, giá trị đất  
đai được hiểu là sự dự kiến về tính hữu dụng  
thông qua khả năng sử dụng nhằm đáp ứng các  
nhu cầu khác nhau của con người. Giá đất là một  
tham số để thể hiện giá trị của một đối tượng  
hoặc một tài sản. Giá thể hiện bằng tiền được  
chấp nhận chung để so sánh các giá trị trong thị  
trường [9]. Giá cả và giá trị đất đai được xác định  
không chỉ bởi vị trí của tài sản mà còn chịu tác  
động của nhiều yếu tố ngoại sinh và nội sinh  
trong thị trường [10]. Do đó, việc xác định giá  
đất cần dựa trên sự tác động tổ hợp của nhiều yếu  
tố đến giá đất. Trên thế giới, việc phân vùng giá  
đất phần lớn dựa trên mối quan hệ tương quan  
giữa giá đất và khoảng cách đến các khu trung  
tâm. Theo nghiên cứu của Liu Zheng, sự phát  
triển của giá đất được phân tích dựa trên khoảng  
cách tới các tiện ích công cộng, trường học. Nếu  
xét về góc độ các yếu tố tiếp cận, xác định giá  
đất còn được phát triển dựa trên khoảng cách  
giữa các thửa đất và các trung tâm thành phố, các  
trục giao thông chính, trung tâm văn hóa, y tế,...  
Ở tầm vĩ mô, giá đất chịu ảnh hưởng của các yếu  
tố kinh tế, nhân khẩu, môi trường trong đó các  
yếu tố có quan hệ chặt chẽ với giá trị đất đai bao  
gồm tỉ lệ nhập cư, thu nhập trung bình, lãi suất  
cho vay [11]. Một số yếu tố quan trọng nhất ảnh  
hưởng đến giá đất bao gồm tình trạng kinh tế, xã  
hội, môi trường, khoảng cách đến trung tâm hành  
chính, trung tâm thương mại, giao thông, các  
dịch vụ đô thị bao gồm công viên, sân thể thao,  
trung tâm y tế bệnh viện [12]. Dựa trên mô hình  
hồi quy trọng số địa lý, Nakamura chỉ ra chất  
lượng môi trường sống có tác động tích cực đến  
giá trị đất đai [13]. Tiếng ồn là một trong những  
nguồn gây khó chịu cho người dân, gây hại cho  
sức khỏe, giảm sự tập trung và hiệu quả công  
việc [14]. Do vậy, ảnh hưởng của tiếng ồn đến  
giá bất động sản được nghiên cứu ở nhiều nước  
phát triển. Becker (2003) đã phân tích sự ảnh  
hưởng của tiếng ồn ở những con đường lớn ở  
Israel, kết quả cho thấy giá trung bình của các  
bất động sản tăng 1,2% khi tiếng ồn giảm 1 dB  
Tại Việt Nam, vấn đề giá đất được đề cập  
trong nhiều nghiên cứu. Việc xác định các mô  
hình, yếu tố ảnh hưởng đến giá đất trong nghiên  
cứu của Lê Khương Ninh [5], Nguyễn Quỳnh  
Hoa [6] được thực hiện dựa trên mô hình hồi quy  
tuyến tính. Tuy nhiên, việc xác định các yếu tố  
ảnh hưởng đến giá đất của các nghiên cứu này  
thường được đưa trực tiếp vào mô hình hồi quy  
và chưa có sự đánh giá sự phù hợp của các biến  
quan sát với đối tượng nghiên cứu. Với khả năng  
mô tả mối quan hệ giữa một tập hợp biến có thể  
quan sát được với các nhân tố không thể quan  
sát, EFA là phương pháp thích hợp để tìm ra các  
nhân tố thích hợp mới, chính xác và cập nhật [7].  
Cùng với khả năng sắp xếp các chỉ tiêu theo mức  
độ quan trọng, từ đó tìm được quyết định cuối  
cùng hợp lý nhất, AHP là phương pháp thường  
được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của  
các yếu tố đến giá đất cho công tác định giá. Sự  
kết hợp GIS và phần mềm thống kê là công cụ  
mạnh trong thiết kế hệ thống định giá tự động bất  
động sản [3]. Do vậy, sự kết hợp của phương  
pháp phân tích nhân tố khám phá và phân tích  
thứ bậc được sử dụng cho nghiên cứu này.  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
48  
[15]. Tương tự như vậy, dựa trên mô hình  
hedonic về giá đất, Kim và cộng sự đã chỉ ra  
rằng, tại khu vực đô thị Seoul, mức giá đất giảm  
1,3% nếu tiếng ồn tăng lên 1% [16]. Tuy nhiên,  
tác động của tiếng ồn đến giá cả thường không  
ổn định và phụ thuộc vào đặc điểm của các khu  
vực khác nhau [17]. Bên cạnh yếu tố môi trường,  
giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng trong  
phát triển kinh tế, văn hóa, và có tác động không  
nhỏ đến giá đất. Sự hiện diện của hệ thống giao  
thông làm tăng giá trị đất đai do cải thiện khả  
năng tiếp cận. Mạng lưới giao thông tạo điều  
kiện cho hàng hóa lưu thông, giảm các chi phí  
vận tải, trong nghiên cứu của Demetrious mạng  
lưới giao thông (đường cao tốc, quốc lộ) có ảnh  
hưởng lớn đến giá trị đất đai [18]. Tại khu vực  
có đường quốc lộ, ga đường sắt đi qua, giá trị đất  
đai cao hơn từ 9,6% đến 10,1% so với các khu  
vực không có đường giao thông, đường sắt đi  
qua [19]. Ngoài các yếu tố mang tính chính sách,  
đặc điểm khu vực thì các yếu tố cá biệt như độ  
rộng mặt tiền, diện tích, hình dạng,... cũng có ảnh  
hưởng đáng kể đến giá đất [20]. Trong nghiên  
cứu của Shougeng Hu, tác giả đánh giá mối quan  
hệ giữa giá đất và các yếu tố ảnh hưởng đến giá  
đất tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc, kết quả  
thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa giá cả và diện  
tích đất [21]. Như vậy, có thể thấy rẳng, giá đất  
chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau.  
Các nhân tố này có thể được chia dựa trên mối  
quan hệ của các yếu tố và phạm vi ảnh hưởng  
bao gồm: nhân tố vị trí, cá biệt, khu vực, chính  
sách,...  
3. Khu vực và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Khu vực nghiên cứu  
Thị trấn Quốc Oai nằm cách trung tâm  
TP.Hà Nội 20 km về phía tây. Với cơ sở hạ tầng  
giao thông được chú trọng đầu tư, những trục  
đường giao thông lớn được mở rộng và sự dịch  
chuyển của trụ sở các cơ quan hành chính. Theo  
quy hoạch đến năm 2030 định hướng 2050 khu  
vực phía tây của Hà Nội, trong đó có thị trấn  
Quốc Oai, sẽ trở thành khu vệ tinh mới của Hà  
Nội. Về hạ tầng giao thông, thị trấn Quốc Oai có  
nhiều tuyến đường huyết mạch đi qua, trong đó  
có đại lộ Thăng Long, quốc lộ 21A, tỉnh lộ 419  
kết nối trung tâm thành phố với các dự án trọng  
điểm như khu công nghệ cao, khu đại học. Là thị  
trấn thuộc ngoại thành Hà Nội, tuy nhiên hiện  
nay tại thị trấn đã có hệ thống thu gom chất thải  
sinh hoạt, đảm bảo vệ sinh môi trường. Với vị  
trí địa lý nằm gần hai con sông là sông Tích và  
sông Đáy, nước ngầm khu vực thị trấn mạch  
nông khá dồi dào, trữ lượng lớn và 100% các hộ  
dân trong thị trấn được sử dụng nước sạch. Mặc  
dù có đường cao tốc lớn chạy qua nhưng tình  
trạng ô nhiễm không khí chỉ xảy ra cục bộ dọc  
trục Đại lộ Thăng Long, phía trong khu dân cư  
không khí trong lành. Ngoài ra, là trung tâm văn  
hóa – chính trị của cả huyện, thị trấn Quốc Oai  
là nơi tập trung các công trình kinh tế - xã hội.  
Trên địa bàn hiện nay có 4 trường học, nhà văn  
hóa quy mô 5000m2, một bệnh viện đa khoa cấp  
III. Những điều kiện này góp thần thúc đẩy phát  
triển kinh tế - xã hội của thị trấn Quốc Oai nói  
riêng và huyện Quốc Oai nói chung.  
Hình 1. Sơ đồ vị trí của thị trấn Quốc Oai.  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
49  
3.2. Phương pháp nghiên cứu  
giá đất tại thị trấn Quốc Oai theo 4 nhóm thang  
đo tiềm năng: nhóm cá biệt, nhóm vị trí, nhóm  
khu vực, nhóm chính sách.  
Trước tiên, giả thuyết các nhân tố ảnh hưởng  
đến giá đất được nghiên cứu đặt ra dựa trên tài  
liệu khoa học. Sau đó, tiến hành lập bảng hỏi  
theo thang đo Likert và phỏng vấn người sử dụng  
đất, cán bộ quản lý đất đai,... Để đưa ra được các  
nhân tố ảnh hưởng đến giá đất, phương pháp  
phân tích nhân tố khám phá được sử dụng nhằm  
tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng đến giá đất tại thị  
trấn Quốc Oai. Kết quả của phân tích nhân tố  
khám phá làm cơ sở cho việc phân tích đa chỉ  
tiêu từ đó tính toán chỉ số ảnh hưởng của các yếu  
tố ảnh hưởng, hỗ trợ công tác định giá đất.  
Nghiên cứu này đã sử dụng phần mềm ArcGIS  
để phân tích không gian và phần mềm SPSS để  
kiểm định thang đo và phân tích nhân tố khám phá.  
Nhóm cá biệt (CB) gồm 5 biến quan sát:  
1) Diện tích của thửa đất (CB1), 2) Hình dạng  
của thửa đất (CB2), 3) Chiều dài mặt tiền (CB3),  
4) Hướng của thửa đất (CB4), 5) Loại đường tiếp  
giáp (CB5) (tham khảo theo Shougeng Hu [21];  
Malaitham [19]; Demetrious [2]).  
Nhóm vị trí (VT) gồm 6 biến quan sát:  
1) Khoảng cách đến ủy ban nhân dân (VT1),  
2) Khoảng cách đến khu đô thị (VT2), 3) Khoảng  
cách đến chợ (VT3), 4) Khoảng cách đến bệnh  
viện (VT4), 5) Khoảng cách đến trường học  
(VT5), 6) Khoảng cách đến khu công nghiệp  
(VT6) (tham khảo theo Bambang [23]; Phạm Sỹ  
Liêm [24]; Kheir, Nasr [11]; Demetrious [2];  
Christopher R.Bollinger [25]; Bovkir [26]).  
a. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu  
Để đảm bảo độ tin cậy cho phương pháp  
phân tích nhân tố khám phá, kích thước mẫu phải  
đảm bảo đủ lớn. Theo Hair, trong phân tích nhân  
tố khám phá, số lượng mẫu tối thiểu phải gấp 5  
lần số biến quan sát [22]. Trong nghiên cứu này,  
giả thuyết đặt ra có 18 tham số cần ước lượng,  
do đó số lượng mẫu tối thiểu là ≥ 5 * 18 = 90. Để  
đảm bảo yêu cầu đặt ra, số lượng mẫu được lựa  
chọn trong nghiên cứu này là 100 mẫu quan sát.  
Đối với việc chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành  
ngẫu nhiên bao gồm: người sử dụng đất, cán bộ  
quản lý đất đai, nhân viên kinh doanh bất động  
sản, chuyên gia trong lĩnh vực quản lý đất đai.  
Nhóm khu vực (KV) gồm 4 biến quan sát: 1)  
Môi trường nước (KV1), 2) Môi trường không  
khí (KV2), 3) Trình độ dân trí (KV3), 4) Tình  
trạng an ninh (KV4) (tham khảo theo Nakamura,  
Hiroki [13]; Nguyễn Quỳnh Hoa [6]).  
Nhóm chính sách (CS) gồm 3 biến quan sát:  
1) Chính sách quy hoạch (CS1), 2) Chính sách  
kinh tế (CS2), 3) Chính sách thuế (CS3) (tham  
khảo theo Evren Ozus [27]; Kheir, Nasr [11]).  
c. Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu  
Dữ liệu sau khi được thu thập được đưa vào  
phần mềm SPSS để phân tích nhân tố khám phá.  
Quá trình xử lý, phân tích dữ bao gồm 2 bước chính.  
b. Phương pháp thu thập số liệu  
Bước 1: Kiểm định thang đo bằng chỉ số  
Cronbach’s Alpha.  
Để thu thập thông tin sơ cấp, nghiên cứu tiến  
hành thiết kế bảng hỏi. Nội dung bảng hỏi bao  
gồm các thông tin về người được hỏi và các nhân  
tố ảnh hưởng đến giá đất tại trị trấn Quốc Oai,  
huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Để khảo sát  
ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất tại địa  
bàn nghiên cứu, chúng tôi sử dụng thang đo  
Likert với 5 mức độ: (1) Ảnh hưởng rất ít; (2)  
Ảnh hưởng ít; (3) Ảnh hưởng trung bình; (4)  
Ảnh hưởng nhiều; (5) Ảnh hưởng rất nhiều.  
Ngoài các thông tin về đặc điểm thửa đất (diện  
tích, hình dạng, mặt tiền,...), giá giao dịch trong  
2 năm gần đây, nội dung chính của phiếu hỏi là  
đánh giá về ảnh hưởng của 18 biến quan sát đến  
Trong nghiên cứu, việc đo lường các nhân tố  
được thực hiện bằng nhiều câu hỏi quan sát. Do  
vậy, khi lập bảng hỏi, các biến quan sát là biến  
con của một nhân tố được tạo ra. Để đánh giá  
tính phù hợp của biến con với nhân tố mẹ, nghiên  
cứu tiến hành kiểm định thang đo bằng chỉ số  
Cronbach’s Alpha. Chỉ số này sẽ giúp kiểm tra  
các biến quan sát của nhân tố mẹ có đáng tin cậy  
không, có tốt không, phép kiểm định này phản  
ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến  
quan sát trong cùng một nhân tố. Chỉ số  
Cronbach’s Alpha có giá trị biến thiên trong  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
50  
đoạn [0...1]. Theo lý thuyết, chỉ số này càng cao  
nhân tố trích cô đọng được bao nhiêu % và thất  
thoát bao nhiêu % của các biến quan sát; (5) Hệ  
số tải nhân tố cho biết mức độ đóng góp của biến  
quan sát với nhân tố. Theo Hair, nếu kích thước  
mẫu là 100 thì số hệ số tải nhân tố phải đảm bảo  
từ 0,55 trở lên.  
càng tốt, nhưng khi nó quá lớn (> 0,95) thì cho  
thấy có hiện tượng trùng lặp trong thang đo. Do  
đó, nếu chỉ số này lớn hơn 0,95 thì cần kiểm tra  
lại các biến trong thang đo. Theo Nguyễn Đình  
Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, các biến có hệ số  
tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại [28,  
29]. Nếu chỉ số Cronbach’s Alpha > 0,6 thì thang  
đo được cho là có độ tin cậy [30]. Như vậy, khi  
kiểm định thang đo, chỉ số Cronbach’s Alpha  
nằm trong khoảng [0,6 – 0,95] đảm bảo thang đo  
có độ tin cậy tốt.  
d. Phương pháp phân tích đa chỉ tiêu  
Trong đánh giá đa chỉ tiêu, vai trò của các  
nhân tố đối với giá đất là không giống nhau, do  
đó cần xác trọng số của từng nhân tố đối với giá  
đất. Trong bài báo này, việc xác định trọng số  
của các nhân tố được thực hiện bằng phương  
pháp phân tích đa chỉ tiêu, cụ thể là quá trình  
phân cấp thứ bậc AHP.  
Bước 2: Phân tích nhân tố khám phá EFA.  
Mục tiêu chính của EFA nhằm mô tả mối  
quan hệ giữa một tập hợp các biến có thể quan  
sát được k (số lượng nhỏ hơn) với các biến không  
quan sát được [31]. Phân tích nhân tố hoạt động  
dựa trên nguyên tắc có thể đo lường được và  
giảm các biến có chung phương sai, không quan  
sát được [32]. Các tiêu chí trong phân tích nhân  
tố EFA: 1) hệ số KMO (Kaiser- Meyer-Olkin) là  
chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân  
tích nhân tố. Trị số KMO phải đạt từ 0,5 trở lên  
(0,5 ≤ KMO ≤ 1). Nếu trị số này nhỏ hơn 0,5 thì  
phân tích nhân tố không phù hợp với tập dữ liệu  
nghiên cứu; 2) Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test  
of sphericity) dùng để xem xét các biến quan sát  
trong nhân tố có tương quan với nhau hay không.  
Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê nhỏ hơn  
0,05 (sig Bartlett’s Test ≤ 0,05) chứng tỏ các  
biến quan sát có tương quan với nhau trong nhân  
tố; 3) Trị số Eigenvalue (trị riêng) là một tiêu chí  
sử dụng phổ biến để xác định số nhân tố trong  
phân tích EFA. Với tiêu chí này, chỉ những nhân  
tố có Eigenvalue ≥ 1 mới được giữ lại trong mô  
hình phân tích; 4) Tổng phương sai trích (Total  
Variance Explained) ≥ 50% cho thấy các mô  
hình EFA là phù hợp. Trị số này thể hiện các  
Phương pháp AHP được giới thiệu năm 1980  
bởi Saaty [33]. AHP là kỹ thuật tạo quyết định,  
giúp sắp xếp các chỉ tiêu theo mức độ quan trọng,  
từ đó tìm được quyết định cuối cùng hợp lý nhất  
[33,34]. Cụ thể, quá trình phân tích phân cấp bao  
gồm 4 bước như sau: (1) Xây dựng cấu trúc phân  
cấp, (2) Xây dựng ma trận so sánh của các chỉ  
tiêu, (3) So sánh cặp các chỉ tiêu theo mức độ  
quan trọng, (4) Tổng hợp và xác định trọng số  
cuối cùng. Về mặt bản chất, việc tính toán trọng  
số cho các chỉ tiêu khác nhau được thực hiện dựa  
trên so sánh cặp các yếu tố ảnh hưởng. Tầm quan  
trọng giữa hai tiêu chí được cho theo thang điểm  
từ 1 đến 9 để thể hiện sự quan trọng cao hơn (từ  
rất ít quan trọng đến quan trọng hơn rất nhiều) và  
các giá trị nghịch đảo từ 1/9 đến 1 để thể hiện sự  
quan trọng thấp hơn. Trong quá trình phân tích  
AHP, quan hệ bắc cầu không được thiết lập khi  
so sánh cặp. Do đó, để kiểm tra mức độ nhất quán  
giữa các cặp so sánh, tỷ số nhất quán (CR) được  
sử dụng: nếu CR <10% thì có thể chấp nhận  
được, ngược lại nếu CR ≥ 10% thì cần kiểm tra  
lại các bước trước [33,34].  
Hình 2. Quy trình xác định trọng số bằng phương pháp AHP.  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
51  
Bảng 2. Bảng kiểm định KMO và Bartlett's Test  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of  
0,632  
4.1. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất  
a. Kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha  
Sampling Adequacy.  
Approx. Chi-Square 603,860  
Bartlett's Test of  
Sphericity  
df  
Sig.  
120  
0,000  
Để đảm bảo các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất  
tại thị trấn Quốc Oai có độ tin cậy, nghiên cứu  
đã tiến hành kiểm định thống kê qua chỉ số  
Cronbach Alpha. Qua kiểm định thang đo, kết  
quả cho thấy hệ số Cronbach Alpha của từng  
thang đo đều lớn hơn 0,6. Trong đó, đặc điểm vị  
trí được đo lường bởi 5 biến quan sát và có giá  
trị Cronbach Alpha là cao nhất (0,779) có nghĩa  
độ tin cậy của các biến quan sát trong nhóm này  
là cao nhất. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến  
tổng (Corrected item- total correlation) đều có  
giá trị ≥ 0,3. Do đó không có biến quan sát nào  
bị loại. Kết quả này thể hiện, hệ thống thang đo  
đảm bảo chất lượng tốt với 18 biến quan sát.  
Kết quả kiểm định KMO = 0,632 ≥ 0,5 cho  
thấy phân tích nhân tố khám phá phù hợp với tập  
dữ liệu nghiên cứu. Kiểm định tính tương quan  
giữa các biến quan sát cho thấy hệ số sig = 0,00  
(nhỏ hơn ngưỡng 0,05 như đã phân tích ở trên)  
cho thấy các biến quan sát có mối tương quan  
chặt chẽ trong mỗi nhân tố. Kết quả kiểm định  
phương sai trích: phương sai cộng dồn của các  
yếu tố là: 66,12%. Như vậy, 66,12% thay đổi của  
các nhân tố được giải thích bởi các biến quan sát.  
Kết quả phân nhóm các nhân tố cho thấy, hệ  
số tải nhân tố của các biến quan sát được giữ lại  
đều có giá trị lớn hơn 0,55. Các giá trị này đảm  
bảo sự tương quan giữa biến quan sát và các nhân  
tố được tạo ra. Trong các biến quan sát được giữ  
lại ở nhóm vị trí, biến “khoảng cách đến bệnh  
viện” có hệ số tương quan là cao nhất. Như vậy,  
từ 4 nhóm nhân tố giả định ban đầu các biến quan  
sát đã được sắp xếp vào 5 nhóm (tương ứng với  
5 cột): Nhóm vị trí (5 biến quan sát); nhóm chính  
sách (3 biến quan sát); nhóm đặc điểm cá biệt (4  
biến quan sát); nhóm khu vực (2 biến quan sát);  
nhóm môi trường (2 biến quan sát).  
Bảng 1. Tổng hợp kết quả phân tích chất lượng  
thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha  
Số  
biến  
Biến  
Cronbach  
Alpha  
STT Thang đo  
Đặc  
quan sát  
CB1, CB2,  
CB3, CB4,  
CB5  
VT1, VT2,  
VT3, VT4,  
VT5, VT6  
KV1,  
1
2
3
4
điểm  
cá biệt  
Đặc  
điểm  
vị trí  
Đặc  
điểm  
khu vực  
Chính  
sách  
5
6
4
3
0,667  
0,779  
0,664  
0,727  
Bảng 3. Ma trận xoay các nhân tố  
Component  
KV2,  
KV3, KV4  
1
2
3
4
5
VT4  
VT2  
VT3  
VT5  
VT1  
CS1  
CS3  
CS2  
CB2  
CB1  
CB5  
CB3  
KV3  
KV4  
KV1  
KV2  
0,796  
0,773  
0,720  
0,710  
0,591  
CS1, CS2,  
CS3  
nhà nước  
b. Phân tích nhân tố tố khám phá và lựa chọn  
yếu tố ảnh hưởng đến giá đất  
0,873  
0,843  
0,643  
Nhằm kiểm định các nhân tố trong thang đo  
được lựa chọn chính xác hay không, bằng  
phương pháp phương sai trích Principal  
component analysis, phương pháp xoay Varimax  
with Kaiser normalization, nghiên cứu tiến hành  
phân tích nhân tố khám phá, ở kết quả phân tích  
nhân tố lần 1 và lần 2, hai biến Hướng, KC_KCN  
có hệ số tải nhân tố < 0,55 vì vậy yếu tố này được  
loại ra khỏi mô hình. Sau khi chạy phân tích nhân  
tố lần thứ 3, kết quả phân tích như sau:  
0,726  
0,696  
0,631  
0,610  
0,887  
0,867  
0,903  
0,839  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
52  
4.2. Xác định trọng số, chỉ số các yếu tố ảnh  
hưởng phục vụ định giá đất  
đông giáp sông Đáy do đó nguồn nước dồi dào,  
100% dân cư khu vực thị trấn được sử dụng nước  
sạch từ các nhà máy nước, môi trường nước đảm  
bảo. Ở phía Bắc thị trấn là khu công nghiệp  
Thạch Thất, loại hình khu công nghiệp này chủ  
yếu là lắp ráp linh kiện, ô nhiễm không khí chỉ  
mang tính chất cục bộ dọc đại lộ Thăng Long,  
khu vực dân cư không khí đảm bảo tốt. Do vậy,  
ảnh hưởng về môi trường khá hạn chế. Ngoài ra,  
thị trấn Quốc Oai là khu vực có trình độ dân trí  
cao nhất của huyện Quốc Oai, đây cũng là nơi có  
nhiều trụ sở an ninh. Vấn đề an ninh được đảm  
bảo tốt trong thị trấn. Do vậy, sự tác động của  
nhân tố môi trường, nhân tố khu vực đến giá đất  
tại thị trấn Quốc Oai là như nhau và có thể được  
đưa ra khỏi mô hình. Như vậy, để phục vụ công  
tác định giá đất, hai nhân tố vị trí (trọng số 60%)  
và cá biệt (trọng số 40%) với 9 yếu tố thành phần  
được đưa vào ma trận so sánh để xác định trọng  
số của từng yếu tố ảnh hưởng đến giá đất.  
Để xác định trọng số của từng nhóm nhân tố  
đến giá đất tại địa bàn, nghiên cứu tiến hành thiết  
lập ma trận so sánh mức độ quan trọng giữa các  
nhóm nhân tố. Từ kết quả đánh giá mức độ quan  
trọng của các nhân tố, tiến hành chuẩn hóa ma  
trận, tính toán giá trị 휆푚푎푥 và kiểm tra tỉ số nhất  
quán CR. Trong trường hợp này, 휆푚푎푥 = 5,16,  
CR= 0,04 < 0,1. Do đó, sự nhất quán trong quá  
trình đánh giá được đảm bảo. Kết quả phân tích  
đa chỉ tiểu cho 5 nhóm nhân tố cho thấy, nhóm  
nhân tố vị trí và cá biệt ảnh hưởng mạnh nhất đến  
giá đất, với trọng số lần lượt là 0,41 và 0,27.  
Bảng 4. Trọng số các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất  
Vị  
trí  
Chính  
sách  
Khu  
vực  
Cá  
biệt  
Môi  
trường  
Trọng  
số  
0,41  
0,15  
0,09 0,27  
0,08  
Kết quả phân tích phân cấp thể hiện rằng giá  
đất tại thị trấn Quốc Oai phần lớn chịu ảnh hưởng  
của các yếu tố loại đường tiếp giáp, khoảng cách  
đến các tiện ích như bệnh viện, trung tâm hành  
chính, chợ. Ngoài ra, trọng số của các yếu tố  
được sử dụng phục vụ định giá hàng loạt.  
Đối với công tác định giá đất ở đơn vị cấp thị  
trấn, nhóm nhân tố chính sách mang tính vĩ mô  
có thể được loại bỏ, bởi sự tác động của chúng  
trong cấp này là như nhau. Thị trấn Quốc Oai  
nằm ở khu vực ngoại thành thủ đô Hà Nội, phía  
Bảng 5. Trọng số của các yếu tố trong nhóm vị trí được đánh giá bời 5 chuyên gia bằng AHP  
Phiếu 1 Phiếu 2 Phiếu 3 Phiếu 4 Phiếu 5 Trọng số trung bình  
KC_TTHC (VT1)  
KC_KĐT (VT2)  
KC_Cho (VT3)  
KC_BV (VT4)  
0,22  
0,17  
0,26  
0,17  
0,18  
0,21  
0,15  
0,30  
0,18  
0,16  
0,25  
0,15  
0,25  
0,18  
0,17  
0,28  
0,15  
0,25  
0,20  
0,12  
0,23  
0,12  
0,33  
0,17  
0,15  
0,24  
0,15  
0,27  
0,18  
0,16  
KC_Truong (VT5)  
Bảng 6. Trọng số của các yếu tố trong nhóm cá biệt được đánh giá bời 5 chuyên gia bằng AHP  
Phiếu 1 Phiếu 2 Phiếu 3 Phiếu 4 Phiếu 5 Trọng số trung bình  
Diện tích (CB1)  
Hình dạng (CB2)  
Mặt tiền (CB3)  
0,12  
0,17  
0,26  
0,45  
0,10  
0,16  
0,28  
0,46  
0,12  
0,16  
0,24  
0,48  
0,11  
0,16  
0,23  
0,50  
0,09  
0,18  
0,27  
0,46  
0,11  
0,17  
0,25  
0,47  
Loại đường (CB5)  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
53  
Nghiên cứu tiến hành xây dựng chỉ số ảnh  
hưởng của các yếu tố đến giá đất tại thị trấn Quốc  
Oai thể hiện mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố  
đến giá đất nói riêng và của từng nhóm nhân tố  
nói chung. Trong đó, chỉ số của từng yếu tố ảnh  
hưởng được xác định bằng tích giữa hệ số ảnh  
hưởng và trọng số ảnh hưởng đến giá đất, được  
xác định theo công thức sau: Iij =Wi.(Kj.Wj)  
Trong đó, Iij là chỉ số ảnh hưởng của yếu tố  
thứ i ở phân cấp thứ j.  
trung bình của từng khoảng chỉ tiêu với mức giá  
trung bình của khoảng chỉ tiêu có giá trị cao nhất).  
Wj là trọng số ảnh hưởng của phân cấp thứ j  
được xác định theo ý kiến chuyên gia.  
Cuối cùng, chỉ số ảnh hưởng của từng nhóm  
nhân tố được xác định bằng tổng chỉ số của các  
yếu tố thành phần trong nhóm nhân tố. Đây là  
chỉ số hỗ trợ định giá đất hàng loạt tại khu vực  
nghiên cứu.  
푛
∑
IT = 푘=1 퐼푘  
Wi là trọng số ảnh hưởng của yếu tố i được  
xác định theo ý kiến chuyên gia.  
Kj là hệ sổ ảnh hưởng của phân cấp thứ j  
(được xác định bằng thương số giữa mức giá  
Trong đó: IT là chỉ số ảnh hưởng chung của  
các yếu tố thành phần, Ik là chỉ số ảnh hưởng của  
yếu tố thứ k, n là số yếu tố có ảnh hưởng đến giá đất.  
Bảng 7. Chỉ số ảnh hưởng của các yếu tố trong nhân tố vị trí  
Phân cấp khoảng cách  
Yếu tố/ Trọng  
số (Wi)  
<500m  
500-1000m  
>1000m  
Hệ số Trọng số Chỉ số  
Hệ số Trọng số Chỉ số Hệ số Trọng số Chỉ số  
(Kj)  
(Wj)  
(Iij)  
(Kj)  
(Wj)  
(Iij)  
(Kj)  
(Wj)  
(Iij)  
K/C đến bệnh  
viện (0,18)  
K/C đến trường  
học (0,16)  
K/C đến chợ  
(0,27)  
1,0  
0,58  
0,103  
0,82  
0,29  
0,042  
0,74  
0,13  
0,018  
1,0  
1,0  
0,55  
0,56  
0,086  
0,152  
0,94  
0,84  
0,28  
0,30  
0,043  
0,067  
0,82  
0,74  
0,17  
0,14  
0,021  
0,028  
K/c đến trung  
tâm hành chính  
(0,24)  
K/c đến khu đô  
thị (0,15)  
1,0  
1,0  
0,54  
0,54  
0,129  
0,079  
0,93  
0,83  
0,31  
0,29  
0,068  
0,036  
0,75  
0,78  
0,15  
0,17  
0,027  
0,020  
Bảng 8. Chỉ số ảnh hưởng của các yếu tố trong nhân tố cá biệt  
Yếu tố / Trọng số (Wi)  
Phân cấp yếu tố Trọng số (Wj) Hệ số (Kj) Chỉ số (Iij)  
<50 m2  
50-100 m2  
>100 m2  
4-6 đỉnh  
7-9 đỉnh  
>9 đỉnh  
<20o  
0,18  
0,56  
0,26  
0,54  
0,32  
0,14  
0,54  
0,31  
0,15  
0,73  
0,17  
0,10  
0,15  
0,30  
0,55  
0,74  
1,0  
0,9  
0,014  
0,062  
0,026  
0,060  
0,033  
0,015  
0,030  
0,015  
0,006  
0,345  
0,052  
0,026  
0,029  
0,070  
0,141  
Diện tích  
(0,11)  
1,0  
Sổ đỉnh  
0,95  
0,92  
1,0  
(0,67)  
Hình dạng  
(0,17)  
Độ rộng góc  
20-40o  
0,87  
0,80  
1,0  
(0,33)  
> 40o  
Loại 2  
Loại đường  
Loại 5  
Loại 6  
< 5 m  
5 – 10 m  
>10 m  
0,66  
0,57  
0,81  
0,90  
1,0  
(0,47)  
Mặt tiền  
(0,25)  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
54  
Với mục tiêu xây dựng bản đồ giá đất,  
giá đất xây dựng từ bộ chỉ số ảnh hưởng. Hồi quy  
theo trọng số địa lý (GWR) là kỹ thuật hồi quy  
cục bộ được sử dụng để ước tính mối quan hệ  
giữa biến độc lập và biến phụ thuộc theo không  
gian [36]. Trong lĩnh vực định giá đất, đây là  
phương pháp được sử dụng phổ biến nhằm xác  
định mức độ đóng góp của biến độc lập đối với  
biến phụ thuộc. Ngoài việc thể hiện mối quan hệ  
giữa các biến, mô hình GWR còn cho phép giải  
thích mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các  
biến độc lập thay đổi theo không gian. Kết quả  
mô hình hồi quy trọng số địa lý của 126 giá thu  
thập, với biến phụ thuộc là giá đất, biến độc lập  
là chỉ số vị trí (I_vitri), chỉ số cá biệt (I_cabiet)  
như sau:  
nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu về giá thị  
trường của các thửa đất nằm trong khu vực.  
Trong nghiên cứu này, giá đất tại thị trấn Quốc  
Oai chịu ảnh hưởng từ 9 yếu tố thành phần và  
được thể hiện thông qua chỉ số nhân tố chung (là  
giá trị trung bình trọng số của chỉ số nhân tố vị  
trí và nhân tố cá biệt). Như vậy, giá đất thị trường  
tại thị trấn Quốc Oai được xác định dưới dạng  
sau:  
G = IT* GQC  
Trong đó: G là giá đất của thửa đất cần xác  
định, IT là chỉ số ảnh hưởng chung, GQC là giá  
quy chuẩn (đã được tách các yếu tố ảnh hưởng  
khỏi giá đất). Giá quy chuẩn GQC được xác định  
là thương số giữa giá đất thu thập được và chỉ số  
ảnh hưởng chung (IT).  
Bảng 9. Kết quả hồi quy GWR  
Variable  
Coefficient  
Residual  
Intercept  
6,06  
I_vitri  
20,74  
0,01  
I_cabiet  
14,08  
Giá trị GQC của toàn bộ khu vực được xác  
định bằng phương pháp nội suy giá của 126 điểm  
giá thu thập trên thị trường. Trong nghiên cứu  
này, phương pháp nội suy trị trung bình trọng số  
(IDW) được sử dụng để nội suy giá đất, vì trong  
ba phương pháp nội suy IDW, Kriging, Spline  
thì phương pháp IDW thường cho kết quả tốt hơn  
[35]. Để tính giá đất quy chuẩn trung bình cho  
các thửa đất, công cụ Zonal Statistic as Table  
được sử dụng, giá đất quy chuẩn trung bình của  
các thửa đất thu được ở trường MEAN. Mỗi thửa  
đất riêng biệt có chỉ số ảnh hưởng của các yếu tố  
là khác nhau, do đó để tính giá đất cho các thửa  
đất, nghiên cứu tính giá đất cho từng thửa đất.  
Giá đất này được xác định bằng tích giữa giá quy  
chuẩn trung bình và chỉ số ảnh hưởng chung của  
thửa đất đó. Kết quả thu được bản đồ giá đất tại  
thị trấn Quốc Oai, với giá đất trung bình là 13,54  
triệu đồng/m2, giá cao nhất dao động từ 27 - 28  
triệu đồng/m2 thuộc khu vực trung tâm thị trấn.  
Các thửa đất nằm trong các làng mức giá chỉ từ  
7 triệu đồng/m2.  
R2 adjusted  
0,8115  
Để đánh giá hiệu suất của mô hình GWR,  
chỉ số R2 hiệu chỉnh được sử dụng. R2 đại diện  
cho hệ số xác định và đo lường mức độ phù hợp  
của dữ liệu, giá trị R2 có giá trị nằm trong khoảng  
[0;1] [37]. Giá trị R2 hiệu chỉnh là 0,8115 cho  
thấy 81,15%, giá đất được tại thị trấn Quốc Oai  
được giải thích bởi các biến trong mô hình. Hệ  
số phần dư là 0,01 gần với giá trị 0, có nghĩa sự  
khác biệt giữa giá trị quan sát và giá ước tính là  
rất ít. Kết quả thể hiện mô hình phù hợp với tập  
dữ liệu nghiên cứu. Như vậy, mô hình giá đất ở  
đô thị tại thị trấn Quốc Oai được xác định bởi  
công thức:  
푃 = 6,06 + 20,74. 푉푖푡푟푖 + 14,08. 퐶푎푏푖푒푡 + 0,01  
Kết quả hồi quy 훽 cho thấy, khi giá trị chỉ số  
vị trí tăng lên 0,1 đơn vị giá đất ở đô thị tại thị  
trấn Quốc Oai tăng 2,074 triệu đồng/m2 và ngược  
lại. Khi giá trị chỉ số Cá biệt tăng 0,1 đơn vị, giá  
đất ở đô thị tại thị trấn Quốc Oai tăng 1,408 triệu  
đồng/m2. Theo kết quả hệ số hồi quy, nhân tố vị  
trí (훽 = 20,74) là nhân tố có mức độ ảnh hưởng  
rất cao đến giá đất ở đô thị ở thị trấn Quốc Oai,  
nhân tố cá biệt có hệ số 훽 =14,08. So sánh tỉ lệ  
ảnh hưởng của hai nhân tố này đến giá đất với  
trọng số xác định bằng phương pháp phân tích  
4.3. Đánh giá độ tin cậy của kết quả  
Để so sánh mức độ phù hợp của chỉ số ảnh  
hưởng của các yếu tố đến giá đất của khu vực thị  
trấn Quốc Oai. Tác giả lựa chọn phương pháp  
hồi quy trọng số địa lý (Geographically  
Weighted Regression) để đối sánh với kết quả  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
55  
thứ bậc (AHP), kết quả cho thấy sự chênh lệch  
không đáng kể khi xác định bởi hai phương pháp.  
giá đất ở đô thị là nhân tố vị trí (0,41) và nhân tố  
cá biệt (0,27). Ngoài ra, phương pháp phân tích  
đa chỉ tiêu AHP được sử dụng nhằm xác định  
trọng số của các chỉ tiêu thành phần trong các  
nhóm nhân tố. Trọng số của các yếu tố này được  
đưa vào quá trình xây dựng chỉ số ảnh hưởng của  
các yếu tố đến giá đất, phục vụ công tác định giá  
đất hàng loạt. Kết quả kiểm định thể hiện giá đất  
xác định bằng chỉ số ảnh hưởng có sự chênh lệch  
ít so với phương pháp GWR, với 89,01% chênh  
lệch dưới 2,5 triệu đồng/m2.  
Sử dụng kết quả mô hình hồi quy trọng số  
địa lý để định giá đất cho khu vực thị trấn Quốc  
Oai, kết quả thu được giá đất thị trường của từng  
thửa đất. So sánh mức độ chênh lệnh về giá đất  
thực hiện bằng phương pháp sử dụng chỉ số ảnh  
hưởng của yếu tố và phương pháp GWR, có thể  
thấy rằng, kết quả của hai phương pháp khá tốt,  
mức độ chênh lệch không nhiều. Giá trị độ lệch  
trung bình là 0,004 triệu đồng/m2, độ lệch chuẩn  
là 1,64 triệu đồng/m2. Trong đó số thửa có mức  
chênh lệch nhỏ hơn 1,64 triệu đồng/m2 chiếm  
72,5%, số thửa có mức chênh lệch nhỏ hơn 2,5  
triệu đồng/m2 chiếm tỉ lệ 89,01% tổng số thửa  
được định giá.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Nzau, Modelling of influecen of urban sub-centres  
on spatial and temporal urban land value pattern,  
Case study of Nairobi, Kenya, Enschede, The  
Netherlands: International Institute for Aerial  
Survey and Earth Sciences (ITC), 2003.  
[2] D.Demetris, The assessment of land valuation in  
land consolidation schemes: The need for a new  
land valuation framework, Land Use Policy 54  
2016.03.008.  
[3] G.Noelia, M.Gámez, E.Alfaro, ANN+ GIS: An  
automated system for property valuation,  
Neurocomputing 71 (2008) 733-742. https://  
doi.org/10.1016/j.neucom.2007.07.031.  
[4] X.Zhao, Q.Li, Integrating the empirical models of  
benchmark land price and GIS technology for  
sustainability analysis of urban residential  
development, Habitat International 44 (2014) 79-92.  
Hình 3. Biểu đồ phân bố chênh lệch giá đất  
của hai phương pháp.  
[5] L.K. Ninh, Factors affecting the price of peri-  
urban land in the Mekong Delta, Journal of Asian  
Business and Economic Studies 254 (2011) 11-17  
(in Vietnamese).  
5. Kết luận  
[6] N.Q.Hoa, N.H. Duong, Building a model of mass  
land valuation for Go Vap district, Ho Chi Minh  
City, Journal of Asian Business and Economic  
Studies 26(3) (2016) 82-103 (in Vietnamese).  
Từ dữ liệu điều tra khảo sát thực địa về các  
yếu tố ảnh hưởng đến giá đất tại khu vực nghiên  
cứu, phương pháp phân tích nhân tố khám phá  
(EFA) và hệ thống thông tin địa lý (GIS) có khả  
năng đánh giá thang đo và phân nhóm các nhân  
tố ảnh hưởng đến giá đất. Qua kết quả phân tích  
nhân tố khám phá về các yếu tố ảnh hưởng đến  
giá đất tại thị trấn Quốc Oai, 5 nhóm nhân tố có  
ảnh hưởng đến giá đất bao gồm: vị trí, chính  
sách, cá biệt, khu vực, môi trường. Trong đó, 2  
nhân tố được đánh giá quan trọng nhất đối với  
[7] F.L. Paulo, P. Belfiore, Principal Component  
Factor Analysis, Multivariate Exploratory Data  
Analysis, Elsevier Inc., 2019, pp.383-438.  
[8] J.B. Nichols., S.D. Oliner, M.R. Mulhall, Swings  
in commercial and residential land prices in the  
United States, Journal of Urban Economics 73(1)  
06.004.  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
56  
[9] V.Willy, Land value and price of land, Land use,  
2018.09.008.  
land cover and soil sciences 3, UNESCO-EOLSS,  
2005.  
[20] H.V. Dung, Identify factors that affect real estate  
prices, Journal of Finance 11 (2016) 54-57 (in  
Vietnamese).  
[10] G. George, P. Tatian, K. Pettit, Supportive  
Housing and Neighborhood Property Value  
Externalities, Land Economics 80 (2004) 33-54.  
[21] H. Shougeng, S. Yang, W. Li, C. Zhang, F. Xu,  
Spatially non-stationary relationships between  
urban residential land price and impact factors in  
Wuhan city, China, Applied Geography 68 (2016)  
006.  
[11] K. Nasr, B.A. Portnov, Economic, demographic  
and environmental factors affecting urban land  
prices in the Arab sector in Israel, Land Use Policy  
2015. 08.031.  
[22] J. Hair, W.C. Black, B.J. Babin, R.E. Anderson,  
Multivariate Data Analysis, Pearson, 2009.  
[12] M. Jafar, R. Samadi, A. Hosseini, Evaluating and  
analysis of socio-economic variables on land and  
housing prices in Mashhad, Iran, Sustainable  
Cities and Society 41 (2018) 695-705. https://  
doi.org/10.1016/j.scs.2018.06. 022.  
[23] B. Shenavr, S.M. Hosseini, Comparison of multi-  
criteria evaluation (AHP and WLC approaches)  
for Land capability assesment of Urban  
development in GIS, International Journal of  
geomatics and geosciences 4 (2014) 435-446.  
[13] N. Hiroki, Relationship among land price,  
entrepreneurship, the environment, economics,  
and social factors in the value assessment of  
Japanese cities, Journal of Cleaner Production 217  
2019.01.201.  
[24] P.S. Liem, T.V. Tuan, Building Land Price Zone  
in Rural Areas: A Case Study of Duong Quang  
Commune, Gia Lam District, Hanoi City, Vietnam  
Journal Agriculture Science 16 (2018) 601-612 (in  
Vietnamese).  
[14] WHO, Burden of Disease From Environmental  
Noise The World Health Organization, 2011.  
[25] C.R. Bollinger, K.R. Ihlanfeldt, D.R. Bowes,  
Spatial Variation in Office Rents within the  
Atlanta Region, Urban Studies 35 (1998) 1097-  
[15] B. Nir, D. Lavee, The Benefits and Costs of Noise  
Reduction, Journal of Environmental Planning  
org/10.1080/713676703.  
[26] B. Rabia, A.C. Aydinoglu, Providing land value  
information from geographic data infrastructure  
by using fuzzy logic analysis approach, Land Use  
j.landusepol.2017.07. 029.  
[16] K.K. Sik, S.J. Park, Y.J. Kweon, Highway traffic  
noise effects on land price in an urban area,  
Transportation Research Part D: Transport and  
org/10.1016/j.trd.2007.03.002.  
[27] O. Evren, V. Dokmeci, G. Kiroglu, G. Egdemir,  
Spatial Analysis of Residential Prices in Istanbul,  
European Planning Studies, 15 (5) (2007) 707-721.  
[17] M.D. Carlos, Does noise have a stationary impact  
on residential values?, Journal of European Real  
org/10.1108/1753926091099 9992.  
[28] N.D. Tho, N.T.M. Trang, Researching Marketing  
Sciences - Applying SEM linear structure model  
in business administration, Publisher of National  
University of Ho Chi Minh City, 2007 (in  
Vietnamese).  
[18] D.M. Faris, Estimating land value uplift around  
light rail transit stations in Greater Kuala Lumpur:  
An empirical study based on geographically  
weighted regression (GWR), Research in  
Transportation Economics 74 (2019) 10-20.  
[29] J. Nunnally, Psychometric Theory, New York :  
McGraw-Hill, US, 1994.  
[30] H. Trong, C.N.M. Ngoc, Analyze research data  
with SPSS, Hong Duc Publishing House, 2008 (in  
Vietnamese).  
[19] M. Sathita, A. Fukuda, V. ichiensan, V.  
Wasuntarasook (2018), Hedonic pricing model of  
assessed and market land values: A case study in  
Bangkok metropolitan area, Thailand, Case  
Studies on Transport Policy, Available online 21  
[31] A.F.M. Alkarkhi, W.A.A. Alqaraghuli, Factor  
Analysis, Easy Statistics for Food Science with R,  
143-159, Elsevier, 2019.  
D.Q. Cuong, T.Q. Binh / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 36, No. 2 (2020) 45-57  
57  
[32] J.B. David, M. Knott, I. Moustaki, Latent Variable  
Models and Factor Analysis: A Unified Approach,  
Wiley, UK, 2011.  
ward, Hai Ba Trung district, Hanoi city), Project  
VNU - QG.08.14, 2010 (in Vietnamese).  
[36] L. Binbin, M. Charlton, A.S. Fotheringhama,  
Geographically Weighted Regression Using a  
Non-Euclidean Distance Metric with a Study on  
London House Price Data, Procedia Environmental  
j.proenv. 2011.07.017.  
[33] S. Thomas, The analytic hierarchy process,  
MCGraw-Hill, New York, 1980.  
[34] S. Thomas, The analytic hierarchy process- What  
it is and how it is used, Mathl Modelling 9 (1987)  
161-176. https://doi.org/10.1016/0270-0255(87)  
90473-8.  
[37] A.S. Fotheringham, C. Brunsdon, M. Charlton,  
Geographically Weighted Regression-The Analysis  
of Spatially Varying Relationships, Wiley,  
University of Newcastle, UK, 2002.  
[35] T.Q. Binh, L.P. Thuy, Đ.T.M. Tam, Researching  
to build grassroots land information system  
software in urban areas (case study of Nguyen Du  
pdf 13 trang yennguyen 9900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích thứ bậc (AHP) trong định giá đất ở đô thị trên địa bàn thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_phuong_phap_phan_tich_nhan_to_kham_pha_efa_va_phan.pdf