Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu mối tương quan về sự tích lũy Cu, Pb, Cd trong trầm tích và một số loài động vật hai mảnh vỏ tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Công trình ñược hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM THỊ HỒNG HÀ  
PHẠM VĂN NGUYÊN  
Phản biện 1: TS Trương Văn Tấn  
Phản biện 2: TS Huỳnh Ngọc Thạch  
NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN VỀ  
SỰ TÍCH LŨY Cu, Pb, Cd TRONG TRẦM TÍCH VÀ  
MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT HAI MẢNH  
VỎ TẠI HUYỆN NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA  
Luận văn sẽ ñược bảo vệ trước Hội ñồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ Khoa học họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 26  
tháng 11 năm 2011  
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC  
Mã số: 60.42.60  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
-
-
Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
Đà Nẵng – Năm 2011  
3
4
- Đánh giá hàm lượng Cu, Pb, Cd trong Hàu và Xút phục vụ  
yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm trong nước và xuất khẩu.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn ñề tài  
Với sự phát triển công nghiệp và ñô thị ñã làm gia tăng chất  
ô nhiễm môi trường, ñặc biệt là tình trạng ô nhiễm KLN. Các KLN  
như: Cu, Pb, Cd, Hg, As… ñã làm ô nhiễm bầu không khí, ô nhiễm  
nguồn nước và ô nhiễm ñất ñai xung quanh chúng ta, thông qua thức  
ăn KLN xâm nhập vào cơ thể con người.  
Loài Hàu (Saccostrea cucullata Bonr., 1778) và Xút  
(Gafrarium pectinatum L., 1758).  
Kim loại nghiên cứu là Cu, Pb và Cd. Ở vùng ven biển của 3  
thôn Mỹ Giang, Ninh Tịnh thuộc xã Ninh Phước và thôn Ninh Thủy  
thuộc xã Ninh Thủy, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Nhằm khảo sát sự tích lũy KLN trong trầm tích và trong  
ñộng vật hai mảnh vỏ. Sử dụng loài Hàu (Saccostrea cucullata  
Bonr., 1778) và Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758) làm sinh vật  
chỉ thị ô nhiễm KLN. Chúng tôi chọn ñề tài “Nghiên cứu mối  
tương quan về sự tích lũy Cu, Pb, Cd trong trầm tích và một số  
loài ñộng vật hai mảnh vỏ tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa”.  
2. Tính cấp thiết của ñề tài  
- Tiến hành ñịnh loại mẫu ñộng vật hai mảnh vỏ  
- Xác ñịnh khối lượng, kích thước của loài ñộng vật hai mảnh  
vỏ bằng phương pháp cân ño thông thường.  
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài  
6.1. Ý nghĩa khoa học  
Hiện nay việc sử dụng KLN rất phổ biến, nguy cơ ô nhiễm  
KLN ngày càng tăng. Các KLN tích lũy trong ñất, nước, thông qua  
thức ăn vào cơ thể con người, gây nên nhiều bệnh hiểm nghèo.  
Do vậy, chúng tôi nhận thức việc nghiên cứu mối tương quan  
về sự tích lũy Cu, Pb, Cd trong trầm tích và một số loài ñộng vật hai  
mảnh vỏ tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa là thực sự cần thiết.  
Từ ñó khuyến cáo cho người dân có nên sử dụng hay không  
loài ñộng vật hai mảnh vỏ tại khu vực này.  
Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp những thông tin về  
hàm lượng KLN trong một số loài ñộng vật hai mảnh vỏ. Góp phần  
xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng ñộng vật hai mảnh vỏ làm  
sinh vật chỉ thị ô nhiễm KLN tại vùng ven biển, huyện Ninh Hòa,  
tỉnh Khánh Hòa.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
BiếtñượchàmlượngKLNtrongmộtsốloàiñộngvậthaimảnhvỏ.  
Từ ñó khuyến cáo cho người dân có nên sử dụng hay không  
loài ñộng vật hai mảnh vỏ tại khu vực nghiên cứu.  
Đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát hiện trạng ô nhiễm  
môi trường ở khu vực này.  
3. Mục ñích nghiên cứu  
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm Cu, Pb, Cd trong trầm tích ở  
các thôn Mỹ Giang, Ninh Tịnh xã Ninh Phước và thôn Ninh Thủy xã  
Ninh Thủy huyện Ninh Hòa - Khánh Hòa  
7. Cấu trúc luận văn  
- Đánh giá khả năng sử dụng loài ñộng vật hai mảnh vỏ chỉ  
thị ô nhiễm KLN cho môi trường.  
1. Chương 1: Tổng quan  
2. Chương 2: Đối tượng, ñịa ñiểm và phương pháp nghiên cứu  
3. Chương 3: Kết quả và bàn luận.  
5
6
một số KCN và các làng nghề tái chế kim loại.  
Chương 1  
TỔNG QUAN  
1.3. Nghiên cứu về sự tích lũy KLN trong ñộng vật hai mảnh vỏ  
trên Thế giới và ở Việt Nam  
1.1. Độc tính của Đồng, Chì và Cadmium  
1.1.1. Độc tính của Đồng  
1.3.1. Trên Thế giới  
Loài hai mảnh vỏ là một thành phần quan trọng của hệ sinh  
vật ñáy có ñời sống tĩnh, phân bố rộng, kích thước tương ñối lớn,  
việc lấy mẫu dễ dàng. Các KLN tích lũy trong bộ phận cơ thể ñược  
hấp thụ từ bùn ñáy, nước và thức ăn, nên chúng có thể phản ánh ñược  
mức ñộ và sự tác ñộng của ô nhiễm KLN ñến môi trường và hệ sinh  
thái. Sự tích lũy KLN trong loài hai mảnh vỏ là kết quả của sự tương  
tác giữa các nhân tố sinh học và môi trường (Vaughn, hakenkamp  
2001), sự tích lũy cao KLN là do nhiều yếu tố tác ñộng như: chúng  
có sinh khối lớn, cơ chế lấy thức ăn ñặc biệt, tốc ñộ hấp thụ cao hơn  
tốc ñộ ñào thải, ngoài ra còn phụ thuộc vào nhiệt ñộ, pH, ñộ mặn,  
giới tính và nồng ñộ chất ô nhiễm.  
1.1.2. Độc tính của Chì  
1.1.3. Độc tính của Cadmium  
1.2. Ô nhiễm KLN trên thế giới và ở Việt Nam  
1.2.1. Ô nhiễm KLN trên thế giới  
Nhiều kim loại nặng ñóng vai trò là những nguyên tố vi  
lượng cần thiết cho sinh vật và con người như Cu, Zn và Fe, nhưng  
khi nồng ñộ tăng cao vượt quá một ngưỡng an toàn thì chúng trở nên  
ñộc hại. Zn là nguyên tố vi lượng cần thiết ñể nâng cao chất lượng  
sản phẩm nhưng khi vượt quá 0,78% ñã gây ñộc.  
Tình trạng ô nhiễm KLN thường gặp ở các khu công nghiệp,  
các thành phố lớn và các khu vực khai thác khoáng sản, các lò luyện  
kim. Từ các nguồn phát thải các KLN ñi vào không khí, ñất, nước  
làm suy thoái và ô nhiễm môi trường, vào trong sinh vật và con  
người thông qua mắt xích thức ăn, gây ảnh hưởng ñến hệ sinh thái và  
sức khỏe con người.  
Hiện nay nhiều loài sinh vật ñược sử dụng làm chỉ thị sinh  
học môi trường ñể ñánh giá mức ñộ ô nhiễm, xác ñịnh nguồn ô  
nhiễm, ñịa ñiểm ô nhiễm và thời gian ô nhiễm. Đặc biệt là ñộng vật  
hai mảnh vỏ ñã ñược sử dụng rộng rãi ñể ñánh giá mức ñộ ô nhiễm  
KLN trong nước, trong ñất.  
1.2.2. Ô nhiễm KLN ở Việt Nam  
Việt Nam là một trong các nước ñang phát triển, nền công  
nghiệp Việt Nam thực sự hình thành từ khoảng những năm ñầu của  
thập kỷ 60. Những khu công nghiệp ñầu tiên của Việt Nam là khu  
công nghiệp Việt Trì, khu công nghiệp Thượng Đình ( Hà Nội) với  
quá trình công nghiệp hóa và hiện ñại hóa là tình trạng ô nhiễm môi  
trường gia tăng, ñặc biệt tại các trung tâm công nghiệp, các khu vực  
khai thác mỏ và các thành phố lớn.  
1.3.2. Ở Việt Nam  
Một vài ñề tài nghiên cứu trên ñộng vật hai mảnh vỏ như,  
nghêu, sò, vẹm, hàu, … là những sinh vật tích tụ của các tác giả như:  
Sự tích lũy Cu và Pb của loài Hến (Corbiculasp) vùng cửa  
sông thành phố Đà Nẵng nằm trong giới hạn cho phép. Hàm lượng  
Cd trong bùn tại khu vực sông Hàn 2,6±1,55 ppm cao hơn tại khu  
vực sông Cu Đê 1,41±0,75 ppm. Cả hai khu vực ñều ñã bị ô nhiễm  
Cd ở mức cao, vượt từ 2,01 ñến 3,80 lần tiêu chuẩn.  
Ô nhiễm KLN ở Việt Nam chưa xảy ra trên diện rộng tuy  
nhiên, ñã có hiện tượng ô nhiễm cục bộ ở một số khu vực ñặc biệt là  
Nghiên cứu của Đào Việt Hà ( 2002), hàm lượng KLN trong  
7
8
Vẹm xanh (Perma viridis) tại ñầm Nha Phu – Khánh Hòa là Cu: 0,54  
– 1,81 ppm, Pb: 0,14 – 1,13 ppm, Cd: 0,03 – 0,21 ppm (tính theo  
khối lượng tươi).  
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực ñịa  
Thu mẫu ñộng vật hai mảnh vỏ, thu mẫu trầm tích. Mẫu  
ñược lưu giữ và ñưa về phân tích ở phòng thí nghiệm Môi trường,  
Khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.  
Mỗi mẫu ñộng vật và mẫu trầm tích có nhãn ghi ñầy ñủ về thời gian,  
ñịa ñiểm và người thu mẫu.(theo Lê Đức).  
Tại Bình Thuận hàm lượng KLN trong nghêu lụa (paphia  
undulata) tương ñối thấp dao ñộng trong khoảng từ 22,5 – 48.5 µg/g  
khô ( 4,9 – 9,6 µg/g tươi). Đối với Zn từ 2,01- 11,0 µg/g khô, Cu: 1,0  
– 2,14 µg/g khô, Cd: 1,73 – 8,68 µg/g khô, Mn: 0,6 – 0,7 µg/g khô,  
Pb: 0,93 – 2,97 µg/g khô, As: 0,13 – 0,32 µg/g khô, Hg: 0,13 – 0,32  
µg/g khô, Cr: 0,44 – 1,60 µg/g khô, hàm lượng kim loại trong nghêu  
lụa không vượt quá hàm lượng tối ña cho phép ñối với thực phẩm  
biển của một số nước.  
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm  
- Mẫu ñộng vật ñược tiến hành ñịnh loại dựa vào tài liệu của  
Tucker Abbott and S. Peter Danca (1990)  
- Xác ñịnh khối lượng, kích thước của ñộng vật hai mảnh vỏ  
bằng phương pháp cân ño thông thường.  
- Xử lý trầm tích và mẫu ñộng vật : Mẫu ñược sấy khô,  
nghiền thành bột, rây, sau ñó cân chính xác một lượng mẫu 2 gam, vô  
cơ hóa bằng dung dịch HClO4 + HNO3 ñặc + H2O2.  
- Xác ñịnh hàm lượng Cu, Pb, Cd bằng phương pháp quang  
phổ hấp thụ nguyên tử AAS tại trung tâm khí tượng thủy văn khu vực  
II.  
1.4. Đặc ñiểm khu vực nghiên cứu  
Chương 2  
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của ñề tài là loài Hàu (Saccosstrea  
cucullata Born., 1778) và loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758),  
thuộc lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia), ngành thân mềm (Mollusca). Đây  
là hai loài xuất hiện khá nhiều và quanh năm tại khu vực này, là một  
trong các nguồn thực phẩm thường ngày của người dân ñịa phương.  
2.2. Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu  
2.3.3. Phương pháp phân tích số liệu  
Xử lý số liệu thống kê và vẽ biểu ñồ bằng phần mềm Exel,  
Oringin 6.0. So sánh các giá trị trung bình bằng phương pháp phân  
tích phương sai (ANOVA) và kiểm tra LSD với mức ý nghĩa α =  
0,05. Các giá trị trong phân tích tương quan ñược chuyển dạng theo  
công thức x’ = lg( x+10).  
2.2.1. Thời gian nghiên cứu  
Đề tài ñược thực hiện từ tháng 10 năm 2010 ñến tháng 06  
năm 2011.  
2.2.2. Địa ñiểm nghiên cứu  
Khu vực nghiên cứu, vùng ven biển của 3 thôn Mỹ Giang,  
Ninh Tịnh, thuộc xã Ninh Phước và thôn Ninh Thủy thuộc xã Ninh  
Thủy, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
9
10  
kết tủa lắng ñọng tích lũy trong trầm tích. Tại Ninh Tịnh hàm lượng  
Cu tích lũy trong trầm tích ñợt I là 4,23±0,55 mg/kg, ñợt II 3,25±0,16  
mg/kg, còn tại Ninh Thủy ñợt I là 4,43±0,23 mg/kg, ñợt II là  
3,49±0,21mg/kg. Ninh Tịnh và Ninh Thủy là 2 khu vực xa nguồn thải  
ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước thải từ các bãi hạt NIX, do ñó  
mức ñộ chênh lệch hàm lượng Cu trong trầm tích không lớn. Hạt  
NIX ñã qua sử dụng chứa rất nhiều KLN và chúng dễ bị hòa tan khi  
tiếp xúc với nước mưa nhất là Zn và Cu.  
Chương 3  
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  
3.1. Hàm lượng KLN Cu, Pb và Cd trong trầm tích  
Ở môi trường có ñộ pH thấp sự hòa tan và tính linh ñộng của  
các KLN tăng, dễ phát tán, ngược lại khi pH tăng cao, các KLN  
thường tồn tại dưới dạng hợp chất kết tủa, liên kết với các hạt keo,  
lắng ñọng tích lũy dần trong môi trường trầm tích theo thời gian [34].  
Để xác ñịnh hàm lượng KLN trong trầm tích tại khu vực  
nghiên cứu, ñề tài tiến hành xác ñịnh hàm lượng Cu, Pb và Cd trong  
trầm tích qua 2 ñợt thu mẫu ở 3 thôn Mỹ Giang, Ninh Tịnh, Ninh  
Thủy, kết quả ñược trình bày ở (Bảng 3.1).  
Nhưng so với TC ISQG (≤ 18,7 mg/kg), thì hàm lượng Cu tại các  
khu vực nghiên cứu nằm trong giới hạn cho phép. Như vậy trầm tích  
ở ñây chưa bị ô nhiểm Cu.  
Bảng 3.1. Hàm lượng Cu, Pb và Cd trong Trầm tích (mg/kg)  
So sánh kết quả nghiên cứu này với các nghiên cứu khác thì  
hàm lượng Cu tương ứng với một số khu vực: ñầm Nha Phu 3,6 – 9,8  
mg/kg (Lê Như Tồn), ñầm phá Tam Giang – Cầu Hai Thừa Thiên  
Huế: 2,00 – 26,10 mg/kg tb 16,12 mg/kg vào mùa mưa, 14,1 – 22,0  
mg/kg tb 15,6 mg/kg vào mùa khô (Nguyễn Minh Khởi) và trầm tích  
tại cửa sông Likas 76,9 ± 45,0mk/kg, cửa sông Kota Belud 77,6 ±4,5  
mg/kg, thìkếtquảnghiêncứucủañềtàicũngnằmtrongkhoảngdaoñộngnày.  
Khu vực  
Đợt  
Các kim loại nặng  
Cu (mg/kg) Pb (mg/kg) Cd mg/kg)  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
6,54±0,44  
3,40±0,66  
4,23±0,55  
3,25±0,16  
4,43±0,23  
3,49±0,21  
26,01±0,70  
39,75±1,55  
27,18±3,72  
34,73±0,01  
23,89±0,42  
44,45±3,35  
3,04±0,22  
2,87±0,13  
3,76±0,46  
2,84±0,0  
Mỹ  
Giang  
Ninh  
Tịnh  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Cu (mg/kg)  
3,59±0,26  
3,63±0,17  
0,7(mg/kg)  
Ninh  
Thủy  
6.54  
7
6
4.43  
5
4
3
2
1
0
4.23  
TC ISQG  
18,7 mg/kg) 30,2 (mg/kg)  
3.49  
3.40  
3.25  
Kết quả phân tích phương sai (Anova) và kiểm tra LSD cho  
thấy, không có sự khác nhau có ý nghĩa (α =0,05) về hàm lượng Cu  
trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu. Tại Mỹ Giang hàm lượng  
Cu ñợt I là 6,54 ± 0,44 mg/kg, ñợt II 3,40 ± 0,66 mg/kg, ñợt I cao gấp  
ñôi so với ñợt II, vì ñây là khu vực gần nguồn xả thải nhất, ñợt I lấy  
mẫu vào tháng 12 là mùa mưa do ñó nước thải từ các bãi chứa hạt  
NIX cũng theo dòng chảy ñổ ra khu vực này, mặc khác vào mùa mưa  
ñộ pH ở khu vực này tăng cao, các KLN tồn tại dưới dạng hợp chất  
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.1.Hàm lượng Cu trong Trầm tích ở Mỹ Giang, Ninh Tịnh,  
Ninh Thủy  
11  
12  
Đối với hàm lượng Cd trong trầm tích tại Mỹ Giang, ñợt I là  
3,04±0,22 mg/kg, ñợt II là 2,84±0,0 mg/kg, tại Ninh Tịnh 3,76±0,46  
mg/kg ñợt I, 2,84±0,0 mg/kg ñợt II, còn tại Ninh Thủy ñợt I, II là  
3,59±0,26 mg/kg và 3,63±0,17 mg/kg. Hàm lượng Cd trong trầm tích  
ở hai ñợt chênh lệch không lớn vì ñây là vùng triều khả năng xáo trộn  
rất tốt.  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Pb (mg/kg)  
44.45  
45  
40  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
39.75  
34.73  
27.18  
26.01  
23.89  
So sánh với TC ISQG về hàm lượng Cd trong trầm tích (≤  
0,7 mg/kg), thì kết quả nghiên cứu này ñã vượt ngưỡng cho phép 5  
lần. Như vậy hàm lượng Cd trong trầm tích tại các khu vực nghiên  
cứu ñã bị ô nhiễm (Hình 3.3).  
0
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.2. Hàm lượng Pb trong Trầm tích ở Mỹ Giang, Ninh Tịnh,  
Ninh Thủy  
So sánh với kết quả nghiên cứu của Mohd. Harun Abdullah  
và cs 2007, hàm lượng Cd trong trầm tích tại cửa sông Likas dao  
ñộng 2,5 – 5,7 mg/kg, thì kết quả nghiên cứu của ñề tài cũng nằm  
Hàm lượng Pb tại Mỹ Giang ñợt I là 26,01±0,70 mg/kg, ñợt  
II là 39,75±1,55 mg/kg, tại Ninh Tịnh 27,18±3,72 mg/kg ñợt I và  
34,73±0,01 mg/kg ñợt II, còn tại Ninh Thủy ñợt I, II lần lượt là  
23,89±0,42 mg/kg, 44,45±3,35 mg/kg (Hình 3.2). Kết quả này cho  
thấy hàm lượng Pb ñợt I, ñợt II ở 3 thôn Mỹ Giang, Ninh Tịnh, Ninh  
Thủy không có sự chênh lệch lớn, do nước biển vùng này trao ñổi tốt,  
quá trình lắng ñọng trầm tích ở 3 thôn là như nhau. Hàm lượng Pb  
trong trầm tích ñợt II ở 3 thôn ñều vượt ngưỡng cho phép, trong ñó  
tại Mỹ Giang hàm lượng Pb vượt 1,3 lần, tại Ninh Tịnh vượt 1,15  
lần, còn tại Ninh Thủy vượt 1,47 lần, ñiều này chứng tỏ trầm tích tại  
các thôn nghiên cứu ñã bị ô nhiễm Pb, sự ô nhiễm Pb ở ñây do sự  
lắng ñọng Pb có trong nguồn thải của nhà máy, vì nghiên cứu của Lê  
Như Tồn (2007), hàm lượng Pb trong trầm tích tại ñầm Nha Phu rất  
thấp dao ñộng từ 6,3 – 18,8 mg/kg, tb 12,2 ± 1,6 mg/kg, kết quả này  
thấp hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi.  
trong khoảng này.  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Cd (mg/kg)  
3.76  
4
3.5  
3
3.63  
3.59  
3.04  
2.87  
2.84  
2.5  
2
1.5  
1
0.5  
0
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.3. Hàm lượng Cd trong Trầm tích ở Mỹ Giang, Ninh Tịnh,  
Ninh Thủy  
Như vậy nguyên nhân dẫn tới hàm lượng cao của các kim  
loại Pb, Cd trong trầm tích là do các hoạt ñộng của nhà máy ñóng tàu  
Huyndai – Vinashin, chủ yếu do sự phát tán bụi NIX và sự rửa trôi  
kim loại trong hạt NIX ñã qua sử dụng, bởi vì trên thực tế các hoạt  
ñộng kinh tế của nhân dân ñịa phương tại khu vực là ñánh cá và nuôi trồng  
thủy sản, nên chất thải từ các hoạt ñộng này chứa rất ít kimloại.  
So sánh với hàm lượng Pb trong trầm tích tại vùng cửa sông  
Ba Chẽ (Quảng Ninh), tại cửa sông Likas và sông Kota Belud thì kết  
quả nghiên cứu của ñề tài cũng dao ñộng trong khoảng này.  
13  
14  
Phân tích Anova và kiểm tra LSD cho thấy, hàm lượng Cu  
trong Hàu có sự khác nhau có ý nghĩa, (α=0,05) cụ thể như, hàm  
lượng Cu tích lũy trong loài Hàu cao nhất tại Mỹ Giang ñợt I  
7,65±0,94 mg/kg, ñợt II 4,47±0,55 mg/kg, tại khu vực Ninh Tịnh có  
hàm lượng Cu trong Hàu ñợt I, II là 6,60±0,44 mg/kg, 3,75±0,85  
mg/kg, thấp nhất tại thôn Ninh Thủy, có hàm lượng Cu tích lũy trong  
Hàu ñợt I là 4,05±0,56 mg/kg, ñợt II 2,20±0,32 mg/kg, kết quả này  
giống với kết quả về hàm lượng Cu trong trầm tích, ñợt I cao hơn ñợt  
II. Hàm lượng Cu trong trầm tích cao dẫn tới hàm lượng Cu trong  
Hàu cũng cao (ñợt I), ngược lại khi hàm lượng Cu trong trầm tích  
giảm thì hàm lượng Cu trong Hàu cũng giảm. Điều này chứng tỏ loài  
Hàu có khả năng phản ánh tốt chất lượng môi trường nơi chúng sống.  
Hàm lượng Cu trong Hàu tại các khu vực nghiên cứu nằm trong  
ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam (≤20 mg/kg).  
3.2. Hàm lượng KLN Cu, Pb và Cd trong loài Hàu và Xút  
Phần lớn lớp hai mảnh vỏ sống ít hoạt ñộng, di chuyển chậm  
trong bùn cát, hay sống bám vào giá thể và thích nghi với ñời sống  
lọc nước. Tuy nhiên trong quá trình lọc nước thì ñồng thời các KLN  
trong nước cũng ñược tích lũy theo thời gian trong cơ thể chúng, nên  
ñộng vật hai mảnh vỏ sống cố ñịnh tại một ñịa ñiểm ñược xem như là  
chỉ thị sinh học ñặc trưng cho mức ñộ ô nhiễm KLN từng khu vực.  
Mỗi loài hai mảnh vỏ khác nhau, có khả năng tích lũy khác  
nhau ñối với các KLN trong các bộ phận cơ thể của chúng. Sự tích lũy  
các KLN cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hàm lượng  
KLN có trong môi trường, nhiệt ñộ, ñộ mặn, nồng ñộ pH, ngoài ra còn  
phụ thuộc vào kích thước, khối lượng của sinh vật, sự ñào thải các KLN  
trong vòng ñời của chúng.  
Để khảo sát mức ñộ tích lũy các KLN trong cơ thể loài Hàu  
(Saccostrea cucullata Born., 1778) và loài Xút (Gafrarium  
pectinatum L., 1758) ñề tài tiến hành phân tích hàm lượng Cu, Pb và  
Cd trong cơ thể của hai loài trên, tại khu vưc ven biển thôn Mỹ  
Giang, thôn Ninh Tịnh xã Ninh Phước và thôn Ninh Thủy xã Ninh  
Thủy huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa.  
Kết quả nghiên cứu của ñề tài thấp hơn so với kết quả  
nghiên cứu của Lê Thi Vinh (2004), hàm lượng Cu mg/kg(tươi) trong  
Hàu tại Mũi Dù là 80,1 mg/kg(tươi) vào mùa khô, 89,5 mg/kg vào  
mùa mưa; tại Mỹ Giang 450,9 mg/kg vào mùa khô, 514,4 mg/kg vào  
mùa mưa và kết quả nghiên cứu của Lê Thị Mùi (2008), tại khu vực  
ven biển Nam Ô Đà nẵng, hàm lượng Cu trung bình trong Hàu  
(Ostrea rivularis G): 10,35 ± 0,32 mg/kg tươi.  
3.2.1. Hàm lượng KLN Cu, Pb và Cd trong loài Hàu (Saccostrea  
cucullata Born., 1778)  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Bảng 3.4. Hàm lượng Cu, Pb và Cd trong cơ thể loài Hàu (mg/kg)  
Cu (mg/kg)  
7.65  
8
Khu vực  
Đợt  
Các kim loại nặng  
Pb (mg/kg)  
0,94±0,14  
6.60  
7
6
Cu (mg/kg)  
7,65±0,94  
4,47±0,55  
6,60±0,44  
3,75±0,85  
4,05±0,56  
2,20±0,32  
Cd (mg/kg)  
0,19±0,13  
0,42±0,05  
0,15±0,00  
0,47±0,06  
0,21±0,14  
0,55±0,06  
4.47  
5
4
3
2
1
0
4.05  
3.75  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
Mỹ  
Giang  
Ninh  
Tịnh  
Ninh  
Thủy  
2.20  
2,66±0,24  
0,52±0,04  
3,19±0,18  
0,56±0,19  
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.4. Hàm lượng Cu trong cơ thể loài Hàu (Saccostrea  
cucullata Born., 1778) (mg/kg)  
3,31±0,35  
TCCP Việt Nam (≤20 mg/kg) (≤ 1,5 mg/kg) (≤ 1mg/kg)  
15  
16  
Hàm lượng Pb trong Hàu ở ba thôn không có sự khác nhau  
có ý nghĩa, (α=0,05) cụ thể như sau: hàm lượng Pb trong Hàu tại Mỹ  
Giang, ñợt I là 0,94±0,14 mg/kg, ñợt II là 2,66±0,24 mg/kg, Ninh  
Tịnh ñợt I là 0,52±0,04 mg/kg, ñợt II là 3,19±0,18 mg/kg, Ninh Thủy  
0,56±0,19 mg/kg, 3,31±0,35 mg/kg, ñợt II cao hơn ñợt I, từ kết quả  
này cho thấy khi hàm lượng kim loại trong môi trường cao thì hàm  
lượng kim loại trong loài hai mảnh vỏ cũng cao. Như vậy có thể sử  
dụng loài Hàu làm sinh vật chỉ thị cho kim loại Pb trong môi trường.  
Kết quả nghiên cứu của ñề tài cao hơn so với kết quả nghiên cứu của  
Lê Thị Mùi (2008), tại khu vực ven biển Nam Ô Đà nẵng, hàm lượng  
Pb trung bình trong Hàu (Ostrea rivularis G): 1,52 ± 0,41 mg/kg  
tươi. Nghiên cứu của Lê Thị Vinh (2004), về hàm lượng Pb trong  
Hàu (Saccostrea cucullata) tại Mũi Dù (2004) là 0,17 – 0,43 mg/kg  
tươi. So với an toàn thực phẩm về hàm lượng Pb trong ñộng vật hai  
mảnh vỏ (≤ 1,5 mg/kg) của Bộ Y Tế số 46/ 2007/QĐ – BYT, thì hàm  
lượng Pb ở ñây ñã vượt ngưỡng cho phép 2 lần. Như vậy, hàm lượng  
Pb trong Hàu tại khu vực nghiên cứu ñã có dấu hiệu bị ô nhiễm, vì  
thế người dân phải hạn chế sử dụng loài Hàu làm thực phẩm.  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Cd (mg/kg)  
0.55  
0.6  
0.5  
0.4  
0.3  
0.2  
0.1  
0
0.47  
0.42  
0.21  
0.19  
0.15  
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.6. Hàm lượng Cd trong cơ thể loài Hàu (Saccostrea cucullata  
Born., 1778) (mg/kg)  
Kết quả phân tích phương sai (Anova) cho thấy, hàm lượng  
Cd trong cơ thể loài Hàu ở các khu vực không có sự khác nhau có ý  
nghĩa (α=0,05), hàm lượng Cd tích lũy trong Hàu ở ba khu vực ñợt I  
như sau: tại Mỹ Giang 0,19±0,13 mg/kg, tại Ninh Tịnh 0,15±0,00  
mg/kg, tại Ninh Thủy 0,21±0,14 mg/kg, ñợt II 0,42±0,05 mg/kg,  
0,47±0,06 mg/kg, 0,55±0,06 mg/kg (Hình 3.6). So sánh với kết quả  
nghiên cứu của Mohd tại vùng cửa sông Likas trên ñối tượng  
Meretrix meretrix tích lũy (trung bình 3,27mg/kg) thì hàm lượng Cd  
trong nghiên cứu này thấp hơn, nhưng tương ñương với nghiên cứu  
của Sari Arias tại Vịnh Bergen, Nauy ở loài vẹm xanh (Mytilus  
edulis) (trung bình 0,20 mg/kg).  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Pb (mg/kg)  
3.31  
3.19  
3.5  
3
2.66  
So sánh với TCCP, thì hàm lượng Cd tích lũy trong loài Hàu  
ở ñây ñều thấp hơn TCCP của Bộ Y Tế, Việt Nam số 46/ 2007/QĐ –  
BYT, về hàm lượng Cd trong các loài ñộng vật hai mảnh vỏ (≤  
1mg/kg), nhưng Cd là kim loại có ñộc tính cao, chỉ một lượng nhỏ từ  
30 – 40g cũng ñủ gây chết người. Cd xâm nhập vào cơ thể người và  
tích lũy ở thận, gan và xương, gây ra các bệnh suy thận, ung thư  
tuyến tiền liệt…, Cd ñào thải ra khỏi cơ thể người rất chậm, do vậy  
người dân không nên sử dụng loài Hàu ở ñây làm thực phẩm.  
2.5  
2
1.5  
1
0.94  
0.56  
0.52  
0.5  
0
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.5. Hàm lượng Pb trong cơ thể loài Hàu (Saccostrea  
cucullata Born., 1778) (mg/kg)  
17  
18  
nghiên cứu của ñề tài về hàm lượng Cu tích lũy trong Xút nằm trong  
ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam, (≤20 mg/kg).  
3.2.2. Hàm lượng KLN Cu, Pb và Cd trong loài Xút (Gafrarium  
pectinatum L., 1758)  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Kết quả phân tích hàm lượng các KLN Cu, Pb và Cd trong  
cơ thể loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758) tại ba thôn, Mỹ  
Giang, Ninh Tịnh, Ninh Thủy ñược thể hiện ở (Bảng 3.5).  
Bảng 3.5. Hàm lượng Cu, Pb và Cd trong cơ thể loài Xút (mg/kg)  
Các kim loại nặng  
Cu (mg/kg)  
2.47  
2.39  
2.5  
1.93  
2
1.65  
1.5  
0.99  
0.97  
1
0.5  
0
Đợt I  
Đợt II  
Khu vực  
Đợt  
Cu (mg/kg)  
2,47±0,94  
0,99±0,99  
1,93±0,34  
1,65±0,23  
0,97±0,21  
2,39±0,01  
Pb (mg/kg)  
0,87±0,43  
2,50±0,40  
0,79±0,11  
2,85±0,28  
0,68±0,16  
3,10±0,37  
Cd (mg/kg)  
0,21±0,12  
0,28±0,08  
0,18±0,55  
0,38±0,01  
0,13±0,03  
0,39±0,02  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
1 (n=3)  
2 (n=3)  
Mỹ  
Giang  
Ninh  
Tịnh  
Ninh  
Thủy  
Hình 3.7. Hàm lượng Cu trong cơ thể loài Xút (Gafrarium  
pectinatum L., 1758) (mg/kg)  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
Pb (mg/kg)  
3.5  
3.10  
2.85  
3
2.50  
2.5  
TCCP Việt Nam  
(≤20 mg/kg) (≤ 1,5 mg/kg) (≤ 1mg/kg)  
2
1.5  
Qua bảng 3.5 cho thấy, hàm lượng Cu tích lũy trong cơ thể  
loài Xút ñợt I và II như sau: Mỹ Giang 2,47±0,94 mg/kg, 0,99±0,99  
mg/kg, hàm lượng Cu trong Xút ñợt I cao 2,5 lần ñợt II, vì hàm  
lượng Cu trong trầm tích ñợt I cũng cao gấp 2 lần so với ñợt II, nhà  
máy ñã dùng hạt NIX làm nguyên liệu ñể làm sạch vỏ tàu trước khi  
sơn mới. Các hạt NIX chưa sử dụng ñược ñổ thành ñống không che  
ñậy trong khuôn viên nhà máy, các hạt NIX ñã qua sử dụng ñược thu  
gom về bãi chất thải rắn ở phía bắc nhà máy, nước thải từ bãi hạt  
NIX không qua xử lý theo mưa chảy xuống khu vực Mỹ Giang. Do  
ñó khả năng lắng ñọng KLN ở khu vực này rất cao. Loài Xút sống  
trong bùn cát, sử dụng cặn, vẩn làm thức ăn, do ñó hàm lượng Cu  
trong cơ thể Xút cao hơn hai khu vực còn lại. Tại Ninh Tịnh  
1,93±0,34 mg/kg, 1,65±0,23 mg/kg, còn tại Ninh Thủy 0,97±0,21  
mg/kg, 2,39±0,01 mg/kg, ñây là hai khu vực xa hơn ít chịu ảnh  
hưởng trực tiếp nước thải từ các bãi hạt NIX (Hình 3.7), kết quả  
0.87  
0.79  
1
0.5  
0
0.68  
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.8. Hàm lượng Pb trong cơ thể loài Xút (Gafrarium  
pectinatum L., 1758) (mg/kg)  
Hàm lượng Pb trong cơ thể loài Xút ở Mỹ Giang ñợt I, II là:  
0,87±0,43mg/kg, 2,50±0,40 mg/kg, tại thôn Ninh Tịnh ñợt I là  
0,79±0,11 mg/kg, ñợt II là 2,85±0,28 mg/kg, còn tại thôn Ninh Thủy  
ñợt I, II lần lượt là 0,68±0,16 mg/kg, 3,10±0,37 mg/kg. Qua kết quả  
phân tích trên, cho thấy hàm lượng Pb tích lũy trong Xút ở các khu  
vực nghiên cứu không có sự khác nhau có ý nghĩa, (α=0,05). Nhưng  
hàm lượng Pb ñợt I, II có sự chênh lệch rõ ràng, ở Mỹ Giang ñợt II  
cao 2,8 lần ñợt I, Ninh Tịnh 3,6 lần, còn tại Ninh Thủy ñợt II cao hơn  
ñợt I 4,5 lần. Điều này cho thấy hàm lượng Pb tích lũy trong Xút phụ  
thuộc vào hàm lượng Pb trong trầm tích (Hình 3.8).  
19  
20  
Mỹ Giang Ninh Tịnh Ninh Thủy  
So sánh kết quả nghiên cứu của ñề tài với kết quả nghiên cứu  
của Pham Kim Phương (2008), Nguyễn Văn Khánh (2009) về hàm  
lượng Pb trong một số ñộng vật hai mảnh vỏ, thì kết của ñề tài cao hơn.  
So với an toàn thực phẩm về hàm lượng Pb trong ñộng vật  
hai mảnh vỏ (≤ 1,5 mg/kg) của Bộ Y Tế số 46/ 2007/QĐ – BYT, thì  
hàm lượng Pb ở ñây ñã vượt ngưỡng cho phép, trong ñó tại Ninh  
Tịnh vượt 1,2 lần, còn tại Ninh Thủy vượt 1,5 lần. Như vậy loài Xút  
tại khu vực nghiên cứu ñã bị nhiễm kim loại Pb và có thể gây ảnh  
hưởng không tốt cho sức khỏe con người qua việc tiêu thụ thực phẩmnày.  
Kết quả bảng 3.5 cho thấy, hàm lượng Cd tích lũy trong cơ  
thể loài Xút ở các khu vực nghiên cứu không có sự khác nhau có ý  
nghĩa, (α=0,05), ở Mỹ Giang trong hai ñợt lần lượt là: 0,21±0,12  
mg/kg, 0,28±0,08 mg/kg, Ninh Tịnh ñợt I 0,18±0,55 mg/kg, ñợt II  
0,38±0,01 mg/kg, Ninh Thủy ñợt I 0,13±0,03 mg/kg, ñợt II  
0,39±0,02 mg/kg. So với tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng Cd trong  
ñộng vật hai mảnh vỏ (≤ 1,0 mg/kg) của Bộ Y Tế số 46/ 2007/QĐ –  
BYT, thì hàm lượng Cd ở ñây nằm trong ngưỡng cho phép.  
Cd (mg/kg)  
0.4  
0.39  
0.38  
0.35  
0.3  
0.28  
0.25  
0.2  
0.21  
0.18  
0.13  
0.15  
0.1  
0.05  
0
Đợt I  
Đợt II  
Hình 3.9. Hàm lượng Cd trong cơ thể loài Xút (Gafrarium  
pectinatum L.,1758) (mg/kg)  
Từ kết quả nghiên cứu có thể thấy rằng hàm lượng Pb và Cd  
trong loài Xút tại Mỹ Giang, Ninh Tịnh và Ninh Thủy không có sự  
thay ñổi lớn, nguyên nhân do nước biển vùng này trao ñổi tốt và ñiều  
kiện vật lý, hóa học (pH từ 8,03 – 8,27, ñộ mặn từ 30,73 – 33,8) làm  
cho các kim loại trong nước có xu hướng kết tủa, lắng ñọng xuống  
trầm tích, loài Xút tích lũy Pb, Cd từ trầm tích.  
3.3. Tương quan giữa hàm lượng Cu, Pb và Cd trong trầm tích  
và trong loài Hàu và Xút  
So sánh với kết quả nghiên cứu của Munir Ziya Lugal Goksu  
và cs tại vịnh Akkuyu Thổ Nhĩ Kỳ và nghiên cứu của Mohd. Harun  
Abdullah và cs 2007, hàm lượng Cd trong Ngao dầu (Meretrix  
meretrix L.) tại cửa sông Likas dao ñộng: Cd 1,24 – 6,78 mg/kg tb  
3,27 ±1,46 mg/kg, còn tại cửa sông Kota Belud Cd 0,82 – 3,93 mg/kg  
tb 1,68 ±0,65. Cũng theo nghiên cứu này, loài Sò lông (Anadara  
subcrenata L.) có hàm lượng Cd tb 0,63 ±0,44 mg/kg. Kết quả  
nghiên cứu của ñề tài cũng dao ñộng trong khoảng này.  
3.3.1. Tương quan giữa hàm lượng Cu, Pb và Cd trong trầm tích và  
trong loài Hàu (Saccostrea cucullata Born., 1778)  
Kết quả phân tích tương quan cho thấy sự tích lũy của kim  
loại Cu, Pb trong cơ thể loài Hàu tương quan thuận, với sự tích lũy  
của các kim loại Cu, Pb trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu.  
Trong ñó, hàm lượng Cu tích lũy trong cơ thể Hàu tương  
quan chặt với hàm lượng Cu trong trầm tích, với hệ số tương quan r=  
0,845, pvalue= 0,001 (Hình 3.10). Cũng giống như kim loại Cu, hàm  
lượng Pb tích lũy trong Hàu tương quan chặt với hàm lượng Pb trong  
trầm tích với hệ số tương quan r=0,858 và pvalue =7,19x10-4 (Hình  
3.11). Như vậy, có thể thấy rằng sự tích lũy Cu và Pb trong cơ thể  
loài Hàu chịu ảnh hưởng tương ñối lớn từ sự tích lũy Cu và Pb trong  
21  
22  
trầm tích. Có thể sử dụng loài Hàu làm chỉ thị kim loại Pb, Cu cho  
môi trường ở khu vực này. Ngược lại với hai kim loại trên, hàm  
lượng Cd trong Hàu tương quan yếu với hàm lượng Cd trong trầm  
tích, hệ số tương quan rất thấp r=0,151, pvalue = 0,698 (Hình 3.12),  
cho thấy sự ảnh hưởng của môi trường ñến sự tích lũy Cd trong loài  
Hàu không cao, vì khi hàm lượng Cd trong trầm tích ñợt I cao hơn  
ñợt II, nhưng hàm lượng Cd trong Hàu ñợt I thấp hơn ñợt II  
Hình 3.12.Tương quan giữa hàm lượng Cd trong Trầm tích và trong  
cơ thể loài Hàu (Saccostrea cucullata Born., 1778)  
3.3.2. Tương quan giữa hàm lượng Cu, Pb và Cd trong trầm tích và  
trong loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758)  
Đối với mỗi loài thì khả năng tích lũy không giống nhau với  
thành phần KLN trong môi trường, mức ñộ tích lũy tăng hay giảm  
không hoàn toàn cùng với sự tăng hay giảm hàm lượng KLN có trong  
môi trường. Qua kết quả phân tích tương quan cho thấy, sự tích lũy  
Cu, Pb trong cơ thể loài Xút tương quan thuận với sự tích lũy Cu, Pb  
trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu của ba thôn Mỹ giang, Ninh  
Tịnh và Ninh Thủy; Trong ñó, sự tích lũy Cu trong loài Xút tương  
Hình 3.10.Tương quan giữa hàm lượng Cu trong Trầm tích và trong  
cơ thể loài Hàu (Saccostrea cucullata Born., 1778)  
quan vừa với hàm lượng Cu có trong trầm tích, với r=0,347 và pvalue  
=
0,296 (Hình 3.13).  
Hình 3.11.Tương quan giữa hàm lượng Pb trong Trầm tích và trong  
cơ thể loài Hàu (Saccostrea cucullata Born., 1778)  
Hình 3.13.Tương quan giữa hàm lượng Cu trong Trầm tích và trong  
cơ thể loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758)  
23  
24  
Sự tích lũy Pb trong loài Xút tương quan rất chặt với hàm  
Pb trong trầm tích và trong loài Vẹm (Perma viridis) rPb = 0,226 và  
rPb = 0,126 ñối với loài Sò (Crassostrea sp) và nghiên cứu của A.  
Apeti ở loài Hàu (Crassostrea virginia) có rPb =0,437, thì kết quả  
nghiên cứu của chúng tôi có hệ số tương quan cao hơn so với kết quả này.  
Hệ số tương quan càng cao thì mối liên hệ giữa hàm lượng  
lượng Pb trong trầm tích, với hệ số tương quan r=0,907 và pvalue  
=
1,14x10-4. Mức tương quan này cao hơn mức tương quan trong  
nghiên cứu của Phạm Văn Hiệp ở loài Hến (Corbicula sp) với hệ số  
tương quan thấp, r= 0,218 và pvalue=0,435 Như vậy, có thể thấy rằng  
sự tích lũy Pb trong loài Xút chịu ảnh hưởng tương ñối lớn của sự  
tích lũy Pb trong trầm tích. Chứng tỏ loài Xút có khả năng phản ánh  
mức ñộ ô nhiễm Pb trong trầm tích (Hình 3.14).  
KLN trong cơ thể ñộng vật hai mảnh vỏ và trong trầm tích càng có ý  
nghĩa. Trong nghiên cứu này, hàm lượng Pb trong loài Hàu  
(Saccostrea cucullata Born., 1778 ) tương quan chặt với hàm lượng  
Pb trong trầm tích, có hệ số tương quan là rPb=0,858 và pvalue  
=7,19x10-4, và hàm lượng Pb trong loài Xút (Gafrarium pectinatum  
L., 1758 ) tương quan chặt với hàm lượng Pb trong trầm tích, có hệ  
số tương quan là rPb=0,907 và pvalue=1,14x10-4. Như vậy có thể thông  
qua phân tích hàm lượng Pb tích lũy trong loài Hàu (Saccostrea  
cucullata Born., 1778 ) và Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758 ) có  
thể ñánh giá chất lượng môi trường nơi chúng sống.  
Hình 3.14.Tương quan giữa hàm lượng Pb trong Trầm tích và trong  
cơ thể loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758)  
Đối với hàm lượng Cd thì tương quan giữa loài Xút và trầm  
tích thấp hơn, ở mức tương quan yếu, có hệ số tương quan rất nhỏ  
r=0,014, pvalue=0,970. Hàm lượng Cd trong Xút không phụ thuộc vào  
hàm lượng Cd trong môi trường (Bảng 3.6), không sử dụng loài Xút  
ñể chỉ thị ô nhiễm Cd trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu (Hình 3.15).  
Hình 3.15.Tương quan giữa hàm lượng Cd trong Trầm tích và trong  
cơ thể loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758)  
So sánh với kết quả nghiên cứu của L. Rojas de Astudillo, I.  
Chang Yen và I. Bekele 2005, có hệ số tương quan giữa hàm lượng  
25  
26  
tương quan yếu, với hệ số tương quan thấp rCd=0,105 và pvalue =0,698,  
nên không sử dụng loài Hàu làm chỉ thị kim loại Cd.  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Còn trong loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758 ), Pb  
tương quan rất chặt với hệ số tương quan rPb=0,907 và pvalue=1,14x10-  
4, có thể sử dụng loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758 ) làm sinh  
vật chỉ thị kim loại Pb trong trầm tích. Hàm lượng Cu trong loài Xút  
tương quan vừa với rCu = 0,347 và pvalue = 0,296, còn ñối với Cd thì  
tương quan yếu rCd = 0,014. Do ñó không sủ dụng loài Xút  
(Gafrarium pectinatum L., 1758 ) làm chỉ thị cho kim loại Cu và Cd  
trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu.  
1. Kết luận  
a. Trong trầm tích, hàm lượng Cu tại khu vực nghiên cứu  
chưa bị ô nhiễm và nằm trong giới hạn cho phép theo TC ISQG, còn  
hàm lượng Cd ñã bị ô nhiễm và vượt TC ISQG từ 4 – 5 lần và hàm  
lượng Pb trong trầm tích ñợt II tại khu vực nghiên cứu ñã bị ô nhiễm,  
trong ñó tại Mỹ Giang có hàm lượng Pb 39,75 ± 1,55mg/kg, vượt TC  
ISQG 1,3 lần, tại Ninh Tịnh có hàm lượng Pb 34,73 ± 0,01 mg/kg,  
vượt TC ISQG 1,15 lần, tại Ninh Thủy có hàm lượng Pb 44,45 ± 3,35  
mg/kg, vượt TC ISQG 1,47 lần.  
2. Kiến nghị  
b. Hàm lượng Cu, Cd trong loài Hàu (Saccostrea cucullata  
Born., 1778) và loài Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758 ) chưa bị ô  
nhiễm, nằm trong giới hạn cho phép theo TCVN, còn hàm lượng Pb  
trong loài Hàu (Saccostrea cucullata Born., 1778 ) và loài Xút  
(Gafrarium pectinatum L., 1758 ) ñợt II ñã bị ô nhiễm. Trong loài  
Hàu, hàm lượng Pb tại Mỹ Giang 2,66 ± 0,24 mg/kg, vượt TCVN  
1,77 lần, tại Ninh Tịnh có hàm lượng Pb 3,19 ± 0,18 mg/kg, vượt  
TCVN 2,12 lần, tại Ninh Thủy hàm lượng Pb 3,31 ± 0,35 mg/kg,  
vượt TCVN 2,20 lần. Trong loài Xút, hàm lượng Pb tại Mỹ Giang  
2,50 ± 0,40 mg/kg, vượt TCVN 1,6 lần, tại Ninh Tịnh có hàm lượng  
Pb 2,85 ± 0,28 mg/kg, vượt TCVN 1,9 lần, còn tại Ninh Thủy hàm  
lượng Pb 3,10 ± 0,37 mg/kg, vượt TCVN 2,06 lần.  
a. Đề tài chỉ mới dừng lại ở mức nghiên cứu sự tích lũy Cu,  
Pb và Cd ở hai loài Hàu (Saccostrea cucullata Born., 1778), Xút  
(Gafrarium pectinatum L., 1758), do ñó ñể xác ñịnh một cách ñầy ñủ  
khả năng chỉ thị ô nhiễm KLN của ñộng vật hai mảnh vỏ cần có thêm  
nhiều nghiên cứu về sự tích lũy KLN trong những loài hai mảnh vỏ  
khác.  
b. Hàm lượng Pb tích lũy trong hai loài Hàu (Saccostrea  
cucullata Born., 1778), Xút (Gafrarium pectinatum L., 1758), ñã vượt  
ngưỡng giới hạn cho phép, do ñó cần phải khuyến cáo người dân hạn  
chế sử dụng thực phẩm này.  
c. Sự tích lũy của kim loại Cu, Pb trong cơ thể loài Hàu  
(Saccostrea cucullata Born., 1778 ) tương quan chặt với sự tích lũy  
Cu, Pb trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu, với hệ số tương quan  
rCu= 0,845, pvalue= 0,001, rPb=0,858 và pvalue =7,19x10-4. Do ñó có thể sử  
dụng loài Hàu (Saccostrea cucullata Born., 1778 ) làm chỉ thị cho kim  
loại Cu, Pb tại khu vực nghiên cứu này, còn ñối với kim loại Cd thì  
pdf 13 trang yennguyen 17960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu mối tương quan về sự tích lũy Cu, Pb, Cd trong trầm tích và một số loài động vật hai mảnh vỏ tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_moi_tuong_quan_ve_su_tich_luy_cu.pdf