Tóm tắt Luận án Chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ: Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án  
Đổi mới công nghệ (ĐMCN) đã trở thành yếu tố ưu tiên hàng đầu và có ý nghĩa  
quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển  
thịnh vượng của quốc gia. Hoạt động ĐMCN có sức lan tỏa rộng, bởi vì (i) xét từ giác  
độ Nhà nước trong việc quản lý ĐMCN sẽ góp phần hạn chế tác động tiêu cực của công  
nghệ tới tới lợi ích xã hội, nâng cao năng lực nội sinh công nghệ quốc gia, (ii) xét từ  
giác độ doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh  
của doanh nghiệp.  
Hà Nội có tiềm năng phát triển về kinh tế, xã hội, công nghệ. Luận án lựa chọn  
các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội nhằm: (i) phù hợp với khả năng tiến hành khảo  
sát thực địa của nghiên cứu sinh, (ii) đảm bảo được tính đại diện của mẫu khảo sát và  
(iii) đóng góp phần nhỏ trong việc phân tích chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp ĐMCN.  
Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Chính sách nhà nước nhằm  
thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ: nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp  
trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới luận án1  
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án  
Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm trả lời các câu hỏi sau:  
- Đổi mới công nghệ là gì? Hành vi của doanh nghiệp trong việc ra quyết định  
ĐMCN phụ thuộc vào những yếu tố nào?  
- Chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN cần được hiểu như  
thế nào và nó bao gồm những loại chính sách nào?  
- Từ khi Luật KH&CN được ban hành (2000), chính sách nhà nước về ĐMCN đã  
có tác động như thế nào tới hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp (nghiên cứu trường  
hợp các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.  
- Việc ban hành, tổ chức thực thi chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp ĐMCN bị chi phối bởi những yếu tố nào?  
- Nhà nước cần làm gì, theo thứ tự ưu tiên ra sao để hoàn thiện chính sách nhằm  
thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN?  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Là các hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp và các chính sách nhà nước nhằm  
thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.  
1 Phần này được trình bày chi tiết trong Chương 1, mục 1.1  
2
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá chính sách nhà nước  
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN. Chủ thể chính sách là Nhà nước, đối tượng thụ  
hưởng chính sách là các doanh nghiệp.  
Phạm vi không gian: Luận án thu thập số liệu thứ cấp về thực trạng ĐMCN của  
các doanh nghiệp trên toàn quốc; tuy nhiên luận án giới hạn việc điều tra khảo sát đối  
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội.  
Về mặt thời gian: Luận án đánh giá hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp và  
chính sách nhà nước thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN từ năm 2000 đến 2012.  
5. Phương pháp nghiên cứu2  
6. Những đóng góp mới của luận án  
Về mặt khoa học: Luận án làm rõ cơ sở lý luận về ĐMCN và chính sách nhà  
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN. Cụ thể: (i) đánh giá, bổ sung làm rõ khái  
niệm công nghệ và đổi mới công nghệ, (ii) bổ sung làm rõ khái niệm chính sách nhà  
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN, (iii) làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới  
ĐMCN ở doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách nhà nước nhằm thúc  
đẩy doanh nghiệp ĐMCN, (iv) đề xuất các tiêu chí đánh giá chính sách nhà nước nhằm  
thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.  
Về mặt thực tiễn: Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách nhà nước  
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN theo cách tiếp các công cụ chính sách phù hợp với  
điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.  
7. Kết cấu của luận án  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, cam kết của tác giả, các phụ lục, các tài liệu tham  
khảo. Luận án chia thành 5 chương:  
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu về chính sách nhà  
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ  
Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp  
đổi mới công nghệ  
Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế về chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp đổi mới công nghệ  
Chương 4: Phân tích thực trạng chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp trên địa bàn Hà Nội đổi mới công nghệ  
Chương 5: Giải pháp hoàn thiện chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp đổi mới công nghệ  
2 Phần này được nghiên cứu chi tiết trong Chương 1, mục 1.2  
3
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
VỀ CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY  
DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ  
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới luận án  
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài  
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài về hoạt động ĐMCN  
của doanh nghiệp cũng như chính sách nhà nước thúc đầy doanh nghiệp ĐMCN. Các  
nghiên cứu có thể chia thành hai nhóm: (i) nhóm nghiên cứu về ĐMCN, vai trò của  
ĐMCN và các yếu tố ảnh hưởng tới ĐMCN của doanh nghiệp (Charles, 1997; Tarek M  
Khalil, 2000; Robert Solow, 1987; Boskin and Lau, 1992;Twiss, 1992; Fredrick Betz,  
1998; Peter Drucker, 1974, Hans, 2005, v.v), (ii) nhóm nghiên cứu về vai trò của nhà  
nước và chính sách nhà nước đối với ĐMCN (Christopher, 2008; Lichtenberge, 1988;  
C.Wang, 2008; Holemans & Sleuwaegen, 1988, Sunil, 2002, Schilling, 2009, v.v).  
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc ESCAP, World  
Bank, UNIDO và các nhà khoa học khác.  
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước  
Các công trình nghiên cứu ở trong nước có thể chia thành ba nhóm: (i) nhóm  
nghiên cứu về ĐMCN, năng lực công nghệ và các yếu tố ảnh hưởng tới ĐMCN của  
doanh nghiệp (Trần Ngọc Ca, 2000; Nguyễn Huyền Sơn, 2004; Tạ Doãn Trịnh, 2007;  
Tăng Văn Khiên, 2007; Nguyễn Sỹ Lộc, 2006; Hồ Sỹ Hùng, 2009; Hồ Đức Việt, 2010;  
Nguyễn Quang Tuấn, 2010, v.v), (ii) nhóm nghiên cứu về vai trò của nhà nước và chính  
sách nhà nước đối với ĐMCN (Nguyễn Minh Hạnh, 2001; Nguyễn Việt Hòa, 2001;  
Trần Ngọc Ca, 2010; Lê Xuân Bá, 2008; Hoàng Xuân Long, 2011; Nguyễn Mạnh  
Quân, 2008, Mai Hà, 2009, v.v) , (iii) nhóm nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về ĐMCN  
và chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN (Trần Ngọc Ca, 2011, Trần Văn Tùng,  
2007, Nguyễn Quang Tuấn, 2010, Hoàng Xuân Long, 2011, v.v). Ngoài ra, còn có các  
công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác thuộc Viện nghiên cứu chiến lược và  
chính sách KH&CN (NISTPASS), Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương  
(CIEM), Trung tâm thông tin KH&CN quốc gia, Phòng Thương mại và Công nghiệp  
Việt Nam (VCCI), các Viện nghiên cứu, các trường Đại học và các nhà khoa học khác  
của Việt Nam.  
1.1.3. Kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu  
Các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã khái quát được trình độ công  
nghệ, các yếu tố ảnh hưởng tới ĐMCN của doanh nghiệp, kinh nghiệm về ĐMCN;  
đồng thời khẳng định vai trò của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp  
ĐMCN. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở trên chưa thống nhất được khái niệm  
ĐMCN, chưa làm rõ được các chính sách bộ phận theo cách tiếp cận công cụ chính  
sách, cũng như chưa làm rõ các tiêu chí đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy  
doanh nghiệp ĐMCN.  
4
1.2. Phương pháp nghiên cứu  
1.2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu  
Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, luận án đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu sau  
(Hình 1.1):  
Các chính sách  
Hoạt động ĐMCN  
của doanh nghiệp:  
- Đổi mới toàn bộ máy  
móc, thiết bị, dây  
chuyền công nghệ  
Mục tiêu CSNN thúc đẩy  
DN ĐMCN:  
nhà nước nhằm  
thúc đẩy doanh  
nghiệp ĐMCN:  
- Nâng cao nhận thức của DN  
về ĐMCN  
- Gia tăng số lượng DN thực  
hiện các hoạt động ĐMCN  
- Nâng cao mức đầu tư của  
DN cho ĐMCN  
- Đổi mới phần quan  
trọng của công nghệ  
bằng công nghệ khác  
tiên tiến hơn  
- Chính sách tạo  
môi trường thể chế  
- Chính sách kinh tế  
- Chính sách đào  
tạo, thông tin, tuyên  
truyền  
- Nâng cao năng lực công  
nghệ, năng lực cạnh tranh và  
hiệu quả hoạt động của DN  
- Đạt được hiệu ứng lan tỏa  
- Đầu tư cho R&D  
nhằm đổi mới qui  
trình/sản phẩm  
Hình 1.1: Khung lý thuyết nghiên cứu về chính sách nhà nước  
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
1.2.2. Quy trình nghiên cứu  
Luận án tiến hành theo quy trình nghiên cứu sau (Hình 1.2):  
Nghiên cứu tài liệu trong  
nước và ngoài nước  
Xây dựng khung lý  
thuyết về chính sách  
nhà nước nhằm thúc  
đẩy doanh nghiệp  
ĐMCN  
Kiến nghị các giải  
pháp hoàn thiện  
chính sách nhà  
nước nhằm thúc  
đẩy DN ĐMCN  
Phỏng vấn các chuyên gia  
trong lĩnh vực ĐMCN làm  
việc trong các viện nghiên  
cứu, trường đại học, cơ  
quan QLNN về KH&CN  
Phân tích thực trạng  
ĐMCN của doanh  
nghiệp nói chung và  
DN trên địa bàn Hà  
Nội nói riêng  
Đánh giá chính  
sách nhà nước  
nhằm thúc đẩy DN  
trên địa bàn Hà  
Nội ĐMCN  
Điều tra bằng phiếu hỏi đối  
với các doanh nghiệp trên  
địa bàn Hà Nội  
Hình 1.2: Quy trình nghiên cứu về chính sách nhà nước nhằm  
thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ  
5
1.2.3. Phương pháp thu thập dữ liệu  
1.2.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp  
Luận án thu thập, phân loại các tài liệu đã được công bố thông qua các công trình  
nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan tới hoạt động ĐMCN và chính sách nhà  
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.  
Luận án còn khai thác và sử dụng các số liệu trên Internet, đồng thời sử dụng các  
quan điểm đánh giá, nhận định của các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách  
ĐMCN, các tổ chức KH&CN và đánh giá của các doanh nghiệp về chính sách nhà  
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN đã công bố từ năm 2000 đến 2012.  
1.2.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp  
Luận án tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với doanh nghiệp và phỏng vấn  
viết (phương pháp anket), phỏng vấn bằng điện thoại đối với các cán bộ làm việc trong  
cơ quan quản lý nhà nước về ĐMCN.  
Kích thước mẫu: Nghiên cứu sinh gửi 150 phiếu đến các doanh nghiệp nhỏ và  
vừa trên địa bàn Hà Nội, thu về được 119 phiếu (chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống và  
mẫu thuận tiện); đồng thời phỏng vấn có chọn lọc 10 cán bộ làm việc trong các cơ quan  
quản lý nhà nước về ĐMCN sau khi họ đồng ý tham gia.  
Thời gian thực hiện: là 5 tháng, phiếu hỏi được thiết kế thử nghiệm từ tháng 1  
đến tháng 2/2012 và bắt sử dụng rộng rãi từ tháng 3/2012.  
1.2.4. Phương pháp xử lý dữ liệu  
Sau khi thu thập được các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, nghiên cứu sinh tiến hành  
kiểm tra, làm sạch các dữ liệu cả trước, trong và sau khi mã hóa dữ liệu, nhập dữ liệu;  
tiếp đến, sử dụng phầm mềm SPSS 16 làm công cụ để xử lý dữ liệu. Ngoài ra để xử lý  
dữ liệu, luận án còn sử dụng phương pháp mô tả, thống kê, so sánh, đối chứng, tổng kết  
thực tiễn và chuyên gia.  
6
CHƯƠNG 2  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM  
THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ  
2.1. Công nghệ và đổi mới công nghệ  
2.1.1. Khái niệm công nghệ và ĐMCN  
2.1.1.1. Khái niệm về công nghệ  
Thuật ngữ công nghệ được sử dụng rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra khái  
niệm về công nghệ lại chưa có sự thống nhất, luận án sử dụng quan điểm về công nghệ  
của ESCAP, theo đó “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình kỹ thuật để chế  
biến vật liệu và thông tin; công nghệ bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp  
và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Quan niệm này  
phù hợp với các nước đang phát triển và đủ rộng để làm cơ sở phân tích về ĐMCN của  
luận án, đồng thời quan niệm về công nghệ trong Luật KH&CN (2000) và Luật Chuyển  
giao công nghệ (2006) của Việt Nam cũng bao hàm được nội dung này.  
2.1.1.2. Khái niệm đổi mới công nghệ  
Đổi mới công nghệ cũng là một khái niệm còn nhiều tranh cãi, quan điểm  
ĐMCN trong luận án này là sự kết hợp, bổ sung có chọn lọc các quan điểm. Theo đó,  
“Đổi mới công nghệ là hoạt động thay đổi toàn bộ công nghệ hay thay đổi phần quan  
trọng của công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác tiên tiến hơn, góp phần cải  
thiện chất lượng sản phẩm, tăng năng suất, giảm thiểu tác động xấu tới môi trường và  
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh”.  
2.1.2. Vai trò của công nghệ và đổi mới công nghệ tới phát triển kinh tế- xã hội và  
doanh nghiệp  
2.1.2.1. Vai trò của công nghệ và ĐMCN tới phát triển kinh tế - xã hội  
Mặc dù có sự khác nhau về vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế -  
xã hội ở mỗi quốc gia nhưng chúng ta phải thừa nhận công nghệ thông qua ĐMCN giữ  
vai trò qua trọng đối với sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế của các quốc gia; sự thay đổi  
này sẽ kéo theo sự thay đổi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội phản ánh sự phát triển của quốc  
gia như GDP, chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số sáng  
tạo công nghệ, v.v.  
2.1.2.2. Vai trò của công nghệ và ĐMCN đối với phát triển của DN  
Công nghệ tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, ĐMCN làm gia tăng khả  
năng cạnh tranh của doanh nghiệp và thỏa mãn nhu cầu tương lai của khách hàng  
(Perter Drucker, 1970), còn Beij (1998) cho rằng ĐMCN giúp doanh nghiệp cải thiện vị  
trí cạnh tranh, tăng sản lượng và lợi nhuận ròng, v.v.  
2.1.3. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến ĐMCN của doanh nghiệp  
2.1.3.1. Nhóm các yếu tố bên trong doanh nghiệp  
Bao gồm hai yếu tố chính: (i) năng lực công nghệ của doanh nghiệp (năng lực  
vận hành công nghệ, năng lực tiếp nhận công nghệ, năng lực hỗ trợ tiếp nhận công  
nghệ và năng lực ĐMCN) và (ii) năng lực tài chính của doanh nghiệp (nguồn vốn tự có  
của doanh nghiệp và năng lực huy động vốn cho ĐMCN của doanh nghiệp). Ngoài ra,  
7
còn một số các yếu tố bên trong khác như qui mô doanh nghiệp, loại hình sở hữu doanh  
nghiệp, cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp đối với ĐMCN, v.v.  
2.1.3.2. Nhóm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp  
Bao gồm hai yếu tố chính: (i) áp lực cạnh tranh và (ii) các chính sách của Nhà  
nước. Ngoài ra, còn một số yếu tố khác như ngành nghề kinh doanh, vị trí địa lý của  
doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng công nghệ quốc gia, thể chế chính trị và các vấn đề liên  
quan tới hội nhập kinh tế quốc tế, v.v.  
2.2. Chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
2.2.1. Khái niệm và vai trò của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp  
đổi mới công nghệ  
2.2.1.1. Khái niệm chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy DN ĐMCN  
Luận án cho rằng “Chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN là  
tổng thể các quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các mục tiêu, các giải pháp và  
các công cụ mà Nhà nước sử dụng để thúc đẩy các doanh nghiệp ĐMCN nhằm nâng cao  
hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần phát triển đất nước”. Các yếu  
tố cơ bản của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN thường bao gồm:  
các yếu tố đầu vào, các hành động, đầu ra, kết quả và tác động của chính sách.  
2.2.1.2. Vai trò của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy DN ĐMCN  
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc hoạch định, tổ chức thực thi và đánh giá  
tác động chính sách ĐMCN cho doanh nghiệp thể hiện ở các chức năng mà nó đảm  
nhiệm như: định hướng, tạo tiền đề, điều tiết các hoạt động ĐMCN, kích thích, tạo  
động lực cho doanh nghiệp ĐMCN.  
2.2.2. Mục tiêu chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy DN ĐMCN  
Mục tiêu chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN bao gồm:  
đích cuối cùng mà chính sách hướng tới, mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, mục tiêu đầu  
ra của chính sách (Hình 2.1).  
Mục đích của CSNN nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN:  
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp  
- Đạt được hiệu ứng lan tỏa  
Mục tiêu chung của CSNN nhằm thúc đẩy DN ĐMCN:  
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp  
Mục tiêu cụ thể của CSNN nhằm thúc đẩy DN ĐMCN:  
- Nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp  
Mục tiêu đầu ra của CSNN nhằm thúc đẩy DN ĐMCN:  
- Nâng cao nhận thức của DN về vai trò của hoạt động ĐMCN  
- Gia tăng số lượng doanh nghiệp thực hiện ĐMCN  
- Nâng cao mức đầu tư của DN cho hoạt động ĐMCN  
Hình 2.1: Cây mục tiêu chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy  
doanh nghiệp ĐMCN  
8
2.2.3. Nguyên tắc của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới  
công nghệ  
Nguyên tắc 1: Gắn chính sách thúc đẩy ĐMCN với việc nâng cao năng suất,  
chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
Nguyên tắc 2: Gắn chính sách thúc đẩy ĐMCN với việc phát triển bền vững của  
doanh nghiệp như bảo vệ môi trường, phục vụ xã hội.  
Nguyên tắc 3: ĐMCN phải là sự nghiệp tự thân vận động của doanh nghiệp, trên  
cơ sở kết hợp với sự quản lý, tác động của nhà nước.  
Nguyên tắc 4: Chính sách thúc đẩy ĐMCN phải phù hợp với điều kiện cụ thể  
của đất nước, của doanh nghiệp và của xu hướng hợp tác quốc tế.  
Nguyên tắc 5: ĐMCN là sự nghiệp lâu dài và không có điểm dừng của doanh nghiệp.  
Nguyên tắc 6: hệ thống chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN phải rõ ràng,  
minh bạch, nhất quán, đảm bảo sự phân công, phân cấp hợp lý.  
Nguyên tắc 7: hệ thống chính sách phải đảm bảo sự cân đối, đồng bộ giữa chính  
sách thúc đẩy ĐMCN với các chính sách khác, tôn trọng các qui luật khách quan, qui  
luật kinh tế thị trường.  
Nguyên tắc 8: hệ thống chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN phải phù hợp  
với đối tượng doanh nghiệp, tạo thế chủ động cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt  
động ĐMCN.  
2.2.4. Các chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
2.2.4.1. Chính sách tạo môi trường thể chế nhằm thúc đẩy DN ĐMCN  
Chính sách tạo môi trường thể chế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN được  
hiểu là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua các hệ thống văn bản, qui  
phạm pháp luật, bộ máy tổ chức, cán bộ nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư  
ĐMCN, góp phần thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước về ĐMCN trong từng giai đoạn  
nhất định.  
2.2.4.2. Chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy DN ĐMCN  
Chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN được hiểu là cách thức tác  
động của Nhà nước dựa trên những lợi ích về kinh tế và đòn bẩy kinh tế nhằm kích thích,  
tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư ĐMCN, góp phần thực hiện mục tiêu quản lý  
nhà nước về ĐMCN trong từng giai đoạn cụ thể. Các chính sách kinh tế bao gồm: (i) chính  
sách ưu đãi về thuế, (ii) chính sách tín dụng, (iii) chính sách hỗ trợ trực tiếp, v.v.  
2.2.4.3. Chính sách đào tạo, thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi  
mới công nghệ  
Chính sách đào tạo, thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
được hiểu là cách thức tác động của nhà nước vào nhận thức của doanh nghiệp, làm cho  
9
doanh nghiệp hiểu được tính cấp thiết phải tiến hành ĐMCN, đồng thời hỗ trợ đào tạo  
nguồn nhân lực, hỗ trợ thông tin, tư vấn để doanh nghiệp có thể thực hiện được các  
hoạt động ĐMCN thành công.  
Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng một số chính sách khác như: hỗ trợ phát triển  
thị trường công nghệ, hỗ trợ thành lập các phòng/ban R&D trong doanh nghiệp, phát  
triển hạ tầng công nghệ nhằm phục vụ cho ĐMCN, v.v.  
2.2.5. Các tiêu chí đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi  
mới công nghệ  
2.2.5.1. Khái niệm tiêu chí đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp  
ĐMCN  
Đánh giá chính sách nhà nước được tiến hành bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân  
khác nhau với những tiêu chí khác nhau. Luận án đề xuất bốn nhóm tiêu chí chính để  
đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN: (i) nhóm tiêu chí  
phản ánh hiệu lực của chính sách, (ii) nhóm tiêu chí phản ánh hiệu quả của chính sách,  
(iii) nhóm tiêu chí phản ánh tính phù hợp của chính sách và (iv) nhóm tiêu chí phản  
ánh tính bền vững của chính sách.  
2.2.5.2. Các tiêu chí đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
(i) Nhóm tiêu chí phản ánh hiệu lực chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp ĐMCN  
Hiệu lực chính sách bao gồm việc xác định đúng mục tiêu của chính sách và  
đánh giá các kết quả của chính sách có đạt được mục tiêu đã đề ra hay không (Hiệu lực  
= Kết quả/ Mục tiêu). Hiệu lực chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp  
ĐMCN được đánh giá thông qua các tiêu chí sau:  
Tiêu chí HL1.1: Khả năng nhận biết chính sách nhà nước về ĐMCN của doanh nghiệp  
Tiêu chí HL1.2: Nhận thức của doanh nghiệp về mức độ cần thiết phải đầu tư  
ĐMCN  
Tiêu chí HL1.3: Mức đầu tư cho hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp trong ba  
năm gần đây  
(ii) Nhóm tiêu chí phản ánh hiệu quả chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp ĐMCN  
Hiệu quả chính sách là sự so sánh giữa đầu ra và đầu vào của chính sách (Hiệu  
quả = Kết quả/Đầu vào). Để đánh giá hiệu quả chính sách là phức tạp, bởi vì khó có thể  
đo lường trực tiếp hoặc lượng hóa các đầu vào và kết quả thực tế mà chính sách mang  
lại cho doanh nghiệp, xã hội do tính lan tỏa của hoạt động ĐMCN. Vì thế, hiệu quả của  
chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN được đánh giá thông qua hai  
tiêu chí sau:  
10  
Tiêu chí HQ2.1: Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để tiếp cận chính sách nhà nước  
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
Tiêu chí HQ2.2: Đánh giá chung của doanh nghiệp về hiệu quả của chính sách  
nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.  
(iii) Nhóm tiêu chí phản ánh tính phù hợp của chính sách nhà nước nhằm thúc  
đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
Tính phù hợp của chính sách chịu sự chi phối bởi quan điểm của các bên liên  
quan, tính phù hợp được đánh giá thông qua các tiêu chí:  
Tiêu chí PH3.1: Sự phù hợp của mục tiêu chính sách thúc đẩy doanh nghiệp  
ĐMCN với các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội  
Tiêu chí PH3.2: Thủ tục đăng ký để được hưởng ưu đãi thuận lợi, các quy định  
của Nhà nước để được hưởng ưu đãi và mức hưởng ưu đãi (thuế, tín dụng, hỗ trợ trực  
tiếp và đào tạo) phù hợp.  
(iv) Nhóm tiêu chí phản ánh tính bền vững của chính sách nhà nước nhằm thúc  
đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
Tính bền vững của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
được đánh giá thông qua các tiêu chí:  
Tiêu chí BV4.1: Đánh giá chung của doanh nghiệp về tính bền vững của chính  
sách nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN như: (1) Chính sách có góp phần nâng cao năng  
lực công nghệ của doanh nghiệp không? (2) Chính sách có góp phần nâng cao chất  
lượng sản phẩm không? (3) Chính sách có nâng cao năng lực các chức năng hoạt động  
của doanh nghiệp không?  
Tiêu chí BV4.2: Đánh giá chung của cơ quan quản lý nhà nước về tính bền vững  
của chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN như: (1) Chính sách thực sự tác động tới  
tính chủ động thực hiện các hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp không? (2) Chính sách  
có góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không?  
2.2.6. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh  
nghiệp đổi mới công nghệ  
(i) Nhóm yếu tố thuộc về bối cảnh chính sách: yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị,  
yếu tố KH&CN, yếu tố văn hóa – xã hội, v.v.  
(ii) Nhóm yếu tố thuộc về hoạch định và tổ chức thực thi chính sách của Nhà nước:  
yếu tố bộ máy hoạch định, tổ chức thực thi chính sách, yếu tố thể chế hành chính về  
ĐMCN, yếu tố truyền thông chính sách ĐMCN, yếu tố nguồn lực chính sách cho ĐMCN.  
iii) Nhóm yếu tố thuộc về đối tượng thụ hưởng chính sách  
11  
CHƯƠNG 3  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY  
DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ  
3.1. Kinh nghiệm về chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới  
công nghệ của một số nước trên thế giới  
3.1.1. Kinh nghiệm của Mỹ  
3.1.2. Kinh nghiệm của một số nước Châu Âu  
3.1.2.1. Kinh nghiệm của Hà Lan  
3.1.2.2. Kinh nghiệm của Đức  
3.1.2.3. Kinh nghiệm của Vương Quốc Anh  
3.1.3. Kinh nghiệm của một số nước Châu Á  
3.1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản  
3.1.3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc  
3.1.3.3. Kinh nghiệm của Đài Loan  
3.1.3.4. Kinh nghiệm của Trung Quốc  
3.1.3.5. Kinh nghiệm của Thái Lan  
3.1.4.6. Kinh nghiệm của Malaysia  
3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam  
Thứ nhất, ĐMCN đã trở thành yếu tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự  
thành bại của doanh nghiệp và sự thịnh vượng của quốc gia. Tuy nhiên, để ĐMCN các  
doanh nghiệp cũng gặp phải những khó khăn như nguồn vốn, thông tin về công nghệ;  
điều này cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước bằng các chính sách kinh tế như tín dụng,  
thuế, tài trợ trực tiếp cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động ĐMCN (kinh nghiệm  
của hầu hết các quốc gia nghiên cứu ở trên). Tuy nhiên, để chính sách đi vào đời sống  
có hiệu quả, Nhà nước phải xây dựng và tạo được môi trường thể chế thuận lợi (Thái  
Lan), không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp (Mỹ, Đài Loan) và buộc  
các doanh nghiệp phải ĐMCN nếu doanh nghiệp sử dụng công nghệ không đáp ứng  
được các yêu cầu về sản phẩm, môi trường (Mỹ).  
Thứ hai, hành vi đầu tư ĐMCN của doanh nghiệp chỉ được thực hiện nếu có sự  
xuất hiện của hai nhóm động cơ, đó là năng lực nội tại của doanh nghiệp và động cơ  
đầu tư. Để gia tăng năng lực nội tại, nhà nước cần có những ưu đãi nhất trong việc đào  
tạo để nâng cao và tạo nguồn nhân lực cho ĐMCN, cũng như vinh danh (tuyên truyền)  
các doanh nghiệp đã ĐMCN thành công và các doanh nghiệp có nhiều đóng góp cho sự  
12  
phát triển chung của xã hội (Anh, Đức). Để gia tăng động cơ đầu tư ĐMCN, ngoài việc  
nhà nước sử dụng chính sách ưu đãi thuế, tín dụng thì còn phải áp dụng chính sách tài  
trợ trực tiếp cho doanh nghiệp ĐMCN theo những tỷ lệ nhất định, đặc biệt là các hoạt  
động R&D trong lĩnh vực công nghệ cao (Mỹ, Hà Lan, Hàn Quốc), đặc biết cần hỗ trợ  
doanh nghiệp tiếp nhận và chủ công nghệ trong quá trình thực hiện ĐMCN (Malaysia).  
Thứ ba, ở Việt Nam thị trường công nghệ đã bước đầu hình thành và phát triển;  
tuy nhiên, các doanh nghiệp chủ yếu tham gia vào các mua bán thiết bị, máy móc mà  
chưa tham gia vào các giao dịch có hàm lượng công nghệ cao hơn như mua bán bản  
quyền sáng chế, hợp đồng R&D. Vì thế, Nhà nước cần coi trọng việc xây dựng thể chế  
để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp như chính  
sách thành lập, phát triển nhiều tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ và có  
chính sách hỗ trợ hoạt động nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN (Hàn Quốc, Trung  
Quốc). Hơn nữa, Nhà nước cần hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực R&D của doanh nghiệp  
như: chính sách khuyến khích lập quỹ phát triển KH&CN, chính sách thu hút chuyên  
gia giỏi, nhà khoa học trong lĩnh vực phát triển công nghệ (Mỹ), đồng thời cần chính  
sách hỗ trợ thành lập các bộ phận R&D trong doanh nghiệp, tạo tiền đề để doanh  
nghiệp có thể ĐMCN thành công.  
Thứ tư, Việt Nam cần chú trọng vào các lĩnh vực KH&CN trọng điểm, định  
hướng phát triển công nghệ theo thứ tự ưu tiên trong từng giai đoạn với những ngành  
nghề cụ thể dựa trên lợi thế cạnh tranh (Đức). Từ đó, khuyến khích các doanh nghiệp  
tiếp nhận công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, hỗ trợ các doanh  
nghiệp thực hiện các hoạt động R&D, cải tiến, sao chép công nghệ và tạo ra công nghệ  
mới (Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia), cũng như nâng cao năng lực nguồn nhân lực  
công nghệ thông qua di chuyển nguồn lực sang các quốc gia phát triển hơn để học hỏi  
kinh nghiệm (Nhật Bản); đồng thời Việt Nam cần có chính sách đẩy mạnh đầu tư, phát  
triển hạ tầng công nghệ (Mỹ), tạo tiền đề cho các doanh nghiệp ĐMCN thành công.  
Như vậy, chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN cần được  
xây dựng và hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu và vận dụng linh hoạt những kinh nghiệm  
của các nước trên thế giới phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam.  
13  
CHƯƠNG 4  
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC  
NHẰM THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI  
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ  
4.1. Tổng quan thực trạng ĐMCN của các doanh nghiệp Việt Nam và doanh  
nghiệp trên địa bàn Hà Nội từ năm 2000 đến 2012  
4.1.1. Thực trạng ĐMCN của DN Việt Nam từ năm 2000 đến 2012  
Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam tương đối lạc hậu so với khu  
vực và thế giới, đồng thời đầu tư cho ĐMCN của doanh nghiệp chỉ chiếm 0,1% doanh  
thu hàng năm, trong khi đó đầu tư cho ĐMCN của doanh nghiệp ở Ấn Độ khoảng 5%  
và Hàn Quốc khoảng 10% doanh thu/năm (WEF, 2006; GTZ, 2009; VCCI, 2009;  
CIEM/UNDP, 2006; NISTPASS, 2011, v.v.).  
Nhiều nghiên cứu trước đây (Trần Ngọc Ca, 2000; Nguyễn Võ Hưng, 2003;  
CIEM/UNDP, 2006; Nguyễn Việt Hòa, 2007; VCCI, 2009) đã chỉ ra rằng, ĐMCN ở  
các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là đổi mới mang tính nhỏ lẻ nhằm giải quyết các  
vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới phần lớn dựa  
vào việc nhập công nghệ từ nước ngoài.  
Kết quả nghiên cứu của CIEM, DOE, GSO (2012) chỉ ra: có 11,9% doanh  
nghiệp thực hiện các hoạt động R&D, 16,4% doanh nghiệp đổi mới máy móc, thiết bị  
hiện có mà không thực hiện hoạt động R&D, còn lại 71,7% doanh nghiệp không tham  
gia bất kỳ hoạt động nào liên quan tới ĐMCN.  
4.1.2. Thực trạng ĐMCN của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội từ năm 2000  
đến năm 2012  
4.1.2.1. Thực trạng trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội từ  
năm 2000 đến 2012  
Kết quả điều tra 119 doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội cho thấy: có 28,57%  
doanh nghiệp sử dụng công nghệ có trình độ thấp, 47,9% doanh nghiệp sử dụng công  
nghệ có trình độ trung bình và 23,53% doanh nghiệp có sử dụng công nghệ cao. Kết  
quả nghiên cứu này có sự khác biệt nhưng không lớn so với các nghiên cứu trước đây  
về trình độ công nghệ của các DN nói chung và DN trên địa bàn Hà Nội nói riêng  
(CIEM, 2006; HASMEA, 2007, VCCI, 2011).  
4.1.2.2. Thực trạng đầu tư ĐMCN của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội từ năm  
2000 đến 2012  
Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tiến hành các hoạt động ĐMCN ở mức trên  
trung bình nhưng tỷ lệ đầu tư cho ĐMCN/doanh thu còn hạn chế. Cụ thể, chỉ có 9,24%  
doanh nghiệp đầu tư ĐMCN lớn hơn 2%/doanh thu, 12,61% doanh nghiệp đầu tư  
ĐMCN từ 1 đến 2%/doanh thu, 31,09% doanh nghiệp đầu tư ĐMCN từ 0,5 đến  
1%/doanh thu và có tới 47,06% doanh nghiệp đầu tư ĐMCN thấp hơn 0,5%/doanh thu.  
4.1.2.3. Thực trạng nhu cầu và định hướng ĐMCN của các doanh nghiệp trên địa bàn  
Hà Nội từ năm 2000 đến 2012  
Nhu cầu ĐMCN của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội ở mức tương đối cao:  
chỉ có 3,4% doanh nghiệp không có nhu cầu ĐMCN, 24,4% doanh nghiệp chưa có nhu  
cầu thực sự về ĐMCN, 66,4% doanh nghiệp có nhu cầu ĐMCN và 5,9% doanh nghiệp  
rất có nhu cầu ĐMCN ở hiện tại.  
14  
Định hướng ĐMCN của DN trong tương lai nhằm nâng cao chất lượng sản  
phẩm, hạ giá thành, nâng cao năng suất và áp lực cạnh tranh của DN có ý nghĩa cao  
(điểm trung bình 3.9832), doanh nghiệp ĐMCN vì nhận được ưu đãi của Nhà nước có  
ý nghĩa thấp hơn cả (điểm trung bình 2.6975).  
4.1.2.4. Thực trạng năng lực công nghệ của doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội phục vụ  
cho ĐMCN từ năm 2000 đến 2012  
(i) Về năng lực công nghệ của doanh nghiệp: Kết quả điều tra 119 doanh nghiệp  
trên địa bàn Hà Nội cho thấy: năng lực vận hành công nghệ và năng lực tiếp nhận công  
nghệ được đánh giá là tương đối tốt (điểm trung bình tương ứng là 3.9748 và 3.8571),  
năng lực hỗ trợ tiếp nhận công nghệ được đánh giá là tương đối khá (điểm 3.3025),  
năng lực ĐMCN được đánh giá là tương đối hạn chế (điểm 2.6723).  
(ii) Về năng lực tài chính của doanh nghiệp: Doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội  
nói chung có khó khăn về vốn và huy động vốn trong quá trình thực hiện ĐMCN. Cụ  
thể, có 8,4% doanh nghiệp cho rằng rất khó khăn, 42,86% doanh nghiệp cho rằng khó  
khăn, 39,5% doanh nghiệp có thể huy động được vốn, 8,4% doanh nghiệp không có  
khó khăn về vốn và chỉ có 0,84% doanh nghiệp không gặp bất cứ khó khăn gì về vốn  
(điểm trung là 3.4958).  
4.2. Thực trạng chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công  
nghệ giai đoạn 2000 đến 2012  
4.2.1. Mục tiêu chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN từ năm  
2000 đến 2012  
4.2.2. Các chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN từ năm 2000  
đến 2012  
4.2.2.1. Chính sách tạo môi trường thể chế nhằm thúc đẩy DN ĐMCN  
(i) Xây dựng hệ thống pháp luật  
Hiện nay Việt Nam có hơn 80 văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới hoạt  
động ĐMCN nhưng nhìn chung hệ thống văn bản còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, nhiều  
văn bản chỉ nhắc lại nhiệm vụ chung, tuy có đề cập tới các hoạt động ĐMCN nhưng ít  
liên quan tới thúc đẩy hoạt động R&D nhằm tăng cường năng lực nội sinh của DN, đặc  
biệt là các DN vừa và nhỏ.  
Hà Nội đã ban hành một số văn bản qui phạm pháp luật nhằm thúc đẩy DN trên địa  
bàn ĐMCN phù hợp với điều kiện của thành phố, phù hợp với các chính sách thúc đẩy  
doanh nghiệp ĐMCN của Trung ương, cũng như phù hợp với các qui định hiện hành của  
pháp luật. Tuy nhiên, theo, đánh giá của doanh nghiệp trên địa bàn về hệ thống pháp luật  
liên quan tới ĐMCN là chưa cao. Cụ thể: (1) hệ thống các văn bản pháp qui còn thiếu cho  
hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp (56,3% doanh nghiệp đồng ý); (2) các chính sách  
được ban hành thiếu sự tham gia của doanh nghiệp (63% doanh nghiệp đồng ý); (3) các  
văn bản pháp qui còn chồng chéo và chưa đồng bộ (42% doanh nghiệp đồng ý).  
(ii) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (QLNN)  
Bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN nói chung, trong đó có QLNN về ĐMCN được  
phân cấp quản lý dựa theo Luật KH&CN (2000), Nghị định 28/2008/NĐ-CP qui định chi tiết  
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN. Bộ máy QLNN hiện  
nay được đánh giá là chưa phù hợp, thiếu sự phân công rõ ràng về trách nhiệm giữa các Bộ,  
ngành và giữa Trung ương với địa phương trong hoạt động thúc đẩy DN ĐMCN.  
15  
Hà Nội cũng như địa phương khác Bộ máy QLNN về KH&CN được tổ chức  
theo Thông tư số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm  
vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân QLNN  
về KH&CN ở địa phương; Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND về việc quy định chức  
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở KH&CN Hà Nội. Kết quả điều tra  
119 DN trên địa bàn Hà Nội cho thấy: (1) sự phối hợp giữa các đơn vị/cơ quan QLNN  
về ĐMCN chưa tốt (điểm trung bình là 3.6218); (2) năng lực giải quyết của cán bộ  
QLNN về ĐMCN cũng còn hạn chế (điểm trung bình là 3.6891).  
4.2.2.2. Chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN  
(i) Chính sách thuế:  
Từ năm 2004 đến nay, các ưu đãi về thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá  
trị gia tăng, thuế xuất, nhập khẩu, thuế đất) cho hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp  
được áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp có vốn  
đầu tư trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Luật đầu tư 2005) và  
được qui định trong các điều khoản của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế  
GTGT, Luật chuyển giao công nghệ, Luật KH&CN và các Nghị định, Nghị quyết,  
Thông tư hướng dẫn, v.v.  
Hà Nội chưa có ưu đãi đặc biệt gì về thuế cho ĐMCN của DN, mà chủ yếu triển  
khai các chính sách từ Trung ương ban hành.  
(ii) Chính sách tín dụng:  
Ưu đãi tín dụng cho ĐMCN của doanh nghiệp bao gồm:(1) ưu đãi tín dụng  
thương mại của ngân hàng, các tổ chức tín dụng và (2) ưu đãi tín dụng tại các Quỹ phát  
triển KH&CN (Quỹ phát triển KH&CN quốc gia; Bộ/ngành/địa phương/cá nhân; Quỹ  
phát triển KH&CN của DN), Quỹ đầu tư mạo hiểm, v.v.  
Hà Nội ban hành qui chế bảo lãnh tín dụng cho DN vừa và nhỏ trên địa bàn Hà  
Nội của Quỹ đầu tư phát triển Thành phố Hà Nội (Quyết định số 206/2006/QĐ-  
UBND); Quyết định số 75/2009/QĐ-UBND về việc ban hành quy chế đánh giá, xét  
chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực thành phố Hà Nội; Quyết định  
số 5487/QĐ-UBND (24/11/2011) về hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho DN của Hà Nội;  
Quyết định số 4406/QĐ-UBND (3/10/2012) về việc sửa đổi, bổ sung điều 1, mục 5 của  
Quyết định số 2650/QĐ-UB, theo đó, thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư tối đa  
là 2 năm, lãi suất 2,4%/năm.  
iii) Chính sách hỗ trợ trực tiếp:  
Tình hình hỗ trợ trực tiếp theo Nghị định 119 đến nay đã có 95 đề tài nghiên cứu  
của doanh nghiệp được nhà nước hỗ trợ kinh phí trên tổng số 401 đăng ký. Trong đó,  
có 53 đề tài tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới, 18 đề tài nghiên cứu cải tiến công  
nghệ hiện có, 14 đề tài nghiên cứu nhằm thay thế phụ tùng nhập khẩu, cải thiện ô  
nhiễm môi trường với tổng kinh phí hỗ trợ là 91,633 tỷ đồng. Các đề tài nghiên cứu  
của doanh nghiệp Hà Nội chiếm 50% trên tổng số các đề tài được cấp kinh phí năm  
2008 và 46,67% năm 2009.  
Hà Nội chưa có nhiều chính sách riêng biệt nhằm thúc đẩy doanh nghiệp trên địa  
bàn ĐMCN ngoài Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND về chính sách hỗ trợ phát triển  
nghề và làng nghề Hà Nội; Quyết định số 95/2009/QĐ-UBND về việc ban hành qui chế  
quản lý các chương trình đề tài, dự án, đề án KH&CN của Hà Nội; tại Điều 9, Quyết  
16  
định số 75/2009/QĐ-UBND thì các doanh nghiệp được hỗ trợ 100% kinh phí nghiên  
cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại, sản xuất thử nghiệm nhằm hoàn thiện công nghệ,  
sản xuất các nguyên liệu, phụ liệu thay thế hàng nhập khẩu phục vụ cho sản xuất sản  
phẩm công nghiệp chủ lực.  
Như vậy, nhìn chung các qui định để được hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ  
trực tiếp được doanh nghiệp đánh giá còn phức tạp, hiệu lực thi hành một số văn bản  
pháp luật trên thực tế chưa được đảm bảo nên chưa thực sự đem lại hiệu quả tích cực  
như doanh nghiệp mong muốn (Dương Thị Ninh, 2007; Nguyễn Việt Hòa, 2011). Hơn  
nữa, theo đánh giá của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, chính sách kinh tế của  
Nhà nước chưa thực sự tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp đầu từ ĐMCN (xem tiêu chí  
PH3.1, mục 4.3.1.3).  
4.1.2.3. Chính sách đào tạo, thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi  
mới công nghệ  
(i) Chính sách đào tạo:  
Từ năm 2000 đến nay Chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm nâng cao năng  
lực nguồn nhân lực công nghệ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính sách đào tạo nhằm  
thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN thời gian qua chưa phát huy hiệu quả cao, thể hiện rõ  
nhất là hiện nay rất ít doanh nghiệp có khả năng tiến hành các hoạt động R&D ngay tại  
doanh nghiệp, đồng thời nguồn nhân lực phục vụ cho ĐMCN được đánh giá là yếu nên  
chưa đáp ứng được các yêu cầu trong hoạt động ĐMCN.  
Hà Nội đã ban hành một số chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực bằng các  
khóa đào tạo ngắn hạn. Cụ thể: Quyết định số 4635/QĐ-UBND (19/11/2007) về việc  
phê duyệt kế hoạch, dự toán kinh phí chương trình đào tạo thí điểm giám đốc điều hành  
cho DN; Quyết định số 5629/QĐ-UBND (12/11/2010) về việc phê duyệt kế hoạch hỗ  
trợ DN nhỏ và vừa giai đoạn 2011-2015. Ngoài ra, Hà Nội hỗ trợ kinh phí đào tạo, thu  
hút các chuyên gia giỏi, các nhà khoa học đầu ngành tham gia sự nghiệp phát triển Thủ  
đô theo Quyết định 48/2007/QĐ-UBND, Quyết định số 91/2009/QĐ-UB; đồng thời hỗ  
trợ 100% kinh phí đào tạo ngắn hạn nhằm nâng cao năng lực và kỹ năng kinh doanh  
các sản phẩm công nghiệp chủ lực tại Điều 8, Quyết định số 75/2009/QĐ-UBND.  
(ii) Chính sách thông tin, tuyên truyền:  
Chính sách thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN thông  
qua các phương tiện truyền thông như trên ti vi, đài, báo giấy, các tổ chức xã hội,  
internet đã mang lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, các cơ quan hoạch định  
chính sách lại chưa quan tâm nhiều đến việc phổ biến, tuyên truyền về chính sách liên  
quan tới ĐMCN cho doanh nghiệp, cho nên DN nhận biết, tiếp cận về các văn bản pháp  
luật liên quan tới ĐMCN còn nhiều hạn chế.  
Hà Nội đã ban hành chính sách hỗ trợ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường,  
đối tác kinh doanh, tham gia hội chợ triển lãm theo Điều 2, Quyết định số 22/2008/QĐ-  
UB; đồng thời thành phố hỗ trợ cho các hoạt động phổ biến, tuyên truyền về cơ chế  
phát triển sạch theo Quyết định số 38/2010/QĐ-UBND của Quỹ Bảo vệ môi trường Hà  
Nội. Đặc biệt thành phố đã ban hành chính sách phổ biến áp dụng và ĐMCN trong  
doanh nghiệp theo mục e, dự án 3 của Quyết định 6374/QĐ-UB (27/12/2010); qua đó,  
thành phố hỗ trợ doanh nghiệp trình diễn công nghệ, phổ biến các mô hình ĐMCN,  
cung cấp thông tin, quảng bá các mô hình ĐMCN hàng năm trên mạng internet, trên  
17  
truyền hình. Ngoài ra, thành phố ban hành Quy chế xét thưởng, tôn vinh cho các doanh  
nghiệp có thành tích trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm theo Quyết định số 58/2001/  
QĐ- UB và Quyết định số 42/2008/QĐ-UBND.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội mặc dù nhận  
biết được các chính sách nhằm thúc đẩy ĐMCN tương đối cao nhưng hiểu và vận dụng  
được chính sách còn hạn chế (xem tiêu chí HL1.1, mục 4.3.1.1), nên chưa phát huy  
được hiệu lực, hiệu quả chính sách.  
4.3. Đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp trên địa bàn Hà  
Nội đổi mới công nghệ từ năm 2000 đến 2012  
4.3.1. Đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp trên địa bàn Hà  
Nội đổi mới công nghệ theo các nhóm tiêu chí  
4.3.1.1. Đánh giá hiệu lực chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp trên địa  
bàn Hà Nội đổi mới công nghệ  
(i) Tiêu chí HL1.1: Khả năng nhận biết chính sách nhà nước về ĐMCN của  
doanh nghiệp. Mặc dù số lượng DN trên địa bàn Hà Nội nhận biết được các văn bản  
pháp luật về ĐMCN ở mức độ cao (90,8%); tuy nhiên, hiểu và vận dụng được nội dung  
của các văn bản pháp luật này thì còn nhiều hạn chế.  
(ii) Tiêu chí HL1.2: Nhận thức của doanh nghiệp về mức độ cần thiết phải đầu tư  
ĐMCN. Nhận thức của DN về mức độ cần thiết phải tiến hành các hoạt động ĐMCN ở  
mức độ tương đối cao (điểm trung bình từ 3.6723 đến 4.1176); qua đó, doanh nghiệp có  
nhận thức cao nhất đối với việc cần thiết phải nâng cao nguồn nhân lực phục vụ ĐMCN  
(4.1176) và thấp nhất là tổ chức cơ cấu bộ máy cho ĐMCN (3.6723).  
(iii) Tiêu chí HL1.3: Mức đầu tư cho hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp trong ba  
năm gần đây. Khi được hỏi về mức đầu tư cho ĐMCN của các DN trong 3 năm gần đây,  
87% doanh nghiệp được hỏi trả lời là có xu hướng gia tăng về mức đầu tư cho ĐMCN  
như: đầu tư cải tiến dây chuyền công nghệ, đầu tư nghiên cứu triển khai sản phẩm mới/qui  
trình mới, đầu tư nâng cao năng lực nguồn nhân lực phục vụ cho ĐMCN, vv.  
Như vậy, đánh giá chung của 119 doanh nghiệp được điều tra trên địa bàn Hà  
Nội cho thấy tính hiệu lực của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy DN ĐMCN còn  
chưa cao (điểm trung bình là 2.395): có 21,01% doanh nghiệp đánh giá ở mức rất thấp,  
26,05% ở mức thấp, 45,38% ở mức trung bình, 7,56% ở mức cao và 0% doanh nghiệp  
đánh giá ở mức rất cao.  
4.3.1.2. Đánh giá hiệu quả của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp trên  
địa bàn Hà Nội đổi mới công nghệ  
(i) Tiêu chí HQ 1.2: Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để tiếp cận chính sách nhà  
nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN. Chỉ có 3,36% doanh nghiệp trên tổng số 119  
doanh nghiệp được hỏi trên địa bàn Hà Nội cho rằng chi phí bỏ ra để tiếp cận chính sách là  
rất đắt, 7,56% doanh nghiệp cho rằng đắt, 29,41% cho rằng chí phí bỏ ra để tiếp cận chính  
sách ở mức độ trung bình và 59,67% cho rằng rẻ và rất rẻ (điểm trung bình là 2.1597).  
(ii) Tiêu chí HQ2.2: Đánh giá chung của doanh nghiệp về hiệu quả của chính  
sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN. Có 30,25% doanh nghiệp đánh giá  
ở mức rất thấp, 15,97% ở mức thấp, 46,22% ở mức trung bình, 7,56% ở mức cao (điểm  
trung bình là 2.3109).  
18  
4.3.1.3. Đánh giá tính phù hợp của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp  
trên địa bàn Hà Nội đổi mới công nghệ  
(i) Tiêu chí PH3.1: sự phù hợp của mục tiêu chính sách thúc đẩy doanh nghiệp  
ĐMCN với các mục tiêu phát triển KT-XH. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực QLNN  
về ĐMCN, việc ban hành các chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN là tương đối  
phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; tuy nhiên, mức hỗ trợ doanh nghiệp còn  
ít, các văn bản pháp luật còn dàn trải. Ở giác độ doanh nghiệp, tính phù hợp của chính  
sách nhà nước có sự khác so với quan điểm đứng trên giác độ Nhà nước nhưng không  
lớn; cụ thể, có 17,65% doanh nghiệp đánh giá ở mức rất thấp, 32,77% ở mức thấp,  
30,25% ở mức trung bình, 19,33% ở mức cao (điểm trung bình là 2.5126).  
(ii) Tiêu chí PH3.2: thủ tục đăng ký để được hưởng ưu đãi thuận lợi, các quy  
định của Nhà nước để được hưởng ưu đãi và mức hưởng ưu đãi (thuế, tín dụng, hỗ trợ  
trực tiếp và đào tạo) phù hợp. Qua đánh giá của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội  
và đánh giá của các chuyên gia QLNN về ĐMCN ta thấy hệ thống chính sách về  
ĐMCN đã dần được hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt  
Nam; tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật về ĐMCN dựa trên nhu  
cầu sản xuất kinh doanh thực sự của DN, đơn giản hóa thủ tục hành chính để được  
hưởng ưu đãi, tăng mức hưởng ưu đãi đối với hoạt động ĐMCN ở doanh nghiệp.  
4.3.1.4. Đánh giá tính bền vững của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp  
trên địa bàn Hà Nội đổi mới công nghệ  
(i) Tiêu chí BV4.1: Đánh giá chung của doanh nghiệp về tính bền vững của  
chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN. Có 19,33% doanh nghiệp đánh giá ở mức  
rất thấp, 30,25% ở mức thấp, 46,22% ở mức trung bình, 1,68% ở mức cao và 2,52%  
doanh nghiệp đánh giá ở mức rất cao; cho nên tính bền vững của chính sách ĐMCN  
được doanh nghiệp đánh giá còn ở mức độ chưa cao và chưa có tác động mạnh tới các  
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (điểm trung bình là 2.3782).  
(ii) Tiêu chí BV4.2: đánh giá chung của cơ quan quản lý nhà nước về tính bền  
vững của chính sách nhà nước thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN. Theo các chuyên gia  
QLNN về ĐMCN, tính bền vững của chính sách nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN ở  
mức độ trung bình; các chính sách trong thời gian vừa qua chưa thực sự quan tâm tới sự  
phát triển KH&CN của doanh nghiệp, chưa thực sự lấy doanh nghiệp là trung tâm để  
hình thành và ban hành các chính sách ĐMCN cho doanh nghiệp.  
4.3.2. Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy  
doanh nghiệp ĐMCN  
4.3.2.1. Ưu điểm  
Các văn bản qui phạm pháp luật hiện nay đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối  
đầy đủ trong việc phân cấp, phân quyền quản lý từ Trung ương đến địa phương để có  
thể xây dựng, ban hành, thực thi, kiểm soát các chính sách nhà nước thúc đẩy doanh  
nghiệp ĐMCN một cách có hiệu quả.  
Nhà nước đã ban hành nhiều ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ trực tiếp nhằm thúc  
đẩy doanh nghiệp ĐMCN, các chính sách này đã tạo điều kiện tương đối thuận lợi cho  
doanh nghiệp ĐMCN. Điều này cho thấy, chính sách kinh tế đã được hình thành một  
cách tương đối có hệ thống và đã trở thành chính sách điều tiết vĩ mô quan trọng nhằm  
thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN.  
19  
Hoạt động đào tạo, thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao năng lực nhân lực công  
nghệ, nhận thức của doanh nghiệp về ĐMCN đã bước đầu được hình thành và có những  
thành tựu nhất định. Đặc biệt là các hoạt động trợ giúp đào tạo đội ngũ quản trị doanh  
nghiệp, truyền thông chính sách trên các phương tiện truyền thông và mạng internet.  
4.3.2.2. Nhược điểm  
Chính sách tạo môi trường thể chế trong thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được  
yêu cầu của quá trình phát triển, đặc biệt là quá trình tiếp nhận, thích nghi, làm chủ và  
ĐMCN của doanh nghiệp; cũng như chưa có những chế tài pháp luật đặc biệt, đủ mạnh  
để buộc các doanh nghiệp phải tiến hành các hoạt động ĐMCN nếu muốn tồn tại và  
phát triển.  
Các chính sách kinh tế nói chung chưa đủ mạnh để thúc đẩy doanh nghiệp  
ĐMCN. Cụ thể, DN đầu tư ĐMCN không phải vì sẽ được ưu đãi mà xuất phát từ chính  
yêu cầu của DN trong quá trình sản xuất, kinh doanh và ngược lại khi yêu cầu của quá  
trình sản xuất, kinh doanh đòi hỏi phải ĐMCN thì những khó khăn khách quan chỉ ảnh  
hưởng đến tiến độ thực hiện ĐMCN, chứ không ảnh hưởng tới quyết định thực hiện  
ĐMCN của doanh nghiệp.  
Chính sách đào tạo, thông tin, tuyên truyền chưa phát huy được hiệu quả như  
mong muốn, đặc biệt tư vấn cho DN sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường;  
đồng thời chưa có phương thức đào tạo, thông tin, tuyên truyền hiệu quả trong việc  
nâng cao nhận thức lợi ích của ĐMCN đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng  
như tác động của nó tới lợi ích xã hội.  
4.2.3.3. Nguyên nhân tồn tại những nhược điểm  
(i) Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp  
Doanh nghiệp chưa có kế hoạch ĐMCN mang tính dài hạn nên chưa có động cơ  
nghiên cứu các nội dung chính sách ưu đãi của Nhà nước hiện có.  
Năng lực của doanh nghiệp thể hiện ở năng lực của nguồn nhân lực phục vụ cho  
ĐMCN và năng lực tài chính của doanh nghiệp nhìn chung còn nhiều hạn chế, nên quá  
trình tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn công nghệ và huy động vốn cho ĐMCN chưa thực  
sự phát huy được hiệu quả.  
(ii) Nguyên nhân từ phía Nhà nước  
Thực trạng phát triển kinh tế còn hạn chế, tỷ lệ chi ngân sách của Nhà nước cho  
KH&CN nói chung, ĐMCN nói riêng còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực và thế giới.  
Mặc dù đã có những đối thoại nhất định với DN trong quá trình xây dựng, thực  
thi các văn bản pháp luật liên quan tới ĐMCN, nhưng quá trình đối thoại này còn mang  
tính hình thức; cho nên có nhiều văn bản ban hành nhưng DN lại không biết rõ nội  
dung hoặc biết nhưng không sử dụng được. Vì thế, các doanh nghiệp đã ĐMCN theo  
tính toán riêng của mình mà không bị phụ thuộc vào hệ thống chính sách ĐMCN do  
Nhà nước ban hành.  
Năng lực hoạch định, tổ chức thực thi chính sách ĐMCN của cơ quan QLNN còn  
hạn chế; hơn nữa, công tác cải cách hành chính trong hoạt động KH&CN chưa phát  
huy tác dụng, còn phức tạp, nhiều thủ tục giấy tờ.  
Ngoài ra, cơ sở hạ tầng công nghệ của Việt Nam còn hạn chế, chưa xây dựng  
được nền văn hóa công nghệ công nghệ cao, thị trường công nghệ chưa phát triển nên  
chưa tạo tiền đề cần thiết cho ĐMCN ở doanh nghiệp.  
20  
CHƯƠNG 5  
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM  
THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ  
5.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước đối với việc hoàn thiện chính sách nhà nước  
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ  
5.1.1. Bối cảnh quốc tế  
Thứ nhất, do tốc độ phát triển nhanh của KH&CN, làm cho vòng đời công nghệ  
ngắn lại, khiến nhu cầu ĐMCN của doanh nghiệp tăng.  
Thứ hai, xu hướng hợp tác quốc tế tạo ra sự lưu chuyển dễ dàng về công nghệ  
giữa các quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐMCN.  
Thứ ba, sự phát triển công nghệ không đồng đều giữa các quốc gia, buộc các  
quốc gia đang phát triển phải nhập công nghệ từ các nước phát triển.  
5.1.2. Bối cảnh trong nước  
Thứ nhất, Việt Nam là thành viên của WTO; đây là những cơ hội cho Việt Nam  
tiếp thu các tri thức công nghệ mới của thế giới, nhưng cũng là thách thức trong việc  
nâng cao năng lực công nghệ nhằm thu hẹp khoảng cách công nghệ so với các nước  
trong khu vực và thế giới.  
Thứ hai, Nhà nước tiếp tục khẳng định KH&CN giữ vai trò then chốt để tạo bước  
đột phá về lực lượng sản xuất và đổi mới mô hình tăng trưởng.  
Thứ ba, Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổ mô hình tăng trưởng kinh tế,  
xây dựng nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực giá rẻ, tài nguyên không phát huy được  
lợi thế so sánh; vì thế, Nhà nước ưu tiên cho phát triển công nghệ, đẩy mạnh nghiên  
cứu, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, đồng thời xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực  
xã hội tham gia phát triển KH&CN.  
5.2. Quan điểm của Nhà nước nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy doanh nghiệp  
đổi mới công nghệ  
Thứ nhất, Nhà nước trước tiên là hỗ trợ các doanh nghiệp ĐMCN dưới dạng tiếp  
nhận máy móc, thiết bị thông qua chuyển giao công nghệ, sau đó sẽ hỗ trợ các doanh  
nghiệp tự thực hiện hoạt động R&D để tiến tới ĐMCN.  
Thứ hai, chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN phải gắn với  
việc nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa  
và nhỏ, góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành nghề.  
Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ĐMCN, tạo điều  
kiện thuận lợi về thủ tục hành chính nhằm đẩy nhanh tiến độ ĐMCN.  
Thứ tư, để tạo động lực và thúc đẩy đầu tư ĐMCN ở doanh nghiệp thì Nhà nước  
cần phải sử dụng đồng bộ các chính sách và có lộ trình.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang yennguyen 10160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ: Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_chinh_sach_nha_nuoc_nham_thuc_day_doanh_nghi.pdf