Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu đánh giá và đề xuất một số giải pháp nâng cao độ nhám mặt đường của tuyến đường tránh Đà Nẵng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
  
MAI XUÂN HÙNG  
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ  
GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘ NHÁM MẶT ĐƯỜNG  
CỦA TUYẾN ĐƯỜNG TRÁNH ĐÀ NẴNG  
Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình giao thông  
Mã số:60.58.02.05  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT  
Đà Nẵng – Năm 2015  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. VŨ ĐÌNH PHỤNG  
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Quang Đạo  
Phản biện 2: TS. Nguyễn Hồng Hải  
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn  
tốt nghiệp thạc sĩ Kỹ thuật Xây dựng Công trình giao thông tại Đại  
học Đà Nẵng vào ngày 08 tháng 8 năm 2015.  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
− Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
− Trung tâm Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Tuyến đường tránh Đà Nẵng làm giảm hành trình xe lưu thông  
rút ngắn 10km so với khi xe đi vào trong thành phố, điều này giúp  
cho các phương tiện giao thông vận tải tiết kiệm được chi phí nhiên  
liệu, chi phí hao mòn. Hiện nay lưu lượng tham gia giao thông ngày  
càng tăng, mặc dù tuyến đường được thiết kế với vận tốc V≤80km/h.  
Tuy nhiên qua khảo sát thực tế, tác giả nhận thấy có rất nhiều xe  
chạy vượt vận tốc 80km/h, mặt đường có nhiều hư hỏng, tình trạng  
mặt đường xấu, bị trơn trượt xảy ra nhiều tai nạn giao thông. Sức  
chống trượt của mặt đường là một yếu tố quan trọng để đảm bảo an  
toàn xe chạy với tốc độ cao, đặc biệt trong điều kiện mặt đường bị ẩm  
ướt làm cho độ bám của bánh xe với mặt đường bị suy giảm đáng kể.  
Trong tương lai nếu nâng cấp hay cải tạo sữa chữa, kiến nghị nên nâng  
cao độ nhám mặt đường của tuyến đường này. Đó chính là lý do tác  
giả chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá và đề xuất một số giải pháp  
nâng cao độ nhám mặt đường của tuyến đường tránh Đà Nẵng”.  
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
- Nghiên cứu về độ nhám của mặt đường bê tông nhựa của  
tuyến đường tránh Đà Nẵng.  
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
- Nghiên cứu về độ nhám, hệ số bám xe chạy nhằm nâng cao  
sức kháng trượt của mặt đường để đảm bảo an toàn giao thông.  
4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
- Đề xuất các giải pháp nâng cao độ nhám cho tuyến đường  
tránh Đà Nẵng.  
2
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Tiến hành khảo sát hiện trường kết hợp lý thuyết từ các tài liệu  
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về độ nhám mặt  
đường bê tông nhựa và các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành của Việt  
Nam, nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao độ nhám mặt đường của  
tuyến tránh Đà Nẵng.  
6. BỐ CỤC ĐỀ TÀI  
Bố cục luận văn gồm phần mở đầu, 4 chương, kết luận, kiến  
nghị và các tài liệu tham khảo  
Chương 1: Tổng quan về độ nhám mặt đường ô tô.  
Chương 2: Bản chất độ nhám mặt đường ô tô và các phương  
pháp thí nghiệm đánh.  
Chương 3: Đánh giá độ nhám tuyến tránh Đà Nẵng.  
Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nâng cao độ nhám mặt  
đường tuyến tránh Đà Nẵng.  
3
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ ĐỘ NHÁM MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ  
1.1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỘ NHÁM MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ  
Mặt đường là bộ phận trực tiếp chịu tác dụng của tải trọng xe  
chạy và sự phá hoại thường xuyên của các nhân tố thiên nhiên như  
mưa, gió, sự thay đổi nhiệt độ, … Do đó khi thiết kế và xây dựng  
mặt đường phải đạt được các yêu cầu chung về cường độ, độ bằng  
phẳng, độ nhám, sức chịu bào mòn tốt và sản sinh ra ít bụi.  
Trong những năm gần đây, một vấn đề lớn của chuyên ngành  
đường ô tô được các chuyên gia trên thế giới cũng như trong nước  
quan tâm, đó là vấn đề an toàn giao thông. Những tai nạn giao thông  
đường bộ xảy ra ngoài các nguyên nhân do tổ chức giao thông chưa  
tốt, do ý thức của người tham gia giao thông chưa cao, do điều kiện  
địa hình hạn chế,… thì một nguyên nhân không nhỏ là do tình trạng  
mặt đường xấu, bị trơn trượt. Sức chống trượt của mặt đường là một  
yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn cho xe chạy với tốc độ cao,  
đặc biệt trong điều kiện mặt đường bị ẩm ướt làm cho độ bám của  
bánh xe với mặt đường bị suy giảm đáng kể. Nhằm nâng cao khả  
năng chống trượt của mặt đường ô tô, các nhà thiết kế, xây dựng và  
khai thác đường ô tô luôn tìm cách làm cho mặt đường có độ nhám  
cao, lâu mòn và tương đối ổn định cả trong khi mặt đường bị ẩm ướt.  
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘ NHÁM MẶT ĐƯỜNG  
Ô TÔ TRÊN THẾ GIỚI  
Trên thế giới, nhất là ở các nước như Anh, Mỹ, Pháp, Nga,…  
do hệ thống đường cao tốc đã được xây dựng và phát triển từ những  
4
năm 1950 nên đã có nhiều tổ chức, cơ quan chú trọng nghiên cứu về  
độ nhám của mặt đường bê tông nhựa.  
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘ NHÁM MẶT ĐƯỜNG  
Ô TÔ Ở VIỆT NAM  
Những năm trước đây, hệ thống đường bộ Việt Nam mật độ  
đường còn thấp, khai thác chủ yếu ở tốc độ thấp vì vậy vấn đề độ  
nhám của mặt đường ô tô chưa được chú trọng đúng mức. Nhìn  
chung, các nghiên cứu về độ nhám trong giai đoạn này chưa có gì  
đáng kể, chưa có một quy trình thiết kế, phương pháp tuyển chọn vật  
liệu nhằm mục đích tạo nhám được ban hành.  
Các nghiên cứu về độ nhám mặt đường ở nước ta cho đến nay  
vẫn chỉ ở giai đoạn đầu và chủ yếu là ứng dụng công nghệ của nước  
ngoài vào Việt Nam. Chúng ta còn thiếu rất nhiều từ thiết bị thí  
nghiệm, thiết bị thi công, thiết bị đánh giá độ nhám, một yếu tố nữa  
là điều kiện khí hậu của nước ta không giống với các nước châu Âu,  
Mỹ. Chình vì vậy việc áp dụng các công nghệ tạo nhám này vào  
nước ta cần phải có quá trình nghiên cứu và thực nghiêm, sửa đổi  
cho phù hợp.  
5
CHƯƠNG 2  
NGHIÊN CỨU BẢN CHẤT ĐỘ NHÁM MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ  
VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM ĐÁNH GIÁ  
2.1 BẢN CHẤT CỦA ĐỘ NHÁM MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ  
2.1.1. Cấu trúc, phân loại độ nhám bề mặt của mặt đường  
ôtô  
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng  
đến độ nhám của bánh xe với mặt đường, hay hệ số ma sát giữa bánh  
xe với mặt đường, trong đó về phương diện đường thì yếu tố chủ yếu  
và quan trọng là độ nhám bề mặt của đường, trong đó gồm:  
+ Nhám vĩ mô (nhám thô - macrotexture) được định nghĩa là  
độ chênh cao giữa bề mặt đường so với mặt phẳng chuẩn với các  
kích thước đặc trưng của bước sóng và biên độ thấp nhất từ 0,5mm  
cho đến mức mà độ chênh cao đó không ảnh hưởng đến sự tác động  
giữa lốp xe và mặt đường. Có thể nói độ nhám vĩ mô là độ nhám của  
toàn bộ bề mặt đường và được hình thành bởi hình dáng, kích thước  
của các hạt cốt liệu lộ ra trên bề mặt đường.  
+ Nhám vi mô (nhám mịn-microtexture) được định nghĩa là độ  
chênh cao giữa bề mặt đường so với mặt phẳng chuẩn với các kích  
thước đặc trưng của bước sóng và biên độ nhỏ hơn 0,5mm. Có thể  
nói độ nhám vi mô là độ nhám, đồ xù xì bề mặt của hạt cốt liệu lộ ra  
trên mặt đường và thường khó nhìn thấy.  
2.1.2. Phân loại mặt đường theo độ nhám  
Để có một cách nhìn trực quan về cấu trúc nhám mặt đường có  
thể chia mặt đường theo cấu trúc nhám thành 4 loại như bảng 2.2.  
6
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhám của mặt đường  
Hỗn hợp bê tông nhựa mặt đường bao gồm vật liệu bitum; cốt  
ôtô  
liệu đá, cát và tỷ lệ phối hợp giữa cốt liệu và bitum. Như đã phân tích  
ở trên, có hai thành phần chính tạo nên sức kháng trượt của bề mặt  
đường là hai thành phần nhám vi mô và nhám vĩ mô, vì vậy dưới đây  
tiến hành phân tích các ảnh hưởng của các nhân tố trong hỗn hợp của  
bê tông nhựa đến hai thành phần đó.  
a. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhám vĩ mô  
- Diện tích cốt liệu thô nổi lên mặt đường: trong hỗn hợp bê  
tông nhựa thì cốt liệu lớn nhất nhô lên bề mặt đường là nơi mà lốp xe  
tiếp xúc nhiều nhất.  
- Hàm lượng nhựa trong hỗn hợp và hệ số đầm nén  
- Tính chịu mài mòn của cốt liệu  
- Hình khối góc cạnh của cốt liệu thô  
b. Các nhân tố ảnh hưởng đến độ nhám vi mô  
Có thể nói độ nhám vi mô là độ nhám, độ xù xì bề mặt của hạt  
cốt liệu. Khi đã có độ nhám vĩ mô tốt thì sức kháng trượt của bề mặt  
đường phụ thuộc chủ yếu vào độ nhám vi mô của hạt cốt liệu.  
2.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM CƠ BẢN XÁC ĐỊNH  
ĐỘ NHÁM VÀ SỨC KHÁNG TRƯỢT CỦA MẶT ĐƯỜNG  
Các phương pháp thí nghiệm để đánh giá độ nhám và sức  
kháng trượt của mặt đường được chia thành 3 nhóm:  
- Nhóm thiết bị thí nghiệm đánh giá thuộc tính cốt liệu  
- Nhóm thiết bị xác định độ nhám bề mặt đường  
- Nhóm thiết bị xác định sức kháng trượt khi xe chạy trên  
đường  
7
Sau đây sẽ xem xét cụ thể từng nhóm và phương pháp xác  
định.  
2.2.1. Các thí nghiệm về vật liệu  
a. Thí nghiệm đánh bóng mặt đá PSV (Polish Stone Value  
Test, ASTM D3319)  
b. Thí nghiệm độ mài mòn Los Angeles (chỉ số LA)  
2.2.2. Các thí nghiệm đánh giá độ nhám mặt đường tại  
hiện trường  
a. Phương pháp đánh giá độ nhám vĩ mô  
- Phương pháp “bánh đa – rắc cát”:[TCVN6688-2011]  
- Thiết bị MTM (Mini Texure Meter) đo “chiều sâu” cấu trúc  
bề mặt.  
- Thiết bị đo cấu trúc tốc độ cao HSTM (High- Speed Texure  
Meter)[ASTM-E965]  
b. Phương pháp đánh giá nhám vi mô  
Thí nghiệm xác định độ nhám bằng Con lắc Anh British  
Pendulum Tester ASTM D403  
c. Các thí nghiệm đánh giá sức kháng trượt của mặt đường  
khi xe chạy  
- Phương pháp đo cự ly hãm xe [ASTM-E445-88].  
- Phương pháp thí nghiệm lực trượt xiên (Sideway – force  
test)[ASTM E670-09]:  
2.3. CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI MẶT ĐƯỜNG THIẾT KẾ TẠO  
NHÁM  
2.3.1. Yêu cầu về sức kháng trượt SFC [ASTM E274-11]  
Trên cơ sở nhiều năm nghiên cứu, các tác giả Anh đã đề xuất một  
bảng quy định giá trị hệ số lực kháng trượt xiên SFC tối thiểu tại tốc độ  
50 km/h tương ứng với các loại đường và tỷ lệ rủi ro ở phụ lục 2.1.  
8
2.3.2. Yêu cầu với độ mài mòn Los Angeles (LA)  
Mặc dù hai chỉ tiêu Los Angeles không phải là chỉ tiêu trực  
tiếp liên quan tới sức kháng trượt, nhưng hỗn hợp vật liệu bê tông  
nhựa làm lớp tạo nhám, ngoài chức năng duy trì một sức kháng  
trượt cao còn cần thiết phải có đủ độ bền. Chính vì vậy, trong việc  
tuyển chọn hỗn hợp bê tông nhựa tạo nhám, chỉ tiêu LA cũng được  
chú trọng.  
Thông thường, quy định với lớp tạo nhám LA ≤ 20 [AASHTO T96].  
2.3.3. Yêu cầu về sức kháng bóng của cốt liệu PSV [ASTM  
D3319]  
Như đã phân tích ở trên, chỉ số kháng bóng PSV là một  
trong những chi tiêu cơ bản có liên quan đến khả năng chống  
trượt của mặt đường.  
Trên cơ sở thực nghiệm, một tương quan giữa giá trị sức  
chống trượt ngang – SFC, lưu lượng xe cộ- N và PSV được thiết lập.  
Trên cơ sở đó, giá trị PSV cần thiết yêu cầu để đạt được SFC cần  
thiết tương ứng với các giá trị khác nhau của lưu lượng xe cộ được  
đưa ra ở bảng 2.5.  
2.3.4. Yêu cầu với chỉ số chiều sâu trung bình cát H và chỉ  
số SRT  
Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở nước Anh đã rút ra quy  
định giá trị chiều sâu trung bình rắc cát (H) và chỉ số sức kháng trượt  
đo bằng con lắc Anh xách tay (SRT) nhỏ nhất tương ứng với các loại  
hình đường ở bảng 2.6.  
2.3.5. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng mặt đường thông qua  
chỉ số sức kháng trượt quốc tế IFI [ASTM E1960-07]  
a. Quy định chung  
b. Một số ưu điểm của chỉ số IFI  
9
c. Phương trình cơ bản của chỉ số IFI  
d. Ứng dụng của IFI trong quản lý chất lượng mặt đường  
e. Các thiết bị đo IFI  
f. Trình tự tiến hành đo IFI  
2.4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Thiết kế tăng nhám bề mặt đường ôtô phải được tiến hành  
đồng bộ từ khâu tuyển chọn vật liệu đá, nhựa, công nghệ xây dựng  
và công nghệ đánh giá. Việc xem nhẹ bất kỳ một khâu nào của quá  
trình thiết kế tăng nhám sẽ dễ xảy ra tình trạng lớp phủ nhám hoặc  
không đạt các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu, hoặc dẫn tới tuổi thọ của lớp  
tăng nhám không cao. Để có một công nghệ thiết kế tăng nhám mặt  
đường ôtô hoàn chỉnh, cần phải đầu tư nghiên cứu các lĩnh vực sau:  
1. Thí nghiệm trong phòng: Nên nhập thiết bị thí nghiệm xác  
định độ kháng bóng của cốt liệu đá PSV (Polised Stone Value Test)  
để sử dụng đánh giá các cốt liệu đá của các mỏ ở Việt Nam.  
2. Thí nghiệm hiện trường: Nên nhập thiết bị thí nghiệm xác  
định độ nhám mặt đường ở hiện trường có năng suất và tốc độ chính  
xác cao, cụ thể như:  
- Thiết bị thí nghiệm lực trượt xiên (Sideway-force test) nhằm  
xác định sức kháng trượt của mặt đường;  
- Thiết bị đo cấu trúc bề mặt tốc độ cao HSMT (High-Speed  
Texture Meter) của Viện nghiên cứu Vận tải và Đường bộ Anh  
(TRRL) nhằm xác định cấu trúc nhám của mặt đường ôtô với tốc  
độ cao.  
10  
CHƯƠNG 3  
ĐÁNH GIÁ ĐỘ NHÁM TUYẾN TRÁNH ĐÀ NẴNG  
3.1. TỔNG QUAN VỀ TUYẾN TRÁNH ĐÀ NẴNG  
Tuyến đường tránh Nam Hầm Hải Vân - Túy Loan đi qua địa  
phận quận Liên Chiểu và huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Công trình  
được đi vào khai thác và vận hành vào ngày 19/4/2008 với chiều  
rộng mặt cắt ngang đường là 12m với 2 làn xe, đường cấp III, lưu  
lượng xe N>3.000 xcqd/ng.đ với thành phần dòng xe chủ yếu là xe  
khách vận chuyển và xe cơ giới, được quản lý và vận hành bởi Khu  
quản lý đường bộ 5. Tuyến đường tránh Nam Hải Vân được xây dựng  
nhằm giảm tải lưu lượng xe đi qua Quốc lộ 1A, đi vào thành phố Đà  
Nẵng, rút ngắn hành trình lưu thông xe, tiết kiệm được nhiên liệu.  
3.2. HIỆN TRẠNG VỀ TUYẾN TRÁNH ĐÀ NẴNG  
3.2.1. Rạn nứt mặt đường bê tông nhựa  
a. Nứt dọc theo hướng xe chạy  
Trên mặt đường xuất hiện các vết nứt song song với tim  
đường, được hình thành ngoài vệt bánh xe và không chịu tải trọng  
thường xuyên. Vết nứt xuất hiện dài ngắn khác nhau phân bố tập  
trung hoặc rải rác, phần lớn là tại vị trí các mối nối thi công. Các vết  
nứt này làm cho nước có điều kiện thâm nhập vào kết cấu áo đường  
và móng nền đường, lâu ngày gây hư hỏng kết cấu.  
11  
Hình 3.1. Nứt dọc theo hướng xe chạy  
b. Nứt ngang  
Trên mặt đường xuất hiện các vết nứt dài, ngắn theo phương  
vuông góc với tim đường, đây là loại vết nứt gây ra do nhiệt.  
Hình 3.2 Nứt ngang theo hướng xe chạy  
c. Nứt khối, nứt dạng lưng cá sấu  
Các vết nứt tập trung dày, nối với nhau và chia mặt đường  
thành những mảnh có hình thù và kích thước khác nhau. Mỗi khối có  
kích thước xấp xỉ từ 0,1m2 đến 0.9m2. Nứt khối thông thường xuất  
hiện ở khu vực mặt đường có tỉ lệ xe chạy lớn nhưng đôi khi sẽ chỉ  
xuất hiện ở khu vực không lưu thông và ở mép mặt đường với diện  
12  
tích từ vài chục mét vuông đến vài trăm mét vuông. Các vết nứt làm  
cho nước thâm nhập vào kết cấu áo đường.  
Hình 3.3. Nứt khối trên bề mặt đường  
Hình 3.4. Nứt trên bề mặt đường dạng lưng cá sấu  
3.2.2. Bong tróc cốt liệu và thành phần liên kết  
Hiện tượng bong tróc các hạt cốt liệu trong thành phần hỗn  
hợp BTN là hiện tượng khá phổ biến, kể cả những công trình đường  
mới thi công được một thời gian ngắn. Diễn biến của hiện tượng này  
thường xảy ra trong một thời gian dài, ban đầu thành phần nhựa liên  
kết dưới tác động của nhiều yếu tố đã mất khả năng liên kết, lâu dần  
13  
dẫn đến liên kết giữa các hạt cốt liệu giảm dần theo thời gian và bong  
bật khi có ngoại lực tác động.  
Hình 3.5. Bong tróc cốt liệu tạo lổ hổng  
3.2.3. Hằn lún vệt bánh xe  
Hình 3.5a. Hằn lún vệt bánh xe  
Ở địa bàn TP Đà Nẵng, trên tuyến đường quốc lộ 14B, đường  
Tôn Đức Thắng (QL1A đi qua TP Đà Nẵng), đường tránh Nam Hải  
Vân…là những tuyến đường có lưu lượng xe tải nặng, xe khách hoạt  
động với cường độ cao. Theo đánh giá thực tế trên các tuyến này tình  
14  
trạng hằn lún vệt bánh xe là khá phổ biến, tần xuất dày đặc và chiều  
sâu hằn lún là khá lớn trung bình từ 5-20cm.  
Từ các vấn đề nhìn nhận thực tế và phân tích, ta có thể sơ bộ  
xác định hiện tượng hằn lún vệt bánh xe xảy ra bởi các nguyên nhân  
cơ bản:  
- Bản chất mặt đường BTN luôn mẫn cảm với nhiệt độ, dưới  
tác dụng của nhiệt độ cao về mùa nắng nóng nên BTN hóa mềm, khi  
chịu tác dụng đồng thời của tải trọng xe cộ đã làm phát sinh biến  
dạng không hồi phục, theo thời gian đã gây ra hiện tượng lún theo  
vệt bánh xe và nứt dọc trên bề mặt bê tông nhựa do biến dạng vượt  
quá giới hạn đàn hồi.  
- Kết cấu nền đường không đảm bảo độ chặt, dẫn đến lún tại vị  
trí vệt xe chạy, kéo theo mặt đường BTN lõm xuống theo thời gian.  
- Cấp phối thiết kế mặt đường BTN chưa hợp lý với đặc thù  
thời tiết và tải trọng lưu thông thường xuyên.  
- Phương tiện lưu thông thường xuyên vượt quá tải trọng cho  
phép.  
Cũng cần nói thêm, đối với mặt đường BTN, biến dạng lún  
vệt bánh xe là không thể tránh khỏi, nhiều nghiên cứu về vấn đề cải  
tiến độ bền BTN cho thấy kết quả chỉ đem lại là: “Dưới cùng một  
lưu lượng xe, BTN có độ bền cao thì chiều sâu lún nhỏ hơn và tốc  
độ gây lún vệt xe kéo dài hơn, chứ không thể triệt tiêu được lún vệt  
bánh xe”.  
3.3. ĐO ĐẠC XÁC ĐỊNH ĐỘ NHÁM BẰNG PHƯƠNG PHÁP  
RẮC CÁT  
Sử dụng phương pháp rắc cát để đánh giá độ nhám vĩ mô của  
mặt đường bê tông nhựa là phương pháp thí nghiệm, với dụng cụ  
đơn giản và dễ thực hiện, được sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Để đánh  
15  
giá được độ nhám hoàn chỉnh thì cần phải kết hợp cả hai phương  
pháp thí nghiệm đó là phương pháp rắc cát và con lắc Anh. Có như  
vậy mới xác định được cả độ nhám vĩ mô và vi mô của mặt đường.  
Vì điều kiện dụng cụ thí nghiệm còn hạn chế, tác giả chỉ đan giá độ  
nhám vĩ mô. Đây là hạn chế về mặt đề tài của tác giả.  
3.3.1. Chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm  
3.3.2. Tiến hành thí nghiệm  
3.3.3. Kết quả đo đạc độ nhám tại hiện trường  
Tổng hợp kết quả thí nghiệm đo độ nhám mặt đường bằng  
phương pháp rắc cát  
- Vị trí thí nghiệm: Tuyến đường tránh Đà Nẵng  
- Ngày thí nghiệm: 09/5/2015  
- Loại mặt đường: Mặt đường bê tông nhựa  
Bảng kết quả đo độ nhám tuyến tránh Đà Nẵng được thể hiện  
ở phụ lục 3.1.  
3.4. NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ  
Qua các kết quả xác định độ nhám thực nghiệm ta có thể rút ra  
một số kết luận sau:  
- Độ nhám đoạn tuyến đo bằng phương pháp rắc cát nằm  
trong khoảng từ 0,25 đến 0,45. Điều này cho thấy mặt đường hiện  
tại vẫn nhẵn chỉ đảm bảo đi với vận tốc nhỏ hơn 80km/h (theo  
TCVN6688-11)  
- Mặt đường tương đối nhẵn nhưng trong quá trình đo đạc thí  
nghiệm tác giả nhận thấy có rất nhiều xe chạy vượt vận tốc 80km/h,  
mặt đường có nhiều hư hỏng, tình trạng mặt đường xấu, bị trơn trượt  
có khả năng xảy ra tai nạn giao thông. Tình trạng xe tải với tải trọng  
16  
nặng chở vật liệu xây dựng lưu thông trên tuyến nhiều làm mặt  
đường hư hỏng với các dạng hư hỏng như: Hằn lún vệt bánh xe, nứt  
mặt đường.  
- Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả mới sử dụng thí  
nghiệm “rắc cát” để đo, số lượng điểm đo khoảng 10 điểm/ 1km  
đường để đánh giá độ nhám vĩ mô, phương pháp này thiết bị thí  
nghiệm đơn giản và dễ chuẩn bị so với các phương pháp thí nghiệm  
đánh giá độ nhám vĩ mô khác.  
- Để đánh giá được độ nhám hoàn chỉnh thì cần phải kết hợp  
cả hai phương pháp thí nghiệm đó là phương pháp rắc cát và con lắc  
Anh. Có như vậy mới xác định được cả độ nhám vĩ mô và vi mô của  
mặt đường. Đây là hạn chế về mặt đề tài của tác giả.  
- Qua khảo sát thực tế, hầu hết nhiều xe tải lớn chở vạt liệu  
xây dựng và chở khách, chạy trên đường với vận tốc trung bình lớn  
hơn 80 km/h. Trong tương lai nếu nâng cấp hoặc cải tạo tuyến đường  
tránh này, tác giả kiến nghị sử dụng công nghệ tạo nhám thích hợp  
để bổ sung vào trong quá trình thi công, nhằm năng cao độ nhám và  
an toàn khi xe chạy.  
17  
CHƯƠNG 4  
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘ NHÁM MẶT  
ĐƯỜNG TUYẾN TRÁNH ĐÀ NẴNG  
Ở các phần trên đã phân tích về bản chất độ nhám mặt  
đường, các nhân tố ảnh hưởng đến sức kháng trượt của bề mặt  
đường, vai trò của chúng và những nguyên nhân gây mất sức chống  
trượt ở đường tốc độ cao.  
Thông qua đó, chúng ta cần phải đưa ra các giải pháp công  
nghệ tăng cường độ nhám của bề mặt đường. Việc thiết kế tạo nhám  
tăng cường sức chống trượt cho mặt đường mới cũng như mặt đường  
cũ đang khai thác là một yêu cầu kỹ thuật quan trọng của mặt đường  
ô tô hiện đại, nhằm góp phần đảm bảo an toàn cho xe chạy ở tốc độ  
4.1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐỘ NHÁM MẶT  
ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA  
4.1.1. Giải pháp 1: Lớp phủ mỏng bê tông nhựa cấp phối  
hở dùng nhựa đặc biệt [ASTM D139]  
* Mục đích  
Công nghệ lớp phủ mỏng tạo nhám là lớp phủ bê tông nhựa  
hở, sử dụng nhựa cải thiện, có chiều dày không vượt quá 20mm.  
Lớp phủ mỏng này do sử dụng cốt liệu và nhựa có chất lượng  
cao nên đủ khả năng chịu được những tác động của xe cộ và thời tiết,  
tạo được sức kháng trượt cao để tăng độ an toàn chạy xe và ngăn  
ngừa được nước mặt xâm nhập vào móng đường. Cấp phối cốt liệu  
hở nhằm tăng cường sức kháng trượt, thành phần chất kết dính đặc  
18  
biệt làm tăng sức chống lão hóa và chống nứt gãy dẫn tới làm tăng  
chất lượng và độ bền của lớp mặt.  
4.1.2. Giải pháp 2: Công nghệ cấy đá (Chipping) [ 17]  
* Mục đích  
Công nghệ này được hiểu là dùng một lớp đá có bọc nhựa cấy  
găm vào lớp mặt đường bê tông nhựa có cốt liệu kháng trượt yếu  
(như đá vôi). Đây là biện pháp rất kinh tế để tạo sức kháng trượt cho  
loại mặt đường bê tông nhựa dễ bị mài bóng.  
a. Công nghệ cấy đá trên mặt đường bê tông nhựa cũ đang  
khai thác  
b. Công nghệ cấy đá trên mặt đường mới  
4.1.3. Giải pháp 3: Hỗn hợp cấp phối chặt có tỷ lệ hạt thô lớn  
* Mục đích  
Giải pháp này được hiểu là một lớp bê tông nhựa có hỗn hợp  
cấp phối chặt mà kích thước của các viên đá tuân theo một quy luật  
nhất định để tạo nên một độ rỗng nhỏ với mục đích là để tăng khả  
năng chịu lực của mặt đường.  
4.2. ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP TẠO NHÁM  
Mục đích của các giải pháp công nghệ tạo nhám kể trên là phải  
tạo nên một cấu trúc bền mặt đường đảm bảo đủ độ nhám vi mô mà  
nhám vĩ mô cần thiết tương ứng với tốc độ xe chạy. Như đã phân tích  
ở trên, các giải pháp tăng cường nhám phải đảm bảo chiều sâu rắc cát  
H ≥ 0.65 mm; Giá trị kháng trượt đo bằng con lắc Anh SRT ≥ 65.  
Thông thường, việc tăng cường nhám mặt đường làm cho giá  
thành công trình đắt hơn (bù vào đó tai nạn giao thông giảm đi),  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 22400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu đánh giá và đề xuất một số giải pháp nâng cao độ nhám mặt đường của tuyến đường tránh Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_danh_gia_va_de_xuat_mot_so_giai.pdf