Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong du lịch và tác động của nó đến thái độ của du khách

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP TRONG DU LỊCH VÀ TÁC ĐỘNG  
CỦA NÓ ĐẾN THÁI ĐỘ CỦA DU KHÁCH  
Nguyễn Thúy Vy  
Trường Đại học Văn Hiến  
Ngày nhận bài: 30/03/2019, Ngày duyệt đăng: 07/09/2019  
Tóm tắt  
Trong những năm gần đây, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang thu hút được sự  
chú ý của nhiều nhà quản lý doanh nghiệp cũng như nhà nghiên cứu tại Việt Nam. Đặc  
biệt, Việt Nam đang tập trung phát triển ngành du lịch có trách nhiệm, du khách ngày  
càng đòi hỏi cao hơn ở doanh nghiệp sự đóng góp cho xã hội, cộng đồng. Mục tiêu của  
nghiên cứu này là xem xét tác động của cảm nhận về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của  
du khách đến sự hài lòng và thái độ của họ đối với các doanh nghiệp trong ngành du lịch.  
Dữ liệu thu thập từ 300 du khách mua dịch vụ của các công ty du lịch trên địa bàn Tp. Hồ  
Chí Minh được sử dụng để kiểm định mô hình hồi quy. Kết quả cho thấy cảm nhận về  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của du khách ảnh hưởng gián tiếp đến thái độ của họ  
đối với doanh nghiệp thông qua sự hài lòng và danh tiếng.  
Từ khóa: du lịch có trách nhiệm, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nhận thức về  
trách nhiệm xã hội, danh tiếng của doanh nghiệp.  
Corporate social responsibility in tourism and its impact on visitors’ attitude  
Abstract  
Corporate social responsibility has attracted the attention of many Vietnamese  
practitioners as well as researchers in recent years. In particular, Vietnam is currently  
focusing on developing a responsible tourism industry, which is increasingly demanding  
for businesses to contribute to society and community. The purpose of this study is to  
examine the impact of visitors' perceived corporate social responsibility on their  
satisfaction and attitude towards businesses in the tourism industry. Data collected from  
300 visitors buying the services of travel companies in Ho Chi Minh City is used to verify  
regression models. The results show that visitors' perceived corporate social  
responsibility indirectly affects attitude towards corporate through customers’ satisfaction  
and corporate reputation.  
Keywords: responsible tourism, corporate social responsibility, perceived corporate  
social responsibility, corporate reputation.  
1. Đặt vấn đề  
Phát triển du lịch có trách nhiệm sẽ  
tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển  
toàn diện của ngành du lịch trong tương  
lai. Trong phát triển du lịch có trách  
nhiệm, các doanh nghiệp du lịch đóng vai  
48  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
trò bản lề bởi các doanh nghiệp nằm ở vị  
trí trung tâm kết nối các bên trong hoạt  
động du lịch. Bên cạnh đó, một trong  
những động lực thúc đẩy doanh nghiệp  
thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã  
hội là khách hàng. Khách du lịch có ý  
thức, có trách nhiệm môi trường, xã hội  
cao cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có  
những sản phẩm và dịch vụ du lịch có  
trách nhiệm. Sự tương tác trong hoạt động  
du lịch giữa khách du lịch, cộng đồng địa  
phương, các cơ quan quản lý, các doanh  
nghiệp trở thành những “lực kéo”, “lực  
đẩy” để các doanh nghiệp thực hiện du  
lịch có trách nhiệm.  
Nhắc đến vai trò và nhiệm vụ của một  
doanh nghiệp, khái niệm Trách nhiệm xã  
hội doanh nghiệp (Corporate Social  
Responsibility, sau đây gọi tắt là CSR)  
hiện đang là mối quan tâm của các doanh  
nghiệp và toàn xã hội. CSR được nhận  
định là một trong những yếu tố quyết định  
hành vi của người tiêu dùng. Người tiêu  
dùng ngày nay – có nền giáo dục tốt hơn  
và hiểu biết hơn – muốn các doanh nghiệp  
phải thông tin cho họ về rất nhiều khía  
cạnh khác nhau của hoạt động kinh doanh,  
đặc biệt là các hoạt động CSR. Do đó, nhu  
cầu thực hiện chiến lược CSR trước hết  
xuất phát từ sức ép của môi trường bên  
ngoài ngày càng nhiều và cũng chính từ sự  
thay đổi nhận thức và hành động của  
doanh nghiệp (O’Brien, 2001).  
CSR (Carroll, 1991), tìm hiểu các yếu tố  
tác động tới CSR (Freeman, 2010;  
McWilliams và cộng sự, 2006), các tác  
động của CSR đến doanh nghiệp và các  
bên liên quan (Weber, 2008; Lee và Heo,  
2009) và các nghiên cứu này được thực  
hiện trong nhiều ngành và ở nhiều quốc  
gia. Tuy nhiên, do được thực hiện ở nhiều  
ngữ cảnh khác nhau nên chưa có sự thống  
nhất trong kết quả nghiên cứu.  
CSR đang là lĩnh vực nghiên cứu  
được quan tâm tại Việt Nam. Đã có một số  
nghiên cứu mang tính tổng hợp lý luận  
(Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức,  
2008; Trần Quốc Trung và Nguyễn Đoàn  
Châu Trinh, 2012; Lê Phước Hương và  
Lưu Tiến Thuận, 2017); một số nghiên  
cứu thì chỉ dừng lại ở thống kê mô tả,  
đánh giá thực trạng tại địa phương hoặc  
doanh nghiệp (Bui, 2010; Nguyễn Phương  
Mai, 2012; Trần Thị Minh Hòa và Nguyễn  
Thị Hồng Ngọc, 2014); một số nghiên cứu  
về các yếu tố và giải pháp thúc đẩy các  
hoạt động CSR tại doanh nghiệp như  
nghiên cứu của Nguyễn Thị Lành và Phạm  
Thị Ngọc Trâm (2016). Nghiên cứu tập  
trung về CSR theo định hướng khách hàng  
(CSR Customer – driven) cần được quan  
tâm hơn để hiểu sâu hơn về ảnh hưởng của  
CSR đến phản ứng của khách hàng. Mục  
đích của nghiên cứu này là cho các nhà  
quản trị thấy được tầm quan trọng của  
CSR đến việc đáp ứng mong đợi của  
khách hàng. Vì vậy, mục tiêu của nghiên  
cứu là: (1) đánh giá mức độ nhận thức của  
du khách đối với hoạt động CSR của  
doanh nghiệp du lịch, (2) tìm hiểu sự ảnh  
hưởng của cảm nhận của du khách về CSR  
đến sự hài lòng và thái độ của họ đối với  
doanh nghiệp.  
Khái niệm về trách nhiệm xã hội đã  
được các học giả phương Tây nghiên cứu  
từ khá sớm và tiếp tục có nhiều nghiên cứu  
trong những năm gần đây. Khi nghiên cứu  
về chủ đề CSR, các học giả có nhiều  
hướng nghiên cứu khác nhau như: làm  
sáng rõ khái niệm của CSR (Carroll,  
1979), làm rõ các yếu tố cấu thành  
2. Cơ sởlý thuyếtvà mô hình nghiên cứu  
49  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
2.1. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp  
Khái niệm CSR được hình thành và  
phát triển qua nhiều thập niên, bắt đầu từ  
những năm 1930. Thời đại của CSR được  
đánh dấu bởi Bowen, khi ông xuất bản  
cuốn “Social Responsibilities of the  
Businessman”. Bowen (1953) định nghĩa:  
“CSR là nghĩa vụ của người làm kinh  
doanh trong việc đề xuất và thực thi các  
chính sách không làm tổn hại đến quyền và  
lợi ích của người khác”.  
Sau những năm 1950, các tài liệu về  
CSR đã được bổ sung thêm bởi nhiều  
nghiên cứu trong cả lý thuyết lẫn ứng  
dụng. Theo Lưu Phước Hưng và Lưu Tiến  
Thuận (2017), định nghĩa của Carroll  
(1979, 1991) về trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp được nhiều nghiên cứu lựa  
chọn. Theo đó, “Trách nhiệm xã hội là tất  
cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và  
lòng từ thiện của một tổ chức mà xã hội  
mong đợi trong mỗi thời điểm nhất định”.  
Theo Carroll (1991), bốn loại trách nhiệm  
xã hội tạo nên CSR bao gồm: trách nhiệm  
kinh tế (economic responsibilities), pháp  
lý (legal responsibilities), đạo đức (ethical  
responsibilities) và từ thiện (philanthropic  
responsibilities). Bốn loại trách nhiệm  
này, nói cách khác là bốn thành phần tạo  
nên CSR (Lê Phước Hưng và Lưu Tiến  
Thuận, 2017).  
CSR được nghiên cứu với nhiều định  
nghĩa và thuật ngữ tồn tại trong lý với  
nhiều thành phần khác nhau tùy theo từng  
lĩnh vực. Ủy ban Châu Âu định nghĩa:  
“CSR là một khái niệm bao gồm ba khía  
cạnh: cân nhắc về kinh tế, xã hội và môi  
trường”. Định nghĩa này lấy các thành  
phần của CSR từ khung phát triển du lịch  
bền vững và được nhiều nghiên cứu sử  
dụng (Van Marrewijk, 2003; Fatma và  
cộng sự, 2016). Trong ngành du lịch, khái  
niệm về CSR phù hợp với các nguyên tắc  
phát triển du lịch bền vững và cả hai đôi  
khi được sử dụng thay thế cho nhau  
(Chow và Chen, 2012). Ở cấp độ vĩ mô,  
khái niệm phát triển du lịch bền vững đòi  
hỏi sự kết hợp giữa ba yếu tố là: phát triển  
kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi  
trường (Drexhage và Murphhy, 2010).  
Hoạt động CSR trong ngành du lịch cũng  
gắn với việc sử dụng hợp lý tài nguyên xã  
hội và môi trường, đặc biệt là nỗ lực tăng  
cường hỗ trợ cộng đồng địa phương đạt  
được sự phát triển bền vững (Moneva và  
cộng sự, 2006). Nói cách khác, một doanh  
nghiệp du lịch thực hiện CSR nên: (1) tạo  
ra hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp –  
khách hàng – cộng đồng, tạo thu nhập và  
phát triển lao động; (2) tôn trọng và phát  
triển văn hóa, xã hội địa phương; (3) thân  
thiện với môi trường. Vì vậy, nghiên cứu  
này sử dụng định nghĩa của Ủy ban Châu  
Âu để phân tích cảm nhận của du khách về  
CSR theo các khía cạnh kinh tế, xã hội và  
môi trường.  
Nhìn chung, CSR là sự cam kết của  
doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển  
kinh tế bền vững, thông qua những hoạt  
động nhằm nâng cao chất lượng đời sống  
của người lao động và các thành viên gia  
đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội,  
theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng  
như sự phát triển chung của xã hội.  
Một số nghiên cứu trong ngành du lịch  
đã chỉ ra rằng các công ty thực hiện các  
hoạt động CSR do áp lực của các bên liên  
quan (Alvarado-Herrera và cộng sự, 2015).  
Các bên liên quan bao gồm các nhà điều  
hành tour du lịch, cơ sở lưu trú, ẩm thực,  
2.2. Trách nhiệm xã hội doanh  
nghiệp trong ngành du lịch  
50  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, tổ  
chức phi chính phủ, chính phủ,… Trong số  
này, nhóm có ảnh hưởng nhất để gây áp  
lực cho các doanh nghiệp du lịch thực hiện  
các hành động và quy tắc đạo đức hơn là  
của người tiêu dùng (Ayuso, 2006).  
hoá và dịch vụ của khách hàng qua thời  
gian (Anderson và cộng sự, 2004; Fornell,  
1992). Một số nghiên cứu chứng minh  
được sự ảnh hưởng của CSR tới sự hài  
lòng của khách hàng (Fatma và cộng sự,  
2016; Luo và Bhattacharya, 2006). Bên  
cạnh đó, các nghiên cứu khác trong ngành  
du lịch cho thấy tác động gián tiếp của  
nhận thức CSR đến thái độ và hành vi của  
khách hàng thông qua sự hài lòng (Rivera  
và cộng sự, 2016; Martínez và Bosque,  
2013; Lee và Heo, 2009). Từ những lập  
luận trên, giả thuyết được đưa ra như sau:  
H1: Cảm nhận của khách hàng về  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tác động  
thuận chiều tới sự hài lòng của khách  
hàng.  
2.3. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu  
Theo kết quả của nhiều nghiên cứu,  
CSR mang lại tác động đáng kể đối với  
nhiều mặt trong hoạt động của một doanh  
nghiệp. Việc thực hiện tốt CSR có tác  
động tích cực đến thành tích về tài chính,  
giúp gia tăng danh tiếng, giúp doanh  
nghiệp có khả năng thu hút được sự chú ý  
của người tiêu dùng. Cụ thể, người tiêu  
dùng đánh giá việc thực hiện tốt CSR là  
yếu tố đóng vai trò quan trọng thứ nhì (chỉ  
sau chất lượng sản phẩm) trong việc tạo ra  
danh tiếng tốt cho một doanh nghiệp nào  
đó, hay nói cách khác, thực hiện tốt CSR  
mang lại hình ảnh tốt hơn cho doanh  
nghiệp trong mắt người tiêu dùng (Vitezic,  
2011). Khuynh hướng chung từ kết quả  
của các nghiên cứu đã thực hiện cho thấy  
CSR có tác động đáng kể theo hướng tích  
cực đối với các hoạt động kể trên của  
doanh nghiệp. Các nghiên cứu hiện đang  
tập trung vào các hoạt động CSR ảnh  
hưởng đến hành vi của người tiêu dùng  
như thế nào và tại sao. Một số nghiên cứu  
còn khám phá một số biến trung gian cho  
mối quan hệ này, bao gồm cả các biến liên  
quan đến doanh nghiệp (chẳng hạn như  
chất lượng sản phẩm, các thành phần của  
CSR, danh tiếng của doanh nghiệp) và các  
biến liên quan đến cá nhân (chẳng hạn như  
sự hài lòng, thái độ, hành vi của khách  
hàng).  
H2: Sự hài lòng của khách hàng có  
tác động thuận chiều tới thái độ của khách  
hàng.  
Danh tiếng của công ty, theo Gotsi và  
Wilson (2001), đó là sự đánh giá chung  
của các bên liên quan (stakeholder) về  
công ty. Trong mối liên hệ giữa CSR và  
danh tiếng của công ty, McWilliams và  
cộng sự (2006) chỉ ra rằng “CSR nên được  
xem như là một hình thức đầu tư chiến  
lược” mà “có thể được xem như là một  
dạng của xây dựng hoặc duy trì danh  
tiếng”. Stanaland và cộng sự (2011) cho  
rằng nhận thức về CSR ảnh hưởng đến  
nhận thức về uy tín doanh nghiệp, niềm tin  
của người tiêu dùng. Garberg và Fombrun  
(2006) đề xuất nên tăng cường danh tiếng  
của công ty như là một động lực thúc đẩy  
từ bên ngoài đối với công ty thông qua  
việc thực hiện các hoạt động CSR. Bên  
cạnh đó, nghiên cứu của Bontis và cộng sự  
(2007) về khách hàng của ngành ngân  
hàng ở Bắc Mỹ cho thấy danh tiếng có tác  
động trực tiếp, thuận chiều tới thái độ của  
Sự hài lòng của khách hàng (customer  
satisfaction) là đánh giá tổng thể dựa trên  
kinh nghiệm mua hàng và tiêu dùng hàng  
51  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
khách hàng. Do đó, giả thuyết về mối quan  
hệ giữa cảm nhận CSR, danh tiếng của  
doanh nghiệp và thái độ của khách hàng  
đối với doanh nghiệp là:  
H3: Cảm nhận của khách hàng về trách  
nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác động  
thuận chiều tới danh tiếng của công ty.  
H4: Danh tiếng của công ty có tác  
động thuận chiều tới thái độ của khách  
hàng.  
Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện  
ra rằng sự tiếp xúc của người tiêu dùng với  
thông tin về các hoạt động CSR quyết định  
niềm tin và thái độ chung của họ đối với  
các sản phẩm và hoạt động của công ty  
(Wagner và cộng sự, 2009; Sen và cộng  
sự, 2006). Becker-Olsen và cộng sự (2006)  
cũng cho rằng nhận thức CSR giúp người  
tiêu dùng hiểu thêm về một doanh nghiệp  
và đánh giá cao các nỗ lực cải thiện xã hội  
của doanh nghiệp. Ngoài ra, Mohr và  
Webb (2005) đã chỉ ra rằng khi người tiêu  
dùng nhận được thông tin về các hoạt động  
trách nhiệm xã hội của một công ty mà anh  
ta tin tưởng, thông tin này ảnh hưởng đến  
cách họ đánh giá và nhìn nhận công ty như  
thế nào. Ta có giả thuyết:  
H5: Cảm nhận của khách hàng về  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tác động  
thuận chiều tới thái độ của khách hàng.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
điều tra, liên hệ trực tiếp tại công ty du lịch  
để tiếp xúc trực tiếp du khách (tại văn  
phòng công ty, tại điểm du lịch); (2) Hình  
thức phỏng vấn qua email. Số bảng câu hỏi  
phát ra là 400 và thu hồi được 325 (tỷ lệ  
thu hồi đạt 81,25%). Sau khi loại 25 bảng  
câu hỏi không hợp lệ, kích thước mẫu cuối  
cùng dùng để xử lý là 300. Nghiên cứu  
định lượng được sử dụng để phân tích dữ  
liệu khảo sát nhằm mục đích kiểm định mô  
hình nghiên cứu và các giả thuyết. Các  
công cụ định lượng được sử dụng trong bài  
nghiên cứu gồm phương pháp phân tích độ  
tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân  
tố khám phá (Exploratoty factor analysis -  
EFA) để kiểm định các thang đo và sàng  
lọc các biến quan sát và phân tích hồi quy  
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng  
phương pháp thảo luận tay đôi với 10  
người khách hàng của các công ty du lịch.  
Nghiên cứu chính thức khảo sát 400 khách  
hàng của các công ty du lịch tại địa bàn  
Tp. Hồ Chí Minh. Nhằm tạo điều kiện cho  
người trả lời hiểu đúng về khái niệm trách  
nhiệm xã hội doanh nghiệp, trong phần  
đầu của bảng câu hỏi đã định nghĩa trách  
nhiệm xã hội doanh nghiệp và mô tả chi  
tiết trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bằng  
một số thông tin thực tế. Bảng câu hỏi  
được phân phát ngẫu nhiên thông qua các  
hình thức email (50%), trực tiếp (50%): (1)  
Hình thức phỏng vấn trực tiếp: Cộng tác  
viên sau khi được hướng dẫn về cách thức  
52  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
để xem xét sự tác động của các yếu tố  
trong mô hình đến biến phụ thuộc.  
chỉnh bổ sung cho phù hợp với thị trường  
nghiên cứu; “danh tiếng của doanh  
nghiệp” dựa theo nghiên cứu của Chun  
(2005) gồm 4 quan sát. Biến phụ thuộc:  
“thái độ đối với doanh nghiệp” kế thừa  
nghiên cứu của Cronin và cộng sự (2000)  
gồm 4 biến quan sát.  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
4.1. Thông tin chung về mẫu điều tra  
Kích thước mẫu thực tế sử dụng để  
phân tích là 300 quan sát. Nghiên cứu lựa  
chọn ra các nhóm đối tượng khảo sát dựa  
trên các tiêu chí như giới tính, độ tuổi trình  
độ học vấn.  
Các thang đo sử dụng trong nghiên  
cứu này đều sử dụng từ các nghiên cứu  
trước đây. Các khái niệm nghiên cứu sử  
dụng thang đo Likert với điểm từ 1 (hoàn  
toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng  
ý). Thang đo của ba biến độc lập như sau:  
“Cảm nhận về CSR” gồm 7 quan sát được  
xây dựng dựa trên 3 thành phần: kinh tế,  
xã hội và môi trường, kế thừa từ nghiên  
cứu của Fatma và cộng sự (2016); “sự hài  
lòng” kế thừa từ nghiên cứu của Oliver  
(1980) gồm 5 biến quan sát được điều  
Bảng 1. Đặc điểm mẫu khảo sát  
Các đặc điểm cá nhân  
n = 300  
Tần số  
145  
155  
86  
%
Giới tính  
Nam  
48,4  
51,6  
28,6  
40,2  
21,0  
6,2  
Nữ  
Tuổi  
Dưới 21  
21-30  
121  
63  
31-40  
41-50  
19  
Trên 51  
12  
4,0  
Thu nhập  
< 3 triệu đồng/tháng  
3-5 triệu đồng/tháng  
5-10 triệu đồng/tháng  
>10triệu đồng/tháng  
37  
12,4  
41,6  
38,8  
7,2  
125  
116  
22  
Trình độ học vấn Trung học phổ thông  
Đại học/cao đẳng  
126  
136  
38  
41,9  
45,4  
12,7  
Sau đại học  
4.2. Kết quả kiểm tra độ tin cậy thang  
đo và phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Các thang đo khái niệm nghiên cứu  
trước tiên được đánh giá bằng độ tin cậy  
Cronbachalpha và tiếp tục được kiểm  
định thông qua phương pháp phân tích  
nhân tố khám phá EFA (Principal  
Components với phép quay Varimax).  
53  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Kết quả cho thấy Cronbach alpha của các  
thang đo đều đạt yêu cầu (α > 0,7). Kết  
quả EFA cho thấy 3 nhân tố trích giải  
thích được 59,58% phương sai các biến  
quan sát tại Eigen - value là 2,383. Kiểm  
tra hệ số tương quan giữa các khái niệm  
nghiên cứu cũng cho thấy chúng đều nhỏ  
hơn 1. Vì vậy, các thang đo đều đạt yêu  
cầu về giá trị hội tụ và phân biệt. (Xem  
Bảng 2).  
Bảng 2. Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy và mức độ phù hợp  
Tương quan biến  
Hệ số tải  
nhân tố  
Các thang đo  
- tổng  
Sự hài lòng (HL), Cronbach’s Alpha = 0.854  
Sản phẩm, dịch vụ của công ty đáp ứng chính xác những gì tôi  
muốn  
.685  
.800  
Tôi hài lòng về sp/dịch vụ của công ty  
.694  
.715  
.819  
.813  
Mức giá hợp lý với chất lượng dịch vụ tôi nhận được  
Khi tôi quyết định chọn sản phẩm/dịch vụ của công ty, đó là một ý  
tưởng tốt.  
.692  
.804  
Cảm nhận về CSR (CSR), Cronbach’s Alpha = 0.873  
Công ty thực hiện kinh doanh công bằng, giá sản phẩm/dịch vụ  
tương ứng với chất lượng sản phẩm  
.633  
.731  
Công ty tuân thủ nguyên tắc đạo đức tốt trong việc tiến hành kinh  
doanh  
.660  
.647  
.663  
.765  
.743  
.755  
Công ty có các chương trình đào tạo và phát triển cho nhân viên.  
Công ty tham gia các hoạt động xã hội như: nghệ thuật, sức khỏe  
và giáo dục…  
Công ty phát triển sản phẩm du lịch có chất lượng giúp phát triển  
và bảo tồn các điểm đến.  
.664  
.765  
Công ty quan tâm văn hóa địa phương sở tại, duy trì và khuyến  
khích sự đa dạng xã hội và văn hóa.  
.618  
.668  
.716  
.769  
Công ty tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên  
Danh tiếng của doanh nghiệp (DT), Cronbach’s Alpha = 0.816  
Công ty X là một công ty thành công  
.513  
.550  
.531  
.624  
.675  
.738  
.707  
.790  
Công ty X là công ty đáng tin cậy và chuyên nghiệp  
Công ty X là công ty có uy tín  
Công ty X là công ty có danh tiếng cao  
Thái độ của du khách (TD), Cronbach’s Alpha = 0.834  
Tôi có thiện cảm về công ty X  
.674  
.659  
.615  
.712  
.825  
.814  
.780  
.851  
Tôi cho rằng công ty X là một công ty tốt  
Tôi tin tưởng công ty X  
Nếu có nhu cầu du lịch, tôi sẽ chọn tour của công ty X  
54  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
4.3. Kiểm định giả thuyết  
quan hệ giữa “cảm nhận về CSR” và “sự  
hài lòng”. Kết quả của hồi quy bội ủng hộ  
giả thuyết này (β = 0,097; p < 0,1). Cảm  
nhận về CSR có quan hệ tích cực với danh  
tiếng của doanh nghiệp (β = 0,159; p <  
0,05), giả thuyết H2 được ủng hộ. Giả  
thuyết H3 phát biểu về sự hài lòng có ảnh  
hưởng tích cực đến thái độ đối với doanh  
nghiệp (β = 0,719; p < 0,05), theo kết quả  
của hồi quy bội thì giả thuyết H3 được ủng  
hộ. H4: Cảm nhận về CSR có quan hệ tích  
cực với thái độ đối với nhãn hàng riêng.  
Giả thuyết này không được ủng hộ (β = -  
0,21; p > 0,1).Và cuối cùng, H5: danh  
tiếng của doanh nghiệp ảnh hưởng tích cực  
đến thái độ đối với doanh nghiệp. Giả  
thuyết này được được ủng hộ (β = 0,113; p  
< 0,05).  
Biến tổng (tổng các biến quan sát đo  
lường các khái niệm nghiên cứu) được sử  
dụng trong xử lý mô hình hồi quy. Để  
xác định tầm quan trọng của từng biến  
độc lập vào biến phụ thuộc là thái độ đối  
với doanh nghiệp, mô hình hồi quy bội  
được sử dụng để kiểm định giả thuyết  
của mô hình.  
Theo kết quả hồi quy, hệ số phóng đại  
phương sai (VIF) của các biến đều nhỏ  
hơn 2. Độ chấp nhận của các biến  
(Tolerance) đều lớn hơn 0,1 nên không có  
hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra giữa các  
biến. Giá trị EFA có ý nghĩa, do đó mô  
hình hồi quy là phù hợp với tập dữ liệu.  
Kết quả của mô hình hồi quy (Bảng 3)  
cho thấy: Giả thuyết H1 phát biểu về mối  
Bảng 3. Bảng kết quả mô hình hồi quy  
Giả thuyết  
Beta chưa  
Beta  
Giá trị Giá trị VIF  
chuẩn hóa chuẩn hóa  
t
p
H1: Cảm nhận CSR -> Sự hài lòng  
H2: Cảm nhận CSR -> Danh tiếng DN  
H3: Sự hài lòng -> Thái độ  
0.085  
0.141  
0.865  
-0.022  
0.135  
0.097 1.677 0.095* 1.334  
0.159 2.772 0.006** 1.000  
0.719 18.199 0.000** 1.074  
H4: Cảm nhận CSR -> Thái độ  
H5: Danh tiếng DN -> Thái độ  
-0.21 -0.545  
0.586 1.057  
0.113 2.841 0.005** 1.030  
* có ý nghĩa thống kê ở mức 10%,** có ý nghĩa ở mức thống kê 1%  
4.4. Thảo luận và một số hàm ý quản lý  
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu khám  
này cho thấy nhận thức về CSR đóng vai  
trò quan trọng trong việc tạo dựng danh  
tiếng của doanh nghiệp và sự hài lòng của  
người tiêu dùng. Nhận thức thấp về các  
hoạt động CSR của người tiêu dùng sẽ dẫn  
đến hiệu quả thấp của các hoạt động CSR,  
ảnh hưởng danh tiếng doanh nghiệp trong  
nhận thức của khách hàng. Điều này đã  
khiến một số nhà nghiên cứu (ví dụ,  
phá sự tác động của biến “cảm nhận về  
CSR” của khách hàng đến sự hài lòng, thái  
độ của khách hàng đối với doanh  
nghiệp.Kết quả kiểm định cho thấy cảm  
nhận về CSR của du khách có tác động  
thuận chiều tới các yếu tố “sự hài lòng” và  
“danh tiếng của doanh nghiệp”. Kết quả  
55  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Maignan, 2001; Mohr và cộng sự, 2001)  
kêu gọi đánh giá cẩn thận về nhận thức về  
CSR của người tiêu dùng.  
việc trả thêm phí cho các hoạt động bảo  
tồn thiên nhiên.  
Hơn nữa, tất cả những người được hỏi  
bày tỏ mong muốn thông tin dễ tiếp cận  
hơn về hồ sơ trách nhiệm xã hội của các  
doanh nghiệp. Ví dụ, nhiều người được  
hỏi cho rằng rằng thật khó để tìm thấy  
thông tin về các hoạt động CSR của công  
ty. Nếu người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm  
hiểu chi tiết hơn về các nỗ lực CSR của  
công ty, họ có thể sẽ phát triển một cái  
nhìn tích cực hơn về công ty.Điều này  
nhắc nhở các nhà quản lý doanh nghiệp về  
tầm quan trọng của việc xây dựng “cảm  
nhận” khách hàng tốt hơn, không chỉ là  
việc “công ty làm gì”, “làm như thế nào”,  
mà phải đánh giá được xem khách hàng có  
cảm nhận được không, có đánh giá tốt  
không. Khi khách hàng cảm nhận tốt, thì  
công ty sẽ thu lại lợi ích là mối quan hệ  
tích cực giữa công ty và khách hàng. Vì  
vậy, công ty cần:  
- Tăng cường truyền thông, quảng bá  
các hoạt động CSR tới khách hàng thông  
qua các kênh truyền thông như truyền  
hình, internet (website của công ty), mạng  
xã hội... Nhằm nâng cao tỉ lệ nhận biết các  
hoạt động trách nhiệm xã hội cũng như  
cách thức thực hiện, để củng cố niềm tin  
của khách hàng, tăng cường danh tiếng.  
- Đa dạng và tăng cường các kênh  
truyền thông. Các kênh truyền thông mà  
khách hàng dễ dàng tiếp cận là internet,  
website của doanh nghiệp, truyền hình,  
truyền thanh. Đặc biệt, trong thời đại công  
nghệ số, các thông tin của doanh nghiệp dễ  
dàng được tiếp cận thông qua internet.  
Doanh nghiệp có thể cung cấp thông tin  
trên website doanh nghiệp, báo điện tử,  
facebook, diễn đàn,... để tiếp cận rộng rãi  
đến người tiêu dùng.  
Nghiên cứu này cũng cho thấy cảm  
nhận về CSR của du khách có tác động  
gián tiếp đến “thái độ” của họ đối với  
doanh nghiệp. Kết quả này phù hợp với kết  
quả của Tian (2011), Castaldo và cộng sự  
(2009). Nghiên cứu của Tian (2011) ở thị  
trường Trung Quốc cho thấy nhận thức về  
CSR có ảnh hưởng đáng kể đến phản ứng  
của người tiêu dùng và đánh giá về công ty  
nhưng không ảnh hưởng trực tiếp đến thái  
độ hay ý định mua hàng. Castaldo và cộng  
sự (2009) cũng cho rằng mối quan hệ giữa  
CSR và hành động/phản ứng người tiêu  
dùng không trực tiếp và rõ ràng, và CSR  
không phải là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp  
đến hành vi và thái độ của người tiêu dùng.  
Khi được hỏi mức độ quan trọng của  
các hoạt động CSR của doanh nghiệp du  
lịch, đa số du khách quan tâm nhất đến giá  
trị kinh tế mà doanh nghiệp mang lại cho  
bản thân, khi yêu cầu doanh nghiệp “kinh  
doanh công bằng, giá sản phẩm/dịch vụ  
tương ứng với chất lượng sản phẩm”. Sau  
đó, du khách mới chú ý đến các hoạt động  
khác liên quan đến cộng đồng địa phương  
(“phát triển sản phẩm du lịch có chất lượng  
giúp phát triển và bảo tồn các điểm đến”,  
“duy trì và khuyến khích sự đa dạng xã hội  
và văn hóa”) và môi trường (“tôn trọng và  
bảo vệ môi trường tự nhiên”). Nghiên cứu  
của Luu (2011) cũng có kết quả tương tự,  
một số lượng đáng kể du khách luôn khẳng  
định họ sẽ sẵn sàng trả tiền cho các sản  
phẩm du lịch bền vững. Nhưng thực tế cho  
thấy các quyết định của khách hàng  
thường bị chi phối bởi các tiêu chí khác và  
chủ yếu là do giá cả. Tuy nhiên, ở nhiều  
điểm đến, khách du lịch dễ dàng chấp nhận  
56  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
5. Kết luận  
thuộc như: ý định mua hàng, tài sản thương  
hiệu, lòng trung thành thương hiệu...  
Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm  
nhận về CSR của du khách có tác động  
thuận chiều đến các yếu tố “sự hài lòng”  
và “danh tiếng của doanh nghiệp”. Kết  
quả cũng cho thấy sự ảnh hưởng của các  
hoạt động của CSR đến thái độ của khách  
hàng dù thông qua hình thức gián tiếp. Du  
khách ngày nay không chỉ đánh giá doanh  
nghiệp dựa trên các lợi ích mang lại cho  
cá nhân họ như chất lượng phục vụ, sự hài  
lòng, giá cả, mà còn là các lợi ích mang lại  
cho cộng đồng, xã hội, mà cụ thể là các  
hoạt động CSR. Tuy nhiên, để khách hàng  
có thể đánh giá và công nhận các thành  
quả CSR của doanh nghiệp, các công ty du  
lịch cần có tăng cường truyền thông,  
quảng bá các hoạt động của mình trên các  
kênh mà du khách có thể dễ dàng tiếp cận  
và theo dõi.  
Nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên  
cứu mối quan hệ giữa cảm nhận về CSR và  
thái độ của khách hàng đối với các doanh  
nghiệp du lịch tại địa bàn Tp. Hồ Chí  
Minh. Do cỡ mẫu nghiên cứu còn hạn chế  
nên tính đại diện không cao. Nghiên cứu  
này cũng chỉ xem xét một vài yếu tố như:  
nhận thức về CSR, sự hài lòng, danh tiếng  
của doanh nghiệp ảnh hưởng đến thái độ  
của du khách đối với doanh nghiệp. Do đó,  
các nghiên cứu tiếp theo nên phát triển  
nghiên cứu trên quy mô rộng hơn cũng như  
số lượng mẫu nhiều hơn để có cơ sở phân  
loại và so sánh sự khác biệt trong thái độ  
đối với doanh nghiệp của du khách ở các  
khu vực địa lý khác nhau cũng như độ tuổi,  
giới tính và nghề nghiệp. Bên cạnh đó sẽ  
phát hiện thêm nhiều yếu tố khác liên quan  
đến hoạt động CSR của doanh nghiệp dưới  
góc độcủa khách hàng như: sự hiểu biết về  
CSR, lòng tin về CSR,... và các biến phụ  
Tài liệu tham khảo  
Alvarado-Herrera, A., Bigne, E., Aldas-  
Manzano, J. and Curras-Perez, R. (2017). A  
scale for measuring consumer perceptions  
of corporate social responsibility following  
the sustainable development paradigm.  
Journal of Business Ethics, 140 (2), pp. 1-  
20. DOI 10.1007/s10551-015-2654-9.  
Anderson, E. W., Fornell, C. and Mazvancheryl,  
S. K. (2004). Customer satisfaction and  
shareholder value. Journal of Marketing, 68  
(4), pp. 172-185.  
Ayuso, S. (2006). Adoption of voluntary  
environmental tools for sustainable  
tourism: analysing the experience of  
Spanish  
hotels.  
Corporate  
Social  
Responsibility  
and Environmental  
Management, 13 (4), pp. 207-220.  
Becker-Olsen, K. L., Cudmore, B. A. and Hill,  
R. P. (2006). The impact of perceived  
corporate social responsibility on  
consumer behavior. Journal of Business  
Research, 59 (1), pp. 46- 53.  
Bigné, E., Vila-López, N. and Küster-Boluda,  
I. (2000). Competitive positioning and  
market orientation: two interrelated  
constructs. European Journal of Innovation  
Management, 3 (4), pp. 190-198.  
Bontis, N., Booker, L. D. and Serenko, A. (2007).  
The mediating effect of organizational  
reputation on customer loyalty and  
service recommendation in the banking  
industry. Management decision, 45 (9), pp.  
1426-1445.  
Bowen, H. (1953). Social Responsibilities of  
the Businessman. Harper.  
Bui, T. L. H. (2010). The Vietnamese  
consumer perception on corporate social  
responsibility. Journal of International  
Business Research, 9, p. 75.  
Carroll, A. B. (1979). A three-dimensional  
57  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
conceptual model of corporate performance.  
Academy of Management Review, 4 (4), pp.  
497-505.  
Fatma, M., Rahman, Z. and Khan, I. (2016).  
Measuring consumer perception of CSR  
in tourism industry: Scale development  
and validation. Journal of Hospitality and  
Tourism Management, 27, pp. 39- 48.  
Carroll, A. B. (1991). The pyramid of  
corporate social responsibility: toward the  
moral management of organizational  
stakeholders. Business Horizons, 34 (4),  
pp. 39-48.  
Freeman, R. E. (2010). Strategic management:  
A
stakeholder approach. Cambridge  
University Press.  
Carroll, A. B. (1999). Corporate social  
responsibility evolution of a definitional  
construct. Business and Society, 38 (3),  
pp. 268-295.  
Galbreath, J. (2010). How does corporate social  
responsibility benefit firms? Evidence from  
Australia. European Business Review, 22  
(4), pp. 411- 431.  
Castaldo, S., Perrini, F., Misani, N. and  
Tencati, A. (2009). The missing link  
between corporate social responsibility  
and consumer trust: The case of fair  
trade products. Journal of Business  
Ethics, 84 (1), pp. 1-15.  
Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2008).  
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – một  
số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới  
trong quản lý nhà nước đối với trách  
nhiệm xã hội ở Việt Nam. Tạp chí Quản  
lý kinh tế, 23, tr. 3-11.  
Chow, W. S. and Chen, Y. (2012). Corporate  
sustainable development: Testing a new  
scale based on the mainland Chinese  
context. Journal of Business Ethics, 105  
(4), pp. 519-533.  
Gardberg, N. A. and Fombrun, C. J. (2006).  
Corporate citizenship: Creating intangible  
assets across institutional environments.Academy  
ofManagementReview, 31 (2), pp. 329-346.  
Gotsi, M. and Wilson, A. M. (2001). Corporate  
reputation: seeking a definition. Corporate  
communications: An international journal, 6  
(1), pp. 24-30.  
Han, H., Hsu, L. T. J. and Lee, J. S. (2009).  
Empirical investigation of the roles of  
attitudes toward green behaviors, overall  
image, gender, and age in hotel customers'  
eco-friendly decision-making process.  
International Journal of Hospitality  
Management, 28 (4), pp. 519-528.  
Henderson, J. C. (2007). Corporate social  
responsibility  
and  
tourism:  
hotel  
Chun, R. (2005). Corporate reputation:  
Meaning and measurement. International  
Journal of Management Reviews, 7 (2),  
pp. 91-109.  
companies in Phuket, Thailand, after the  
Indian Ocean tsunami. International  
Journal of Hospitality Management, 26  
(1), pp. 228- 239.  
Cronin, J. J., Brady, M. K. and Hult, G. T. M.  
(2000). Assessing the effects of quality,  
value, and customer satisfaction on  
consumer behavioral intentions in service  
environments. Journal of Retailing, 76  
(2), pp. 193- 218.  
Trần Thị Minh Hòa và Nguyễn Thị Hồng  
Ngọc (2014). Trách nhiệm xã hội trong  
kinh doanh khách sạn tại Việt Nam,  
Nghiên cứu trường hợp tại các khách sạn  
Sofitel Legend Metropole và Sofitel Plaza  
Hà Nội. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:  
Khoa học Xã hội và Nhân văn, 30 (4),  
tr. 1-11.  
Drexhage, J. and Murphy, D. (2010).  
Sustainable  
development:  
from  
Brundtland to Rio 2012. Background  
paper prepared for consideration by the  
High Level Panel on Global Sustainability  
at its first meeting 19 September 2010.  
Lê Phước Hưng và Lưu Tiến Thuận (2017).  
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp -  
Tổng kết một số chủ đề và đề xuất hướng  
nghiên cứu. Tạp chí Khoa học Trường  
58  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Đại học Cần Thơ, 50 (d), tr. 19 – 33.  
Nguyễn Thị Lành và Phạm Thị Ngọc Trâm  
(2016). Các nhân tố tác động đến việc  
thực hiện trách nhiệm xã hội của các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Tạp  
chí Khoa học Đại học Đà Lạt, 6 (1),  
tr. 119-128.  
Lee, S. and Heo, C. Y. (2009). Corporate  
social responsibility and customer  
satisfaction among US publicly traded  
hotels and restaurants. International  
Journal of Hospitality Management, 28  
(4), pp. 635-637.  
Luo, X. and Bhattacharya, C. B. (2006).  
Corporate social responsibility, customer  
satisfaction, and market value. Journal of  
Marketing, 70 (4), pp. 1-18.  
Luu, T. T. (2011). Corporate social responsibility  
and sustainable tourism. Business and  
Economic Research, 1(1), pp. 1-9.  
responsibility perception on consumer  
satisfaction with the brand. Spanish  
Journal of Marketing – ESIC, 20 (2), pp.  
104-114.  
Sen, S. and Bhattacharya, C. B. (2001). Does  
doing good always lead to doing better?  
Consumer reactions to corporate social  
responsibility. Journal of Marketing  
Research, 38 (2), pp. 225 – 243.  
Stanaland, A. J., Lwin, M. O. and Murphy, P.  
E. (2011). Consumer perceptions of the  
antecedents  
and  
consequences  
of  
corporate social responsibility. Journal of  
Business Ethics, 102 (1), pp. 47-55.  
Tian, Z., Wang, R. and Yang, W. (2011).  
Consumer responses to corporate social  
responsibility (CSR) in China. Journal of  
Business Ethics, 101 (2), pp. 197-212.  
Trần Quốc Trung và Nguyễn Đoàn Châu Trinh  
(2012). Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp  
tại Việt Nam và một số giải pháp. Tạp chí  
Kinh tế đối ngoại, 53, tr. 77-83.  
Van Marrewijk, M. (2003). Concepts and  
definitions of CSR and corporate sustainability:  
Between agency and communion. Journal of  
Business Ethics, 44 (2-3), pp. 95-105.  
Nguyễn Phương Mai (2013). Trách nhiệm xã  
hội của doanh nghiệp trong ngành dệt  
may Việt Nam Trường hợp Công ty Cổ  
phần May Đáp Cầu. Tạp chí Khoa học  
ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, 29  
(1), tr. 32-40.  
Martínez, P. and del Bosque, I. R. (2013). CSR  
and customer loyalty: The roles of trust,  
customer identification with the company  
and satisfaction. International Journal of  
Hospitality Management, 35, pp. 89-99.  
McWilliams, A., Siegel, D. S. and Wright, P.  
M. (2006). Corporate social responsibility:  
Wagner, T., Lutz, R. and Weitz, B. (2009).  
Corporate hypocrisy: Overcoming the  
threat of inconsistent corporate social  
responsibility perceptions. Journal of  
Marketing, 73 (6), p. 7791.  
Webb, D. J., Mohr, L. A. and Harris, K. E.  
(2008). A re-examination of social responsible  
consumption and its measurement. Journal of  
Business Research, 61 (2), pp. 91-98.  
Strategic  
implications. Journal  
of  
Management Studies, 43 (1), pp. 1-18.  
Moneva, J. M., Archel, P., and Correa, C.  
(2006). GRI and the camouflaging of  
corporate unsustainability. Accounting  
Forum, 30 (2), pp. 121-137.  
Weber, M. (2008). The business case for  
corporate social responsibility:  
A
company-level measurement approach for  
CSR. European Management Journal, 26  
(4), pp. 247-261.  
Oliver, R. L. (1980). A cognitive model of the  
antecedents  
satisfaction  
and  
consequences  
of  
of  
decisions. Journal  
Marketing Research, 17 (4), pp. 460-469.  
Rivera, J. J., Bigne, E. and Curras-Perez, R.  
(2016). Effects of corporate social  
59  
pdf 12 trang yennguyen 13720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong du lịch và tác động của nó đến thái độ của du khách", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_xa_hoi_doanh_nghiep_trong_du_lich_va_tac_dong_cu.pdf