Luận văn Nghiên cứu mã không gian – thời gian phân tán cho hệ thống vô tuyến chuyển tiếp hợp tác

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
-------***-------  
NGUYỄN ĐÌNH THÁI  
NGHIÊN CỨU MÃ KHÔNG GIAN – THỜI GIAN  
PHÂN TÁN CHO HỆ THỐNG VÔ TUYẾN  
CHUYỂN TIẾP HỢP TÁC  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT  
( Theo định hướng ứng dụng)  
Hà Nội - 2020  
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
-------***-------  
NGUYỄN ĐÌNH THÁI  
NGHIÊN CỨU MÃ KHÔNG GIAN – THỜI GIAN  
PHÂN TÁN CHO HỆ THỐNG VÔ TUYẾN  
CHUYỂN TIẾP HỢP TÁC  
Chuyên ngành: Kỹ thuật viễn thông  
Mã số: 8.52.02.08  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT  
( Theo định hướng ứng dụng)  
NGƯỜI HƯỜNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS. VŨ VĂN SAN  
Hà Nội - 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.  
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai  
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Học viên  
Nguyễn Đình Thái  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn này đã khép lại quá trình học tập, nghiên cứu của học viên tại Học  
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Học viên xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới  
Thầy hướng dẫn, PGS.TS. Vũ Văn San đã định hướng nghiên cứu và tận tình giúp  
đỡ, trực tiếp chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Đồng thời học viên cũng  
xin bày tỏ lòng biết ơn Lãnh đạo Học viện, các thầy cô của Khoa Đào tạo Sau Đại  
học, Khoa Viễn thông 1 tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.  
Trân trọng!  
Hà Nôi, tháng năm 2020  
Học viên  
Nguyễn Đình Thái  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
vi  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Viết tắt  
4G  
Tiếng Anh  
Tiếng Việt  
The Fourth Generation  
Hệ thống thông tin di động  
thế hệ thứ 4  
AF  
Amplify and Forward  
Khuếch đại và chuyển tiếp  
Additive White Gaussian Noise Tạp âm trắng cộng tính  
AWGN  
Gauss  
CF  
CR  
Compress-and- Forward  
Cognitive Radio Systems  
Cooperative Relay Network  
Nén và chuyển tiếp  
Mạng vô tuyến nhận thức  
Vô tuyến chuyển tiếp hợp  
tác  
CRN  
DF  
Decode and Forward  
Distributed Space-Time  
Coding  
Giải mã và chuyển tiếp  
Mã không gian-thời gian  
phân tán  
DSTC  
DT  
FD  
HD  
Direct Transmission link  
Kênh truyền trực tiếp  
Song công  
Full Duplex  
Half Duplex  
Bán song công  
International Mobile  
Telecommunications  
Imperfect Frequency  
synchronization  
Chuẩn truyền thông di động  
quốc tế  
IMT  
IPF  
Không đồng bộ tần số  
ImPerfect Time  
Không đồng bộ thời gian  
IPT  
synchronization  
IRI  
ISI  
Inter-Relay Interference  
Nhiễu chuyển tiếp  
Nhiễu liên kí hiệu  
Inter-Symbol Interference  
Long Term Evolution  
Các hệ thống phát triển dài  
hạn tiên tiến  
LTE  
LTE-A  
MIMO  
LTE Advanced  
Multiple-Input Multiple-  
Output  
Chuẩn LTE tiên tiến  
Truyền dẫn đa đầu vào đa  
đầu ra  
 
vii  
ML  
Maximum-Likelihood  
Giải mã hợp lý cực đại  
Kết hợp tỉ số cực đại  
MRC  
Maximum Ratio Combining  
OD  
Orthogonal designs  
Orthogonal DSTC  
Thiết kế mã trực giao  
Mã DSTC trực giao  
O-DSTC  
Orthogonal-Space Time Block Mã khối không gian-thời  
OSTBC  
PEP  
Coding  
gian trực giao  
Pairwise error probability  
Perfect Frequency  
synchronization  
Xác suất lỗi theo cặp  
Đồng bộ hoàn hảo  
về tần số  
PF  
Đồng bộ hoàn hảo  
về thời gian  
PT  
Perfect Time synchronization  
QOD  
QO-DSTC  
QO-STBC  
RF  
Quasi-Orthogonal Designs  
Quasi-Orthogonal DSTC  
Quasi-Orthogonal STBC  
Radio Frequency  
Thiết kế cận trực giao  
Mã DSTC cận trực giao  
Mã STBC cận trực giao  
Tần số vô tuyến  
Spatial Division Multiplexing  
Ghép kênh phân chia theo  
không gian  
SDM  
SISO  
SNR  
Single Input Single Output  
Signal-to-Noise Ratio  
Space-Time Block Coding  
Space-Time Code  
Đơn đầu vào, đơn đầu ra  
Điện toán đám mây  
Mãkhốikhônggian-thờigian  
Mã không gian- thời gian  
Bộ mã hóa không gian thời  
gian  
STBC  
STC  
SpaceTime Encoder  
STE  
WAdN  
WiFi  
Wireless Ad hoc Network  
Wireless Fidelity  
Mạng tùy biến không dây  
Mạng cục bộ vô tuyến  
Worldwide interoperability for Hệ thống tương thích toàn  
WiMAX  
WSN  
Mircrowave Access  
cầu qua truy nhập vi-ba  
Mạng cảm biến không dây  
Wireles Sensor Network  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
Ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ điện tử viễn thông và công  
nghệ thông tin, tốc độ phát triển của các mạng di động cũng như nhu cầu của người  
dùng về các dịch vụ vô tuyến tăng rất nhanh. Tuy nhiên, chất lượng của các kênh  
truyền thông vô tuyến thường có tính chất không ổn định, biến đổi ngẫu nhiên theo  
không gian và thời gian. Trong các nguyên nhân tác động đến phẩm chất kênh truyền  
vô tuyến, có thể nói pha-đinh vô tuyến, đặc biệt là hiện tượng truyền sóng đa đường  
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng tổng thể của hệ thống truyền thông không  
dây. Việc cải thiện chất lượng tín hiệu và giảm lỗi của kênh truyền vô tuyến dưới sự  
ảnh hưởng của pha-đinh là việc vô cùng khó khăn; kèm theo đó là ảnh hưởng của  
nhiễu Gauss (AWGN) đến chất lượng tín hiệu. Đồng thời, chúng ta cũng không thể sử  
dụng công suất phát cao hơn hoặc bổ mở rộng băng thông vì điều đó đi ngược lại với  
yêu cầu của hệ thống thế hệ tiếp theo.  
Phương thức truyền dẫn đa đầu vào đa đầu ra (MIMO: Multiple-Input  
Multiple-Output) là một giải pháp hiệu quả hạn chế những tác động tiêu cực của hiện  
tượng pha-đinh đa đường và khai thác hiệu quả đặc tính không tương quan của các  
kênh truyền vô tuyến trong môi trường pha-đinh giàu tán xạ, nâng cao chất lượng  
truyền tin. Khái niệm mã không gian-thời gian phân tán DSTC đầu tiên được Y. Jindi  
và H. Jafarkhani [3] áp dụng ý tưởng mã không gian-thời gian (Space-Time Code:  
STC) trong hệ thống MIMO điểm-điểm lên mạng vô tuyến chuyển tiếp hợp tác, giúp  
cho các thiết bị đơn ăng-ten vẫn có thể đạt được tăng ích phân tập không gian tương  
tự như hệ thống đa ăng-ten.  
Luận văn nghiên cứu lý thuyết mã không gian-thời gian, mã không gian - thời  
gian phân tán và mã không gian-thời gian phân tán trực giao (O-DSTC) trong mạng  
vô tuyến chuyển tiếp hợp tác đồng thời phân tích và đánh giá hiệu năng hệ thống khi  
sử dụng mã O-DSTC để đưa ra nhận xét và so sánh với các loại mã trước đó.  
Nội dung luận văn “Nghiên cứu mã không gian - thời gian phân tán cho hệ  
thống vô tuyến chuyển tiếp hợp tác” gồm có 3 chương:  
Chương 1: Tổng quan về truyền thông vô tuyến chuyển tiếp hợp tác  
Chương 2: Mã không gian thời gian phân tán cho hệ thống vô tuyến  
chuyển tiếp hợp tác  
Chương 3: Đánh giá hiệu năng mã không gian-thời gian phân tán trực giao  
 
2
CHƯƠNG IEquation Section (Next)  
TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG VÔ TUYẾN  
CHUYỂN TIẾP HỢP TÁC  
1.1. Hệ thống truyền dẫn đa đầu vào đa đầu ra MIMO  
1.1.1 Hệ thống truyền dẫn MIMO điểm-điểm  
Trong hệ thống truyền thông không dây, giới hạn của hiệu năng hệ thống luôn  
nằm ở lớp vật lý, do dung lượng có thể truyền bị giới hạn bởi độ khả dụng của phổ  
tần số, định luật truyền sóng vô tuyến và lý thuyết thông tin. Ba phương pháp cơ bản  
để tăng hiệu năng của mạng vô tuyến đó là: tăng mật độ triển khai các điểm truy cập  
(tức là tăng hệ số sử dụng lại tần số); bổ sung thêm băng tần hoặc áp dụng kỹ thuật  
tăng hiệu suất sử dụng phổ[2]. Do việc triển khai thêm các điểm truy cập cũng như  
cấp phát dải tần mới là tốn kém và không dễ dàng, nên nhu cầu tối đa hóa hiệu suất  
phổ trên một băng tần cho trước là điều tất yếu. Kỹ thuật MIMO (nhiều đầu vào nhiều  
đầu ra) là phương pháp khả thi nhất để cải thiện hiệu suất phổ bằng cách sử dụng  
chiều không gian.  
Hình 1.1: Mô hình hệ thống MIMO điểm-điểm  
Truyền dẫn MIMO hay kỹ thuật phân tập không gian đa ăng-ten trong truyền  
thông vô tuyến là một giải pháp hiệu quả chống lại ảnh hưởng của hiện tượng pha-  
đinh đa đường. Ba lợi ích cơ bản nhất của kỹ thuật truyền dẫn MIMO điểm-điểm đó  
là tăng ích phân tập (diversity gain), tăng ích mảng (array gain) và tăng ích ghép kênh  
           
3
(multiplexing gain) mà không yêu cầu tăng thêm băng thông cũng như công suất  
phát[2]. Hệ thống MIMO yêu cầu trang bị đa ăng-ten ở cả máy phát và máy thu. Hình  
1.1 minh họa hệ thống truyền dẫn MIMO điểm-điểm thông thường.  
MIMO là các hệ thống truyền dẫn vô tuyến sử dụng đồng thời cả phân tập phát  
s
và thu với N ăng-ten phát và M ăng-ten thu như ở Hình 1.1. Chuỗi tín hiệu phát  
n   
được mã hóa theo cả hai miền không gian (theo hướng các ăng-ten phát) và thời gian  
nhờ bộ mã hóa không gian thời gian (STE: SpaceTime Encoder). Tín hiệu sau khi  
ˆ
s
được mã hóa không gian-thời gian (KG-TG)  
được phát đi nhờN ăng-ten phát.  
n
Máy thu sử dụng phân tập thu với M ăng-ten thu. Kênh tổng hợp giữa máy phát (Tx)  
và máy thu (Rx) có N đầu vào và M đầu ra, và vì vậy, được gọi là kênh MIMO M×N.  
Kênh truyền giữa các ăng-ten máy phát (Tx) và ăng-ten máy thu (Rx) được gọi là một  
kênh đa đầu vào, đầu ra MIMO. Một hệ thống truyền dẫn trên kênh MIMO được gọi  
là hệ thống truyền dẫn MIMO [1].  
Kênh truyền đơn giữa ăng-ten máy thu m∈ {1, 2,...,M} và ăng-ten máy phát  
n∈ {1, 2,...,N} được ký hiệu là hmn. Tương tự như các hệ thống phân tập phát hoặc  
thu để tránh ảnh hưởng giữa các ăng-ten phát hoặc các ăng-ten thu với nhau khoảng  
cách yêu cầu tối thiểu giữa các phần tử ăng-ten ở các mảng ăng-ten phát hoặc thu là  
λ/2. Thực tế khoảng cách này cần phải lựa chọn vào khoảng vài bước sóng. Kênh  
MIMO trong trường hợp này được gọi là kênh MIMO không tương quan  
(uncorrelated MIMO channel). Trong trường hợp pha-đinh Rayleigh bằng phẳng  
(flatfading) không có tương quan, hmn được mô hình hóa bằng một biến số Gauss  
phức có giá trị trung bình 0 và phương sai 1. Một kênh MIMO gồm N ăng-ten phát  
và M ăng-ten thu thường được biểu diễn bởi một ma trận số phức gồm M hàng và N  
cột như sau:  
h
h12  
h21  
11  
(1.1)  
h21  
H   
hM 1 hM 1  
Định nghĩa các véc-tơ phát, thu và tạp âm tương ứng là:  
4
s s , s ,
1
2
(1.2)  
(1.3)  
y y , y ,
1
2
z z , z ,
1
2
ta có mối quan hệ giữa tín hiệu thu và phát biểu diễn qua phương trình sau:  
y = Hs + z  
Ở đây, tổng công suất phát trung bình trong một chu kỳ tín hiệu được giới hạn  
bằng PT cho bất kỳ số lượng ăng ten phát N nào. Điều đó có nghĩa là, ma trận tương  
quan (covariance matrix) của s, Rss = E{ssH}, thỏa mãn điều kiện:  
trace(Rss) = PT  
(1.4)  
trong đó trace(A) là "vết" của ma trận A được tính bằng tổng tất cả các phần tử nằm  
trên được chéo chính của A; z là véc-tơ tạp âm với các phần tử zm được mô phỏng bởi  
các biến số phức Gauss độc lập có phân bố như nhau và có cùng công suất trung bình σ2,  
tức là, E zz H  
  
z2 IM , trong đó IM biểu diễn một ma trận đơn vị với M hàng và M cột.  
1.1.2 Dung lượng kênh truyền MIMO  
Dung lượng kênh truyền (channel capacity) được định nghĩa là tốc độ có thể  
truyền dẫn tối đa với một xác suất lỗi tương đối nhỏ nào đó. Dung lượng của một  
kênh truyền chịu ảnh hưởng của tạp âm nhiễu cộng trắng Gauss theo định lý Shannon  
được tính như sau:  
CSISO= W log2(1 + ρ∣h∣2) [bits/s]  
(1.5)  
trong đó W là băng tần của kênh truyền tính bằng Hz và ρ|h|2 chính là tỉ số tín hiệu  
trên tạp âm (SNR) tại đầu vào máy thu. Từ các công thức trên chúng ta thấy rằng với  
một kênh vô tuyến có độ rộng băng tần nhất định không sử dụng phân tập không gian  
(SISO: Single Input Single Output) thì dung lượng kênh truyền tỉ lệ với SNR ở đầu  
vào máy thu theo luật logarith. Vì vậy, muốn tăng dung lượng kênh truyền thì chỉ có  
cách tăng công suất phát. Tuy nhiên, do mối quan hệ logarith nên dung lượng kênh  
truyền SISO tăng rất chậm [1].  
 
5
Dựa vào phương trình biểu diễn mối quan hệ giữa thu và phát, ta sử dụng  
phương pháp SVD (Singular Value Decomposition) chúng ta có thể phân tích ma trận  
H thành:  
H = UDVH  
(1.6)  
trong đó U và V là các ma trận đơn nhất (unitary), tức là UUH = UHU = IM và  
V VH = VHV = IN. D là một ma trận đường chéo với các giá trị không âm (≥ 0) trong  
đó các phần tử trên đường chéo là các giá trị căn bậc hai của các trị riêng (eigenvalue)  
của ma trận:  
H H H (M N )  
Φ   
(1.7)  
H
H H ( M N )  
Thay H ở (1.6) vào (1.2) ta có:  
y = UDVHs + z  
(1.8)  
Nhân hai vế của phương trình trên với UH chúng ta thu được phương trình  
tương đương:  
(1.9)  
y′ = Ds′ + z′  
trong đó y′ ≜ UHy, s′ ≜ VHs, và z′ ≜ UHz. Để ý rằng do D là một ma trận đường chéo  
với r = min(M,N) phần tử đầu tiên khác không, nên thông qua phép biến đổi SVD  
kênh MIMO đã được phân tích thành r kênh truyền song song hữu ích. N − r kênh  
còn lại không đóng vai trò hữu ích. Hình 1.2 minh họa mô hình kênh MIMO tương  
đương với các giá trị riêng tương ứng với biên độ của độ lợi của các kênh song song.  
Ký hiệu các trị riêng khác không của ma trận Φ là λi, ta có thể biểu diễn công thức  
(1.9) ở dạng r kênh song song như sau:  
yi i si zi , i 1, 2,, r  
(1.10)  
trong đó 휆푖 biểu diễn biên độ của độ lợi (tăng ích) kênh truyền tương đương thứ i.  
√
Dung lượng kênh truyền MIMO, vì vậy, là tổng dung lượng của r kênh song song.  
6
Hình 1.2: Mô hình kênh MIMO tương đương  
Giả sử công suất phát trên các ăng-ten phát là như nhau và được chuẩn hóa  
PT  
thành  
. Do s′i = VH(i, ∶)s = V(∶,i)s với A(i, ∶) và A(∶,i) tương ứng biểu diễn một  
N
véc-tơ xây dựng từ hàng i hay cột i của ma trận A. Do đó công suất thu tại kênh thứ  
i,i ≤ r, có thể tính được như sau:  
2
H
PR E  
iV (:, i)s  
V (:, i) E s H s V (:, i)  
i
i
PT  
r
(1.11)  
N
i PT r  
i PT r  
V (:, i)V (:, i)H  
N
N
trong đó V(,i) HV(∶,i) = 1 dựa trên tính chất của ma trận unitary.  
Tương tự, công suất tạp âm ở kênh i được tính như sau:  
2
H
H
PN E U (i,:)z  
U (:, i) E z H z U (:, i)  
i
(1.12)  
(1.13)  
rN 0  
2
H
2
rz U (i,:)U (i,:) rz  
Từ các công thức trên ta có thể tính được tỉ số SNR ở kênh i:  
i PT  
i  
2
Nz  
Thay ρi vào công thức Shannon chúng ta có:  
 
7
r
i PT  
2
z  
CM IM O W log 2 1   
(1.14)  
i1  
N
Từ công thức (1.14) ta thấy dung lượng của một kênh MIMO bằng tổng dung  
lượng của r kênh SISO mà mỗi một kênh có độ tăng ích công suất là λi và công suất  
PT  
phát  
. Điều này chứng tỏ rằng công nghệ MIMO cho phép một tuyến thông tin vô  
N
tuyến tạo ra được nhiều đường truyền tín hiệu khác nhau trong không gian nối liền  
giữa máy phát và máy thu. Do đó, kênh MIMO có hiệu suất phổ tần lớn hơn rất nhiều  
so với kênh SISO.  
Sử dụng ma trận Φ, công thức dung lượng kênh truyền MIMO có thể biểu diễn  
một cách tổng quát như sau:  
W log det I   
HH H [bits / s] neáu  
M N  
M N  
2
r
N
CM IM O  
(1.15)  
W log det I   
H H H [bits / s] neáu  
2
r
N
Dựa vào công thức trên đã chứng minh được rằng dunglượng kênh truyền tăng  
tuyến tính theo số ăng-ten phát hoặc thu và có thể đạt đến r, tức là số ăng-ten tối thiểu  
sử dụng ở phía thu hay phát.  
1.1.3 Các phương pháp truyền dẫn MIMO  
Kết quả nghiên cứu về dung lượng kênh truyền MIMO đã tạo ra một làn sóng  
nghiên cứu các kỹ thuật truyền dẫn nhằm đạt được dung lượng lý thuyết mong muốn.  
Tiếp theo công trình chung với Gans, Foschini [x] đề xuất một hệ thống truyền dẫn  
theo lớp kết hợp với mã hóa nhằm đạt được dung lượng kênh truyền mong muốn.  
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Foschini cho thấy dung lượng kênh truyền MIMO  
thực tế chỉ là một đường giới hạn trên có thể đạt được nhờ kết hợp các phương pháp  
mã hóa và thuật toán có độ phức tạp hay giữ chậm không có giới hạn. Vì vậy, để có  
được các hệ thống truyền dẫn MIMO hiệu quả có thể ứng dụng trong thực tế, các  
công trình nghiên cứu về MIMO đã tập trung vào việc đề xuất các phương pháp truyền  
 
8
dẫn thỏa mãn được sự cân bằng giữa độ lợi thu được từ kênh MIMO và độ phức tạp  
cần thiết[1]. Các phương pháp truyền dẫn này có thể phân loại thành hai nhóm sau:  
- Ghép kênh phân chia theo không gian (SDM: Spatial Division Multiplexing):  
phương pháp này tập trung vào việc gia tăng tốc độ truyền dẫn bằng cách truyền đồng  
thời một loạt các luồng tín hiệu độc lập qua các ăng-ten phát và sử dụng các máy thu  
có độ phức tạp thấp để duy trì tỉ số lỗi bít cho phép. Phương pháp này cho phép thu  
được độ tăng ích ghép kênh (multiplexing gain) lớn.  
- Mã không gian-thời gian (STC: Space-Time Codes): khác với phươngpháp  
ghép kênh theo không gian, mã không gian-thời gian kết hợp việc mã hóa giữa các  
luồng tín hiệu để tối đa hóa độ tăng ích phân tập (diversity gain) nhằm giảm thiểu tỉ  
số lỗi bít (BER).  
Các phương án truyền dẫn MIMO điểm-điểm thông thường gặp phải một số  
thách thức như:  
- Hệ thống MIMO điểm-điểm bị ảnh hưởng lớn do tổn hao đường truyền và  
hiện tượng bóng che vô tuyến. Trong đó, tín hiệu bị suy hao quá lớn khi truyền từ  
máy phát đến máy thu trong trường hợp khoảng cách truyền dẫn lớn hoặc sử dụng  
tần số vô tuyến ở tần số cao. Ảnh hưởng của bóng che vô tuyến thường được xếp  
chồng với tổn hao đường truyền và xảy ra khi xuất hiện các vật thể che chắn kích  
thước lớn nằm trong môi truyền sóng vô tuyến.  
- Yêu cầu đa ăng-ten tại các thiết bị đầu cuối làm tăng độ phức tạp và kích  
thước. Điều này gây ra sự khó khăn đối với các thiết bị cầm tay, các nút mạng trong  
mạng WAdN và WSN.  
- Các chuỗi tần số vô tuyến RF sử dụng để phát tín hiệu một cách đồng thời  
có giá thành cao và khó triển khai cho các phần tử trong mạng WadN và WSN [2].  
Những vấn đề nêu trên làm cho việc triển khai các phương án truyền dẫn  
MIMO trong thực tế gặp nhiều khó khăn như việc triển khai phân tập phát cho đường  
lên trong mạng thông tin di động tế bào hay thực hiện kỹ thuật phân tập không gian-  
thời gian điểm-điểm giữa các nút đầu cuối trong mạng.  
9
1.2. Hệ thống vô tuyến chuyển tiếp hợp tác  
1.2.1 Khái quát chung  
Phương thức truyền dẫn đa đầu vào-đa đầu ra MIMO là một giải pháp hiệu  
quả hạn chế những tác động tiêu cực của hiện tượng pha-đinh đa đường và khai thác  
hiệu quả đặc tính không tương quan của các kênh truyền vô tuyến trong môi trường  
pha-đinh giàu tán xạ, nâng cao chất lượng truyền tin. Tuy nhiên, yêu cầu trang bị đa  
ăng-ten tại các thiết bị đầu cuối của hệ thống MIMO làm tăng độ phức tạp và kích  
thước thiết bị. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp truyền dẫn thực tế như: khoảng  
cách vật lý giữa máy thu và máy phát quá xa; hệ thống sử dụng dải tần số vô tuyến  
siêu cao; xuất hiện các vật thể che chắn kích thước lớn trong môi trường truyền dẫn  
hoặc công suất phát xạ tín hiệu của máy phát bị hạn chế thì các giải pháp truyền dẫn  
MIMO điểm-điểm triển khai không có hiệu quả. Phương thức truyền dẫn vô tuyến  
chuyển tiếp hợp tác dựa trên nguyên tắc của chuyển tiếp vô tuyến, trong đó các thiết  
bị đầu cuối đơn ăng-ten nhờ sự trợ giúp chuyển tiếp tín hiệu của các nút (trạm) trung  
gian vẫn có thể nhận được những lợi ích tương tự như hệ thống MIMO điểm-điểm  
mà không gặp phải các hạn chế như các thiết bị đa ăng-ten. Phương thức truyền dẫn  
này thông qua sự hỗ trợ và cộng tác của các nút trung gian tạo nên mạng các ăng-ten  
ảo cho phép hệ thống nhận được tăng ích ghép kênh, tăng ích phân tập hay tăng ích  
mảng và được gọi là truyền thông hợp tác (cooperative communication) hay vô tuyến  
chuyển tiếp hợp tác (CRN: Cooperative Relay Network) [2].  
Truyền thông hợp tác có khả năng tăng dung lượng kênh truyền hoặc thông  
lượng truyền dẫn, mở rộng vùng phủ sóng, nâng cao phẩm chất hệ thống, giảm công  
suất phát trong khi vẫn đảm bảo vùng phủ sóng, giảm kích thước và giá thành thiết  
bị cũng như việc triển khai hệ thống mạng. Ngày nay, nhiều giải pháp kỹ thuật dựa  
trên truyền thông hợp tác đã và đang được khuyến nghị cho các hệ thống thông tin vô  
tuyến khác nhau như: chuẩn tiến hóa dài hạn (LTE: Long Term Evolution), chuẩn  
LTE tiên tiến (LTE-A: LTE Advanced) cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 4  
(4G: the Fourth Generation), chuẩn truyền thông di động quốc tế (IMT: International  
Mobile Telecommunications), các chuẩn IEEE 802.16j và IEEE 802.16m trong hệ  
   
10  
thống tương thích toàn cầu qua truy nhập vi-ba (WiMAX: Worldwide interoperability  
for Mircrowave Access), các chuẩn IEEE 802.11s và IEEE 802.11n cho các mạng  
cục bộ vô tuyến (WiFi: Wireless Fidelity), các mạng tùy biến không dây (WAdN:  
Wireless Adhoc Network), các mạng cảm biến không dây (WSN: Wireles Sensor  
Network) và các mạng vô tuyến nhận thức (CR : Cognitive Radio Systems). Cuối  
cùng, kỹ thuật chuyển tiếp vô tuyến hợp tác còn được xác định là một trong những  
giải pháp kỹ thuật đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều thách thức cho hệ thống thông tin  
di động thế hệ thứ 5 (5G: the fifth Generation).  
1.2.2 Mô hình hệ thống vô tuyến chuyển tiếp hợp tác  
Không giống như kỹ thuật truyền dẫn MIMO điểm-điểm truyền thống, truyền  
thông hợp tác cho phép các trạm (nút) trung gian trong môi trường truyền sóng vô  
tuyến có thể chia sẻ ăng-ten của mình cho các nút khác trong mạng sử dụng. Nhờ  
vậy, có thể cải thiện tăng ích phân tập hợp tác, tăng dung lượng truyền dẫn, mở rộng  
vùng phủ sóng, nâng cao phẩm chất hệ thống, giảm kích thước và giá thành triển khai  
mạng. Trong trường hợp tổng quát, quá trình truyền dẫn tín hiệu từ nút nguồn đến nút  
đích trong hệ thống vô tuyến chuyển tiếp hợp tác MIMO một chiều, hai chặng diễn  
ra trong hai pha truyền dẫn: i) pha quảng bá, nút nguồn phát tín hiệu một cách quảng  
bá, nút chuyển tiếp, nút đích hoặc cả hai nhận tín hiệu; ii) pha hợp tác, nút nguồn  
hoặc nút chuyển tiếp hoặc cả hai phát tín hiệu đến nút đích [2]. Hình 1.3 minh họa  
một số kịch bản quá trình truyền dẫn của một hệ thống truyền thông hợp tác điển  
hình, cụ thể như sau:  
- Kịch bản truyền dẫn thứ nhất được minh họa trong Hình 1.3 a). Pha thứ nhất,  
nút nguồn phát tín hiệu quảng bá đến các nút chuyển tiếp và nút đích. Pha thứ hai,  
nút nguồn và các nút chuyển tiếp phát tín hiệu đến nút đích. Nút đích sử dụng kỹ thuật  
kết hợp tỉ số cực đại (MRC: Maximum Ratio Combining) để kết hợp các phiên bản  
tín hiệu thu được trong cả hai pha truyền dẫn.  
- Kịch bản truyền dẫn thứ hai được minh họa như Hình 1.3 b). Quá trình truyền  
dẫn trong pha quảng bá giống như kịch bản truyền dẫn thứ nhất. Tuy nhiên, trong pha  
 
11  
thứ hai, các nút chuyển tiếp phát tín hiệu đến nút đích, còn nút nguồn chuyển sang  
chế độ im lặng.  
- Kịch bản truyền dẫn thứ ba như minh họa trong Hình 1.3 c). Quá trình truyền  
dẫn trong kịch bản này gần giống như kịch bản truyền dẫn thứ hai. Điểm khác biệt là  
nút đích chỉ thu tín hiệu từ nguồn trong pha hợp tác mà không thu tín hiệu trong pha  
quảng bá.  
-Hình 1.3d) minh họa kịch bản truyền dẫn thứ tư. Trong kịch bản này, không  
tồn tại kênh truyền trực tiếp (DT: Direct Transmission link) giữa nguồn và đích trong  
cả hai pha truyền dẫn. Quá trình truyền dẫn từ nút nguồn đến nút đích hoàn toàn dựa  
vào sự kết hợp chuyển tiếp tín hiệu nhờ sự trợ giúp của các nút chuyển tiếp.  
Hình 1.3: Một số kịch bản quá trình truyền dẫn từ nút nguồn đến nút đích trong  
truyền thông hợp tác MIMO  
Trong thực tế, kịch bản truyền dẫn thứ nhất và thứ tư thường được quan tâm  
nghiên cứu nhiều nhất. Kịch bản truyền dẫn thứ nhất cho phép hệ thống nhận được  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 61 trang yennguyen 20100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu mã không gian – thời gian phân tán cho hệ thống vô tuyến chuyển tiếp hợp tác", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_ma_khong_gian_thoi_gian_phan_tan_cho_he.pdf